Tài liệu Phân tích hạn chế của các loại hình bảo lãnh - Pdf 10

MỤC LỤC
I.MỞ ĐẨU 2
II.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG AGRIBANK 3
1.Lịch sử hình thành 3
2.Các hoạt động chung của ngân hàng Agribank 7
III.HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK 8
A.Giới thiệu chung 8
B.Các loại hình bảo lãnh tại ngân hàng Agribank 8
C.Rủi ro, hạn chế trong nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng 12
IV.GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ 14
A.Giải pháp 14
B.Một số kiến nghị 17
V.KẾT LUẬN CHUNG 19
I.MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triển
đáng kinh ngạc. Các hoạt động trao đổi hàng hóa, thương mại, dịch vụ không chỉ diễn
ra trong phạm vi lãnh thổ mà còn vươn ra tầm quốc tế. Hòa chung vào xu thế đó, hệ
thống các NHTM cũng không ngừng phát triển và mở rộng, bên cạnh các NHTM nhà
nước là sự xuất hiện của rất nhiều các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh và các
chi nhánh các ngân hàng nước ngoài. Trong bối cảnh này thì sự cạnh tranh là tất yếu mà
lĩnh vực cạnh tranh gay gắt nhất chính là lĩnh vực tín dụng truyền thống. Chính vì vậy,
các ngân hàng đã và đang phát triển rất nhiều các sản phẩm tín dụng mới từ lĩnh vực
này và bảo lãnh cũng không phải là ngoại lệ khi là thị trường mà rất nhiều ngân hàng
nhắm vào.
Do đó, việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng đang bùng nổ mạnh mẽ đem lại thu
nhập đáng kể cho các ngân hàng đồng thời cũng đóng vai trò xúc tác cho các hợp đồng
kinh tế được kí kết dễ dàng. Có thể chắc chắn các giao dịch thương mại lớn mà có yếu
tố nước ngoài tham gia thì đi kèm với các hợp đồng kinh tế bắt buộc phải có thêm hợp
đồng bảo lãnh của ngân hàng để tạo được sự tin tưởng tuyệt đối của khách hàng
2. Mục đích nghiên cứu.

Ngày 30/7/1994 Tại quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc ngân hàng nhà nước
chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam.
Trên cơ sở đó, Tổng giám đốc ngân hàng nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa bằng văn
bản số 927/TCCB/Ngân hàng nông nghiệp ngày 16/8/1994 xác định ngân hàng nhà
nước Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh. Đây thực sự là
bước ngoặc về tổ chức bộ máy ngân hàng nông nghiệp Việt nam cũng là nền tảng cho
hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam sau
này.
Ngày 7/3/1994 Theo quyết định số 90/TTg của thủ tướng chính phủ, Ngân hàng nông
nghiệp hoạt động theo mô hình tổng công ty nhà nước với cơ cấu tổ chức bao gồm Hội
Đồng quản trị, Tổng giám đốc, bộ máy giúp việc bao gồm bộ máy kiểm soát nội bộ, các
đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự
nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành, chủ tịch hội đồng quản
trị không kiêm tổng giám đốc.
Ngày 15/11/1996 Được thủ tướng chính phủ ủy quyền, Thống đốc ngân hàng nhà
nước Việt Nam ký quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên ngân hàng nông nghiệp Việt
Nam thành ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động theo mô hình
tổng công ty 90, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ
chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam. Với tên
gọi mới, ngoài chức năng của ngân hàng thương mại, Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông
thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung và dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất và
kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Trong năm 1998, Ngân Hàng Nông Nghiệp nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ
tồn đọng và quản lý chặt chẽ hơn công tác thẩm định và xét duyệt các khoản cho vay
mới, tiến hành biện pháp phù hợp giảm nợ thấp quá hạn.
Năm 1999, Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và tập trung đầu tư phát triển
nông nghiệp nông thôn. Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu

thôn Việt Nam tiếp nhận và triển khai là 68 dự án tổng số vốn 2.486 triệu USD trong đó
giải ngân qua ngân hàng nông nghiệp là 1,5 tỷ USD.
Hiện nay ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã có quan hệ đại
lý tại 932 ngân hàng đại lý tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của nhiều tổ
chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn.
Từ năm 2006 bằng những giải pháp mang tính đột phá và cách làm mới của ngân
hàng Agribank thực sự khởi sắc. Đến cuối năm 2007, tổng tài sản đạt 325.802 tỷ đồng
tương đương 20 tỷ USD gấp 220 lần so với ngày đầu thành lập. Tổng dư nợ cho vay
nền kinh tế đạt 242.102 tỷ đồng trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm 70%
với trên 10 triệu hộ gia đình cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần
3 vạn doanh nghiệp dư nợ. Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng và gần như hoàn toàn là
vốn huy động.
Năm 2008 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của
Agribank và cũng là năm có tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
theo chủ trương của Đảng, Chính phủ. Trong chiến lược phát triển của mình, Agribank
trở thành một tập đoàn tài chính đa nghành, đa sở hữu, hoạt động đa lĩnh vực. Theo đó,
toàn hệ thống xác định những mục tiêu lón phải ưu tiên, đó là: Tiếp tục giữu vai trò chủ
đạo, chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn, luôn là những người bạn đồng hành,
chung thủy, tin cậy của 10 triệu hộ gia đình, đẩy mạnh tái cơ cấu ngân hàng, giải quyết
triệt để vấn đề nợ xấu đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống
công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, chuẩn bị
nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển
thương hiệu văn hóa Agribank.
Năm 2009 Ngân hàng Agribank vinh dự chào đón Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh tới
thăm và làm việc vào đúng dịp kỷ niệm 21 năm ngày thành lập (26/3/1988 –
26/3/2009), vinh dự được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, nghành ngân hàng, nhiều tổ
chức uy tín trao tặng các bằng khen và nhiều phần thưởng cao quý.
Năm 2010 Agribank là top 10 trong 500 doang nghiệp lớn nhất Việt Nam. Thực thi
Luật tổ chức tín dụng năm 2010 và triển khai nghị định số 59/2009/NĐ-CP của chính
phủ về việc tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, năm 2010 HĐQT

trong hoạt động thẻ”, ghi nhận những thành tích đóng góp xuất sắc của Agribank trong
hoạt động phát hành thẻ nói riêng và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt nói
chung.
2.CÁC HOẠT ĐỘNG CHUNG CỦA NGÂN HÀNG AGRIBANK:
Ngân hàng Agribank cung cấp các loại hình dịch vụ như sau:
+Dịch vụ thẻ:
- Thẻ thanh toán trực tuyến
- Thẻ ghi nợ nội địa
- Thẻ ghi nợ quốc tế
- Thẻ tín dụng quốc tế
- V.v….
+Bảo lãnh:
- Bảo lãnh dự thầu
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Bảo lãnh thanh toán
- Đồng bảo lãnh
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (Bảo lãnh vay vốn):
- Các loại bảo lãnh khác
+Chiết khấu:
- Chiết khấu tín phiếu
- Chiết khấu trái phiếu
- Chiết khấu giấy tờ có giá
- Chiết khấu hối phiếu nhận nợ, đòi nợ
- Chiết khấu, tái chiết khấu Séc
+Thanh toán trong nước
+Dịch vụ Séc
+Dịch vụ chuyển tiền
+Thanh toán biên mậu
+Mua bán ngoại tệ
+Vntopup

thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết,
gây tổn thất cho bên thứ ba. Các hợp đồng được bảo lãnh như hợp đồng cung cấp hàng
hoá, xây dựng, thiết kế…
Mục đích: Trong trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp không
đúng hạn, không đúng chất lượng cam kết thì đều gây tổn thất cho bên thứ ba. Và bảo
lãnh ngân hàng một mặt bù đắp một phần tổn thất cho bên thứ ba (Đảm bảo cho họ
tránh được rủi ro) mặt khác thúc đẩy khách hành nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng.
+Trị giá của bảo lãnh
Tùy theo loại hình và quy mô hợp đồng, giá trị bảo lãnh thực hiện hợp đồngtừ 10
– 15 % tổng giá trị hợp đồng. Trường hợp đặc biệt, mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng
có thể yêu cầu trên 15% nhưng phải được người có thẩm quyền quyết định đầu tư chấp
thuận. Tuy nhiên số tiền bảo lãnh có thể giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng.
+Thời hạn hiệu lực
Thư bảo lãnh có giá trị cho đến ngày hoàn thành hợp đồng. Thời hạn hiệu lực
được xác định cụ thể theo thoả thuận giữa hai bên. Thời hạn sẽ bắt đầu từ ngày kết thúc
đấu thầu kéo dài đến khi hoàn thành hợp đồng như: Hàng hoá đã giao xong, máy móc
thiết bị đã được vận hành, công trình đã đưa vào sử dụng…
3.Bảo lãnh thanh toán:
Bảo lãnh đảm bảp thanh toán là cam kết của ngân hàng về việc thanh toán tiền
theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng
không thanh toán đủ.
+ Mục đích: Cung cấp sự đảm bảo cho người thụ hưởng có thể nhận được khoản thanh
toán một cách thuận lợi, đầy đủ đúng hạn về các sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ đã
cung ứng cho người được bảo lãnh
+Trị giá bảo lãnh: Số tiền bảo lãnh thường bằng 100% giá trị hợp đồng.
+Thời hạn hiệu lực: Do các bên tự thoả thuận.
4. Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (Bảo lãnh vay vốn):
Là cam kết của ngân hàng đối với người cho vay (tổ chức tín dụng, các cá nhân ) về
việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu khách hàng (người đi vay) không trả được.
Việc bảo lãnh này thường rất phức tạp, khối lượng tiền bảo lãnh lớn nên rủi ro

cung ứng thiết bị đồng bộ để bảo hành thiết bị máy móc…
Trong thời gian bảo hành này nếu có sự cố xảy ra đối với sản phẩm phát sinh do chất
lượng sản phẩm không đảm bảo thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu được bồi
thường từ phía ngân hàng bảo lãnh.
+Trị giá bảo lãnh:
Theo thoả thuận thường bằng 5 – 10% giá trị hợp đồng.
+Thời hạn hiệu lực:
Từ lúc bắt đầu lắp ráp sử dụng thiết bị cho đến hết thời hạn bảo hành của thiết bị.
*Bảo lãnh miễn khấu trừ giá trị hoá đơn:
Là cam kết của ngân hàng với người mua về việc thanh toán số tiền khấu trừ giá
trị hợp đồng trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng.
Mục đích: Một số hợp đồng giao dịch thường quy định một điều khoản cho phép
người mua giữ lại một phần giá trị hợp đồng. Việc thanh toán nốt số tiền này sẽ được
thực hiện sau khi người cung cấp hoàn thành nghĩa vụ của mình và được người mua
chấp nhận. Số tiền giữ lại này có thể được thay thế bằng bảo lãnh của ngân hàng để
khỏi ảnh hưởng tới nguồn tài chính của người bán. Như vậy, bảo lãnh miễn khấu trừ giá
trị hợp đồng cho phép người bán nhận được tổng số tiền thanh toán nhưng phải cam kết
với người mua rằng số tiền bảo lãnh sẽ được hoàn trả cho người mua trong trường hợp
người bán không thực hiện nghĩa vụ hoặc vi phạm các điều kiện của hợp đồng.
+Trị giá bảo lãnh:
Thường từ 5 – 10% giá trị hợp đồng.
+Thời hạn hiệu lực:
Do hai bên thoả thuận với nhau.
* Bảo lãnh hối phiếu:
Là một cam kết của ngân hàng trả tiền cho người thụ hưởng khi hối phiếu của họ
đáo hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện được đầy đủ các nghĩa vụ tài chính
của họ như đã quy định trên hối phiếu. Khi phát hành bảo lãnh hối phiếu ngân hàng chịu trách
nhiệm như trách nhiệm của người được bảo lãnh đối với người nhận bảo lãnh về các nghĩa vụ tài chính
trên hối phiếu.
* Bảo lãnh phát hành chứng khoán:

hại rất nhiều do chi phí cơ hội bỏ ra là rất lớn. Để giảm thiểu rủi ro tín dụng, ngân hàng
phải xem xét đánh giá khách hàng kỹ càng, xem xét việc phát hành bảo lãnh như cấp tín
dụng. Điều khoản quy định hình thức bảo đảm trong hợp đồng bảo lãnh cũng phải được
tuân thủ theo các quy định chung của hợp đồng tín dụng.
c. Rủi ro hối đoái.
Ngày nay hoạt động bảo lãnh không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia
mà diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Đồng tiền sử dụng trong quan hệ bảo lãnh không
chỉ là một đồng tiền duy nhất. Chính vì thế, khi có biến động tỷ giá giữa các đồng tiền
có liên quan thì sẽ xảy ra rủi ro hoặc cho bên này hoặc cho bên kia trong hoạt động bảo
lãnh nếu ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ bằng ngoại tệ của quốc gia bên nhận
bảo lãnh trong khi hợp đồng bảo lãnh được ký kết với bên được bảo lãnh bằng nội tệ
hoặc nếu đồng ngoại tệ lên giá so với đồng nội tệ thì ngân hàng sẽ bị thiệt hại. Đó là rủi
ro hối đoái.
2.Rủi ro đối với người thụ hưởng bảo lãnh.
Trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng được chọn làm ngân hàng bảo lãnh là một
ngân hàng mạnh về tài chính, có chính sách tài trợ mạnh mẽ, trình độ nghiệp vụ của các
cán bộ cao, năng lực điều hành của ban lãnh đạo tốt và có uy tín trên thị trường… để
đáp ứng điều này cũng có nghĩa là bên được bảo lãnh tìm cho mình một chỗ dựa vững
chắc đồng thời người thụ hưởng bảo lãnh sẽ có sự đảm bảo lớn về khả năng nhận được
bồi hoàn nếu bên nhận được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã kí kết.
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải khi nào bên được bảo lãnh cũng như người
thụ hưởng bảo lãnh cũng tìm được ngân hàng bảo lãnh như ý. Chính vì vậy, người thụ
hưởng bị chi phối bởi khả năng tài chính của ngân hàng bảo lãnh. Chẳng hạn như cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ sẽ kéo theo sự sụp đổ của ngân hàng bảo lãnh và hậu quả
là người thụ hưởng bảo lãnh sẽ phải chịu rủi ro. Ngoài ra, có thể có những nguyên nhân
bất khả kháng cũng có thể gây ra những rủi ro cho người thụ hưởng bảo lãnh như thiên
tai, hỏa hoạn…
3.Rủi ro đối với người được bảo lãnh.
Do tính chất cũng như vai trò của bảo lãnh nên bên được bảo lãnh bị ràng buộc
trong việc thực hiện các hợp đồng đã kí kết với người thụ hưởng bảo lãnh. Bên được

Đơn giản hóa thủ tục nghiệp vụ, giảm bớt giấy tờ và thời gian khi thực hiện
nghiệp vụ nhưng vẫn đảm bảo an toàn, đầy đủ và đúng quy trình, tạo điều kiện cho các
khách hàng tham gia thực hiện nghiệp vụ. Tuy nhiên, việc hoàn thiện, tối thiểu hóa các
giấy tờ đòi hỏi phải có sự thống nhất và hợp lý hóa về mẫu biểu hồ sơ trên toàn hệ
thống.
Thường xuyên theo dõi, giám sát và quản lý chặt chẽ các khoản mục bảo lãnh
đã được phát hành. Việc giám sát phải thực hiện một cách nghiêm túc và cẩn thận, cán
bộ tín dụng phải thường xuyên đôn đốc khách hàng thực hiện đúng nghĩa vụ, nếu khách
hàng gặp khó khăn thì cùng tham gia với khách hàng tháo gỡ khắc phục. Mặt khác cũng
cần theo dõi phần đảm bảo như số dư tiền gửi tại ngân hàng, về tài sản thế chấp… nếu
khách hàng có dấu hiệu vi phạm thì có biện pháp xử lý kịp thời.
Đánh giá tổng kết khi tất toán một bảo lãnh để rút ra các bài học kinh nghiệm,
cũng như tìm được những giải pháp mới cho những món bảo lãnh tiếp theo.
2.Tăng cường chính sách khách hàng :
Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, để khách hàng biết và sử dụng dịch
vụ của mình đã khó, nhưng để duy trì mối quan hệ với khách hàng lại càng khó hơn,
chính vì vậy một chính sách khách hàng hợp lý phù hợp với xu thế chung của thời đại,
của nền kinh tế là rất cần thiết vì nó giúp mở rộng và thu hút thêm khách hàng, tăng quy
mô cung ứng sản phẩm dịch vụ, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Ngân hàng có thể thực
hiện chiến lược đó bằng các cách sau:
Xúc tiến quan hệ bằng cách gửi tài liệu giới thiệu về ngân hàng, các dịch vụ của
ngân hàng nói chung và dịch vụ bảo lãnh nói riêng, quảng bá hình ảnh trên các phương
tiện thông tin đại chúng, tham gia tài trợ cho các chương trình xã hội lớn. Bên cạnh đó,
chủ động tìm kiếm và tiếp cận khách hàng, thường xuyên nắm bắt các nhu cầu của
khách hàng, tạo mối quan hệ tín nhiệm trên cơ sở hợp tác hai bên cùng có lợi, đồng thời
chủ động đưa ra các biện pháp để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Các nhân viên của ngân hàng như: nhân viên giao dịch, tín dụng, quan hệ khách
hàng, kế toán,… nên giới thiệu với khách hàng đang sử dụng dịch vụ khác của ngân
hàng về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng và khuyến khích, thuyết phục họ cũng như
những người mà họ có mối quan hệ sử dụng khi có nhu cầu.

cho ngân hàng. Do đó, việc tìm kiếm và lựa chọn khách hàng có đề nghị phát hành bảo
lãnh an toàn và hiệu quả là cần thiết và đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải biết thu thập và
xử lý thông tin, phân tích đánh giá và vận dụng những thông tin đó có hiệu quả.
4.Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả của bảo
lãnh .
Việc kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả của các khoản bảo lãnh đã được
phát hành là vô cùng cần thiết do sau khi phát hành thư bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh
thì mức độ rủi ro của ngân hàng sẽ phụ thuộc và khả năng thực hiện hợp đồng của
người được bảo lãnh đối với người thụ hưởng bảo lãnh cũng như với ngân hàng. Hơn
thế nữa việc thẩm định các khoản bảo lãnh của Agribank thường chỉ được thực hiện chủ
yếu trong giai đoạn đầu khi chuẩn bị phát hành thư bảo lãnh. Mặt khác, các khách hàng
của Agribank thường là các khách hàng có uy tín, do đó, việc thẩm định thường ít được
chú ý đúng mức thậm chí là bỏ qua trong khi đây lại là việc làm vô cùng cần để ngăn
ngừa rủi ro của ngân hàng. Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá chất lượng
cần phải được tiến hành thường xuyên và toàn diện trên các mặt.
B.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
+ Kiến nghị với chính phủ và các cơ quan nhà nước :
Thứ nhất, Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh đồng bộ, ổn định cho các
đơn vị kinh tế hoạt động, đây cũng là điều kiện quan trọng để hoạt động ngân hàng nói
chung và hoạt động bảo lãnh ngân hàng nói riêng có thể hoàn thiện và phát triển mạnh
mẽ. Bởi hoạt động ngân hàng có liên quan đến tất cả các ngành, các thành phần kinh tế.
Việc thay đổi chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước đôi khi gây khó
khăn rất lớn cho các doanh nghiệp khi phải điều chỉnh và thay đổi định hướng kinh
doanh cho phù hợp với sự thay đổi của chính sách kinh tế vĩ mô. Chính phủ cần hoạch
định một chính sách dài hạn về định hướng phát triển nhằm tạo môi trường kinh tế ổn
định cho các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như hoạt động bảo lãnh
của ngân hàng.
Thứ hai, hoạt động ngân hàng được đặt dưới sự điều chỉnh hai bộ luật là Luật
các tổ chức tín dụng và Luật NHNN. Hiện nay, hai bộ luật này cũng đã thể hiện nhiều
thiếu sót, bất cập trong việc chỉ đạo, giám sát, quản lý hoạt động của các TCTD. Hơn

pháp quy ngày càng hoàn thiện tạo điều kiện cho các khách hàng có cơ sở pháp lý vững
chắc khi đến giao dịch với ngân hàng.
V.KẾT LUẬN CHUNG
Bảo lãnh là một nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, cho đến nay nó dần khẳng định
tầm quan trọng của mình với bản thân ngân hàng nói riêng và với nền kinh tế nói
chung. Nằm trong hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng, bảo lãnh có ảnh hưởng
rất nhiều tới các dịch vụ khác của ngân hàng, và chúng có mối quan hệ gắn bó mật thiết
với nhau. Nếu nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện tốt một mặt nó thúc đẩy các hoạt
động khác của ngân hàng phát triển, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của ngân hàng
trên thị trường, một mặt nó làm tăng thu nhập cho ngân hàng thông qua phí bảo lãnh.
Nói cách khác, bảo lãnh là chất xúc tác quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status