Lời nói đầu
Thực hiện Đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai đoạn 2010-
2020, nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong các trường THPT chuyên và phát
triển chuyên môn cho giáo viên dạy các môn chuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ
chức biên soạn tài liệu “Hướng dẫn Thí nghiệm thực hành trường THPT chuyên
môn Hóa học”.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học và thi chọn học sinh giỏi môn hóa
học THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã mời các cán bộ quản lý chỉ đạo dạy học,
các giảng viên đại học và các nhà khoa học có nhiều thành tích trong công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi và nghiên cứu khoa học, giáo viên trực tiếp giảng dạy
chương trình chuyên hóa học tham gia viết các bài thực hành. Nội dung các bài
gồm các chủ đề sau:
Phần 1. Giới thiệu chung về thí nghiệm thực hành môn hóa học
Phần 2. Một số bài thí nghiệm thực hành môn hóa học
Gồm 10 bài, mỗi bài được viết theo cấu trúc
- Mục đích thí nghiệm
- Cơ sở lý thuyết
- Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm
- Các bước tiến hành thí nghiệm
- Một số lưu ý để thí nghiệm thực hiện thành công
- Phân tích kết quả thí nghiệm và báo cáo
- Câu hỏi kiểm tra và mở rộng
Mặc dù tài liệu được viết công phu, có qua đọc góp ý, thẩm định và
biên tập nội dung nhưng không thể tránh khỏi còn có những sơ xuất nhất
định. Các tác giả mong nhận được góp ý của quý thầy cô.
Trân trọng cám ơn.
3
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Phần 1. Giới thiệu chung về thí nghiệm thực hành môn hóa học
Thí nghiệm 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng
Thí nghiệm 2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến cân bằng hoá học
7
8
12
13
15
17
18
20
21
25
29
32
37
41
44
46
50
4
Bài 3. TÍNH CHẤT AXIT – BAZƠ CỦA MỘT SỐ CHẤT – CHUẨN
ĐỘ AXIT – BAZƠ – CÂN BẰNG TẠO PHỨC TRONG DUNG DỊCH
Thí nghiệm 1. Xác định pH của một số dung dịch có cùng nồng độ 0,01M
Thí nghiệm 2. Chuẩn độ axit – bazơ, dùng chỉ thị quỳ tím, phenolphtalein,
metyl da cam
Thí nghiệm 3. Sự tạo thành phức chất [Cu(NH
3
)
4
]
4
COOH) có
trong viên thuốc aspirin
Bài 7. PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG AXIT ASCORBIC
TRONG VIÊN THUỐC VITAMIN C
Bài 8. THỰC HÀNH TỰ CHỌN VỀ TỔNG HỢP HỮU CƠ
2 GIAI ĐOẠN
53
58
65
67
69
73
77
81
83
84
88
92
94
99
5
Giai đoạn 1- Điều chế axit benzoic bằng PHẢN ỨNG OXY HÓA toluen với
KMnO
4
nóng.
Giai đoạn 2- Điều chế etylbenzoat bằng PHẢN ỨNG ESTE HÓA
BÀI 9. NHẬN BIẾT VÀ TÁCH CÁC ION TRONG DUNG DỊCH
BÀI 9. NHẬN BIẾT VÀ TÁCH CÁC ION TRONG DUNG DỊCH
9.1. NHẬN BIẾT MỘT SỐ ION THÔNG DỤNG CÓ TRONG DUNG
Để sử dụng tài liệu hiệu quả nhất xin lưu ý mấy điểm sau:
- Đọc kĩ nội dung bài thực hành, căn cứ vào thực tiễn địa phương để quyết
định mục tiêu cụ thể cho từng nội dung thực hành thí nghiệm đã chọn.
- Nghiên cứu phần cơ sở lí thuyết của thí nghiệm thực hành. Đây chính là căn
cứ để giải thích các hiện tượng quan sát được trong thí nghiệm.
- Nhất định học sinh phải thành thạo các bước: kiểm tra dụng cụ thiết bị, hóa
chất, mẫu vật; trình tự các bước làm thí nghiệm thực hành và phải được hướng
dẫn chi tiết các thao tác cơ bản trong thí nghiệm thực hành.
- Giáo viên cần nghiên cứu thật kĩ nội dung “phân tích kết quả thí nghiệm và
báo cáo” để hướng dẫn học sinh ghi chép kết quả thực hành, xử lí các số liệu thu
được, trình bày báo cáo.
- Phần câu hỏi kiểm tra và mở rộng là những gợi ý bước đầu. Trong thực tiễn
dạy học thực hành giáo viên có thể đưa thêm nhiều tình huống mới để kích thích
tư duy cho học sinh.
7
Phần 1. Giới thiệu chung về thí nghiệm thực hành môn hóa học
A. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM
CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trong mỗi nhà trường, đội ngũ GV luôn là một trong những nhân tố quan
trọng nhất góp phần quyết định sự phát triển của một nhà trường, bởi lẽ chính họ
là người tổ chức thực hiện có hiệu quả các khâu của quá trình dạy học, giáo dục
và phát triển chuyên môn, phát triển nhà trường.
Trong các trường THPT chuyên, đội ngũ GV cốt cán, đầu đàn về chuyên
môn lại càng có vai trò quan trọng hơn, là những nhân tố tích cực, là tấm gương
trong việc rèn luyện đạo đức, tự học, sáng tạo để phát hiện, bồi dưỡng những học
sinh năng khiếu để tạo nguồn tiếp tục đào tạo thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế. Hơn nữa, trường
THPT chuyên được định hướng xây dựng thành đây là hình mẫu của các trường
THPT về cơ sở vật chất, đội ngũ GV và tổ chức các hoạt động giáo dục, thì đội
ngũ GV trường chuyên nói chung, đội ngũ GV cốt cán nói riêng lại càng có vị trí
(3) Chú trọng xây dựng đội ngũ GV đầu đàn về hoạt động chuyên môn trong
hệ thống trường THPT chuyên, tạo điều kiện giúp họ trở thành những nhân tố tích
cực, là tấm gương trong việc rèn luyện đạo đức, tự học, sáng tạo và xây dựng mạng
lưới hoạt động của đội ngũ này trên toàn quốc;
(4) Tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ, tin học và ngoại ngữ cho cán bộ quản lý, giáo viên trường chuyên.
- Định hướng nội dung bồi dưỡng GV chuyên phù hợp với từng giai đoạn.
Tăng cường việc bồi dưỡng cho CBQL về kiến thức, kỹ năng quản lý; bồi dưỡng
cho GV về đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG, nâng cao năng lực phát triển chương
trình, tài liệu môn chuyên, năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục;
9
- Tổ chức các khóa bồi dưỡng tiếng Anh, tin học cho CBQL, GV; đưa đi bồi
dưỡng tiếng Anh tại nước ngoài các GV giảng dạy tiếng Anh trong các trường
chuyên;
- Tổ chức các khóa đào tạo ngắn, dài hạn trong, ngoài nước về giảng dạy bằng
tiếng Anh cho GV dạy các môn toán, vật lí, hóa học, sinh học, tin học, để từng bước
thực hiện dạy học các môn học này bằng tiếng Anh trong các trường chuyên;
- Xây dựng các diễn đàn trên internet để GV và HS trao đổi kinh nghiệm giảng
dạy và học tập; tổ chức các hội thảo trao đổi kinh nghiệm giữa các trường chuyên với
các cơ sở giáo dục trong, ngoài nước có đào tạo, bồi dưỡng HS năng khiếu.
Để thực hiện định hướng trên của đề án, có nhiều việc phải làm, trong đó
công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngu GV
có vai trò rất quan trọng. Bộ GDĐT (trực tiếp là Vụ GDTrH và Chương trình
phát triển GDTrH) tổ chức Hội thảo, tập huấn cho CBQL, GV cốt cán các trường
chuyên trong cả nước lần thứ 2 – Năm 2011 .
1. Mục tiêu
1.1. Thống nhất được định hướng nội dung, phương thức bồi dưỡng GV trường
THPT chuyên giai đoạn 2011–2015 và kế hoạch bồi dưỡng từng năm.
1.2. Trang bị cho GV một số nội dung chuyên đề vừa thiết thực phục
vụ ngay cho việc dạy học ở trường THPT chuyên; vừa nâng cao tiềm lực của
huấn”; tạo điều kiện hỗ trợ tối đa cho học viên trong điều kiện có thể được. Các
anh chị học viên cần thực hiện nghiêm túc các quy định của ban tổ chức nhằm đảm
bảo khóa học có chất lượng, hiệu quả và mỗi học viên đều là các báo cáo viên giỏi
tại các lớp bồi dưỡng giáo viên tại địa phương, cơ sở giáo dục.
Nhân dịp này, thay mặt Bộ GDĐT và Ban tổ chức, chúng tôi xin ghi nhận
và cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ của thầy cô giáo là tác giả tài liệu đồng thời cũng là
11
các báo cáo viên; cảm ơn các cơ quan liên quan đã góp phần làm cho đợt tập
huấn diễn ra thuận lợi. Xin kính chúc các đồng chí đại biểu, các thầy cô giáo, các
anh chị sức khỏe, hạnh phúc; chúc đợt tập huấn thành công./.
I. Vai trò của dạy học thực hành đối với học sinh trường THPT chuyên
“… Không thể hình dung được việc giảng dạy hóa học trong nhà trường mà
lại không có quan sát, không có thí nghiệm học tập.” B.P. Exipốp (trong cuốn
những cơ sở của LLDH). Quan sát và thí nghiệm là các phương pháp nghiên cứu
cơ bản của khoa học tự nhiên, của các môn khoa học thực nghiệm, trong đó có
môn hóa học. Hóa học là một khoa học đã và sẽ không thể phát triển được nếu
không có quan sát, thí nghiệm.
Quan sát và thí nghiệm đã tạo khả năng cho các nhà khoa học phát hiện và
khai thác các sự kiện, hiện tượng mới, xác định những quy luật mới, rút ra những
kết luận khoa học và tìm cách vận dụng vào thực tiễn.
Đối với quá trình dạy học các môn khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm,
quan sát và thí nghiệm cũng là phương pháp làm việc của học sinh (HS), nhưng
với HS những bài tập quan sát hoặc các thí nghiệm được giáo viên (GV) trình
bày hay do chính các em tiến hành một cách độc lập (thực hành quan sát, thí
nghiệm của HS) dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV thường để giải quyết những
vấn đề đã biết trong khoa học, rút ra những kết luận cũng đã biết tuy vậy đối với
các em HS vẫn là mới.
Thông qua quan sát, thí nghiệm, bằng các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp,
trừu tượng hóa và khái quát hóa giúp các em xây dựng các khái niệm. Bằng cách
đó các em nắm kiến thức một cách vững chắc và giúp cho tư duy phát triển.
loại hình thí nghiệm trên, nó giúp HS có điều kiện, cơ hội phát triển tư duy sáng
tạo - một phẩm chất và năng lực cần có ở con người mới mà nhà trường có trách
nhiệm đào tạo.
Đi theo con đường này, sau khi đã hiểu được nhiệm vụ cần làm sáng tỏ (mục
đích của thí nghiệm) bằng tư duy tích cực, HS sẽ hình thành được các giải định
(trong nghiên cứu khoa học đây chính là bước xây dựng giả thuyết về vấn đề
nghiên cứu (từ sự nảy sinh câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu…?” Câu hỏi được
13
hình thành từ những liên tưởng dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm có của
HS.
Khi giả định được hình thành, trong đó hàm chứa con đường phải giải quyết,
HS dự kiến kế hoạch giải quyết để chứng minh cho giả định đã nêu.
Hai bước nêu giả định và dự kiến kế hoạch giải quyết chứng minh cho giả
định là hai bước đòi hỏi tư duy tích cực và sáng tạo. Đây là những cơ hội rèn
luyện tu duy sáng tạo cho HS rất tốt, là giai đoạn tiến hành thí nghiệm tưởng
tượng (“thí nghiệm trong tư duy”) định hướng cho hành động thí nghiệm tiếp
theo dựa trên kế hoạch đã được HS thiết kế (kế hoạch dự kiến).
Cuối cùng, căn cứ vào kết quả của thí nghiệm, HS rút ra kết luận, nghãi là HS
lĩnh hội được kiến thức từ thí nghiệm mà không phải do thày truyền đạt và HS
tiếp thu một cách thụ động.
Hiện nay hầu hết các bài thực hành thí nghiệm sinh học ở THPT trong
chương trình và SGK được bố trí ở cuối mỗi chương chỉ mang tính chất củng cố
minh họa cho các kiến thức lý thuyết đã được trình bày trong các bài học của
chương trình dưới hình thức phần lớn là “bày sẵn” từng bước cho HS. Hơn nữa
số tiết thực hành quy định trong chương trình và SGK cũng còn rất hạn chế. Rồi
đây, chắc chắn số tiết này có thể sẽ được nâng lên cho phù hợp với xu thế chung
của giáo dục thế giới và tương ứng với tính chất của các môn khoa học thực
nghiệm.
Trước mắt trong khi chờ đợi, đòi hỏi lòng nhiệt tâm vì sự nghiệp giáo dục của
các thầy cô đang tiến hành các bài thực hành hiện có theo phương thức mới ở
cả các học sinh cần được dạy thực hành. Lưu ý là ngay cả trong các kỳ thi
Olympic hóa học Quốc tế có sử dụng các trang thiết bị hiện đại như trắc quang,
điện di, sắc ký, quang phổ vv thì điểm của học sinh cao hay thấp không phụ
thuộc vào thiết bị trừ phi học sinh chưa được làm quen với thiết bị đó. Vì sử dụng
thiết bị hiện đại cũng chỉ để thu thập số liệu, trong khi đó các kỹ năng đơn giản
như pha loãng hóa chất, xử lý số liệu thu được như vẽ đồ thị, rút ra các két luận
phù hợp, biết cách sắp xếp thời gian hợp lý vv lại quyết định kết quả cuối cùng.
Qui trình cho một bài thí nghiệm có thể gồm các bước như sau:
15
- Chuẩn bị thí nghiệm: GV phải có kế hoạch đảm bảo chuẩn bị đầy đủ dụng
cụ, hóa chất, mẫu vật và các điều kiện cần thiết khác để thí nghiệm thành công.
Có thể giao cho HS chuẩn bị nhưng phải kiểm tra.
- Bước 1: GV nêu mục tiêu thí nghiệm (hoặc hướng dẫn học sinh phát biểu
mục tiêu thực hành), phải đảm bảo mỗi HS nhận thức rõ mục tiêu làm thí nghiệm
để làm gì?
Phổ biến nội qui an toàn phòng thí nghiệm: Ngay khi bắt đầu một bài thực hành,
giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh về qui tắc an toàn trong phòng thí
nghiệm. Điều này là hết sức cần thiết và phải làm ngay mỗi lần học sinh vào
phòng thí nghiệm. Bên cạnh đó cũng cần phổ biến cách cấp cứu trong những
trường hợp cần thiết như bỏng hóa chất, băng bó khi bị thương vv
- Bước 2: GV hướng dẫn HS cách tiến hành thí nghiệm, phải đảm bảo mỗi
HS nhận thức rõ làm thí nghiệm như thế nào? Bằng cách nào?
Giáo viên giới thiệu qui trình thí nghiệm: Học sinh có thể tự đọc qui trình thí
nghiệm nếu có sẵn trong SGK hoặc giáo viên giới thiệu cho từng học sinh. Sau
đó học sinh tự kiểm tra các loại hóa chất thiết bị, mẫu vật xem có đáp ứng được
với yêu cầu bài thực hành hay không.
Tiến hành thí nghiệm: Học sinh tự tiến hành thí nghiệm theo qui trình đã cho
để thu thập số liệu.
- Bước 3: Mô tả kết quả thí nghiệm. HS viết ra (hoặc nói ra) các kết quả mà
họ quan sát thấy trong quá trình làm thí nghiệm.
- Giữ để axit không bắn vào da hoặc mắt bằng cách đeo khẩu trang, găng tay
và kính bảo vệ mắt. Nếu làm văng lên da, lập tức rửa ngay bằng một lượng nước
lớn.
- Luôn phải đọc kỹ nhãn của chai đựng và tính chất của chúng.
- Lấy axit đúng lượng đã ghi trong tài liệu, mỗi axit phải có muỗng hoặc
ống hút riêng
- Axit rơi đổ ra ngoài phải dọn ngay, đổ các axit thải đúng nơi quy định.
2. An toàn khi làm việc với kiềm
- Kiềm có thể làm cháy da, mắt gây hại nghiêm trọng cho hệ hô hấp.
- Mang găng tay cao su, khẩu trang khi làm việc với dung dịch kiềm đậm đặc.
- Thao tác trong tủ hút, mang mặt nạ chống độc để phòng ngừa bụi và hơi kiềm.
17
- Dung dịch amoniac: là một chất lỏng và khí amoniac rất ăn da, mang găng
tay cao su, khẩu trang, thiết bị bảo vệ hệ thống hô hấp. Hơi amoniac dễ phản ứng
mạnh với chất oxi hoá, halogen, axit mạnh.
- Kim loại Na, K, Li, Ca: phản ứng cực mạnh với nước, ẩm, CO
2
, halogen,
axit mạnh, dẫn xuất clo của hydrocacbon. Tạo hơi ăn mòn khi cháy. Cần mang
dụng cụ bảo vệ da mắt.
- Can xi oxit rất ăn da, phản ứng cực mạnh với nước, cần bảo vệ da mắt,
đường hô hấp do dễ nhiểm bụi oxit.
- Natri hiđroxit và kali hiđroxit: rất ăn da, tỏa nhiệt lớn khi tan trong nước.
Các biện pháp an toàn như trên, cho từng viên hoặc ít bột vào nước chứ không
được làm ngược lại.
- Lấy kiềm đúng lượng đã ghi trong tài liệu, mỗi loại kiềm phải có muỗng
hoặc ống hút riêng
- Kiềm rơi đổ ra ngoài phải dọn ngay, đổ các kiềm thải đúng nơi quy định.
II. Quy tắc làm việc với hóa chất thí nghiệm
1. Hoá chất thí nghiệm:
ghi tên hoá chất, công thức hóa học, mức độ sạch, tạp chất, khối lượng tịnh, khối
lượng phân tử, nơi sản xuất, điều kiện bảo quản.
3. Cách sử dụng và bảo quản hoá chất:
Khi làm việc với hóa chất, nhân viên phòng thí nghiệm cũng như giáo viên, học
sinh cần hết sức cẩn thận, tránh gây những tai nạn đáng tiếc cho mình và cho mọi
người. Những điều cần nhớ khi sử dụng và bảo quản hóa chất được tóm tắt như sau:
- Hóa chất phải được sắp xếp trong kho hay tủ theo từng loại (hữu cơ, vô cơ,
muối, axit, bazơ, kim loại, ) hay theo một thứ tự a, b, c để khi cần dễ tìm.
- Tất cả các chai lọ đều phải có nhãn ghi, phải đọc kỹ nhãn hiệu hóa chất
trước khi dùng, dùng xong phải trả đúng vị trí ban đầu.
- Chai lọ hóa chất phải có nắp. Trước khi mở chai hóa chất phải lau sạch
nắp, cổ chai, tránh bụi bẩn lọt vào làm hỏng hóa chất đựng trong chai.
- Các loại hóa chất dễ bị thay đổi ngoài ánh sáng cần phải được giữ trong
chai lọ màu vàng hoặc nâu và bảo quản vào chổ tối.
- Dụng cụ dùng để lấy hóa chất phải thật sạch và dùng xong phải rửa ngay,
không dùng lẫn nắp đậy và dụng cụ lấy hóa chất.
- Khi làm việc với chất dễ nổ, dễ cháy không được để gần nơi dễ bắt lửa.
Khi cần sử dụng các hóa chất dễ bốc hơi, có mùi, phải đưa vào tủ hút, chú ý
đậy kín nắp sau khi lấy hóa chất xong.
- Không hút bằng pipet khi chỉ còn ít hóa chất trong lọ, không ngửi hay nếm
thử hóa chất.
- Khi làm việc với axit hay bazơ mạnh: Bao giờ cũng đổ axit hay bazơ vào
nước khi pha loãng (không được đổ nước vào axit hay bazơ); Không hút axit hay
bazơ bằng miệng mà phải dùng các dụng cụ riêng như quả bóp cao su, pipet máy.
Trường hợp bị bỏng với axit hay bazơ rửa ngay với nước lạnh rồi bôi lên vết
bỏng NaHCO
3
1% (trường hợp bỏng axit) hoặc CH
3
COOH 1% (nếu bỏng bazơ).
R 18. Khi sử dụng, có thể tạo ra hỗn hợp hơi với không khí gây cháy hoặc nổ.
R 19. Có thể tạo ra các peoxit gây nổ.
R 20. Nguy hiểm khi hít vào.
R 21. Nguy hiểm khi tiếp xúc với da.
R 22. Nguy hiểm nếu nuốt vào.
R 23. Ngộ độc khi hít vào.
20
R 24. Ngộ độc khi tiếp xúc với da.
R 25. Ngộ độc nếu nuốt vào.
R 26. Rất độc khi hít vào.
R 27. Rất độc khi tiếp xúc với da.
R 28. Rất độc nếu nuốt vào.
R 29. Tiếp xúc với nước giải phóng khí độc.
R 30. Khi sử dụng, có thể rất dễ cháy.
R 31. Tiếp xúc với axit giải phóng khí độc.
R 32. Tiếp xúc với axit giải phóng khí rất độc.
R 33. Gây nguy hiểm do các tác động tích lũy.
R 34. Gây bỏng.
R 35. Gây bỏng nặng.
R 36. Gây cay mắt.
R 37. Dị ứng cho hệ hô hấp.
R 38. Gây mẩn ngứa da.
R 39. Nguy hiểm do các tác động nghiêm trọng không thể loại bỏ.
R 40. Có thể nguy hiểm do các tác động nghiêm trọng không thể loại bỏ.
R 41. Nguy hiểm do gây hỏng mắt nặng.
R 42. Có thể gây sổ mũi khi hít vào.
R 43. Có thể gây mẫn ngứa khi tiếp xúc với da.
R 44. Nguy cơ gây nổ nếu đun nóng trong bình kín
R 45. Có thể gây ung thư.
R 46. Có thê gây tổn hại gen.
S 26. Trong trường hợp bị bắn vào mắt, phải rửa ngay với nhiều nước và đến cơ
quan y tế.
S 27. Cởi bỏ ngay áo quần bị nhiễm bẩn hóa chất.
S 28. Khi bị dính vào da, rửa ngay với một lượng nhiều (do nhà sản xuất chỉ định).
22
S 29. Không làm khô kiệt bình chứa.
S 30. Không bao giờ được cho nước vào sản phẩm này.
S 31. Bảo quản cách xa các chất gây cháy.
S 33. Cần có các biện pháp đề phòng sự phóng điện.
S 34. Tránh va đập và ma sát.
S 35. Chất này và bình chứa nó phải được loại bỏ theo cách an toàn thích hợp.
S 36. Mặc quần áo bảo vệ thích hợp.
S 37. Đeo găng tay thích hợp.
S 38. Trong trường hợp không đủ thông thoáng, phải đeo thiết bị trợ hô hấp.
S 39. Đeo phương tiện bảo vệ mắt/ mặt.
S 40. Để vệ sinh sàn và các vật dụng bị nhiễm bẩn hóa chất này, cần sử dụng
(do nhà sản xuất chỉ định).
S 41. Trong trường hợp cháy và/ hoặc nổ không được hít khói.
S 42. Trong thời gian phun khói / phun sương phải đeo thiết bị trợ hô hấp thích hợp.
S 43. Trong trường hợp cháy, sử dụng (chỉ rõ chính xác dùng loại dụng cụ cứu hỏa
nào. Nếu nước làm tăng nguy cơ thì không bao giờ được dùng nước)
S 44. Nếu cảm thấy người không khỏe, đến cơ quan y tế ngay (có biển chỉ dẫn)
S 45. Trong trường hợp tai nạn hoặc nếu người không được khỏe đến cơ quan y
tế ngay (có biển chỉ dẫn).
……
3. Ví dụ về ý nghĩa R và S
Axeton
Công thức C
3
H
nhãn hiệu nếu có thể)
Metanol
Công thức CH
4
O
Khối lượng phân tử 32,04
Điểm nóng chảy
−98
o
C
Điểm sôi 65
o
C
Khối lượng riêng 0,79 g/cm
3
R11 Rất dễ cháy
R23-25 Độc khi hít phải, tiếp xúc với da và nếu nuốt phải
R39/23/
24/25
Độc hại: nguy cơ ảnh hưởng rất nghiêm trọng không thể đảo
ngược qua đường hô hấp, tiếp xúc với da và nếu nuốt phải
S7 Giữ bình chứa đóng kín
S16 Tránh xa nguồn lửa – Cấm hút thuốc
24
S36/37 Mặc quần áo bảo hộ phù hợp và đeo găng tay
Chất độc (T) và rất
độc (T
+
)
Chất dễ cháy (F) và rất dễ cháy (F
Rác sau khi được thu gom được vận chuyển tới nhà máy chế biến rác thải; chế
biến phân bón nông nghiệp từ rác hữu cơ, gạch xây dựng từ những rác thải phế
liệu như đá, sỏi…
Các phương pháp hoá học và vật lý
Xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp vật lý nhằm tách chất nguy hại
ra khỏi chất thải bằng các phương pháp tách pha.
Xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp hoá học nhằm thay đổi tính chất
hoá học của chất thải để chuyển nó về dạng không nguy hại.
1. Lọc. Lọc là phương pháp tách hạt rắn từ dòng lưu chất (khí, lỏng hay kem
nhão…) khi đi qua môi trường xốp (vật liệu lọc). Các hạt rắn được giữ lại ở vật
liệu lọc. Quá trình lọc có thể thực hiện nhờ chênh lệch áp suất gây bởi trọng lực,
lực ly tâm, áp suất chân không, áp suất dư.
2. Kết tuả. Kết tuả là quá trình chuyển chất hoà tan thành dạng không tan
bằng các phản ứng hoá học tạo tủa hay thay đổi thành phần hóa chất trong dung
dịch (thay đổi pH…), thay đổi điều kiện vật lý của môi trường (hạ nhiệt độ) để
giảm độ hoà tan của hoá chất, phần không tan sẽ kết tinh. Phương pháp kết tuả
thường dùng kết hợp với các quá trình tách chất rắn như lắng cặn, ly tâm và lọc.
3. Oxy hoá khử. Phản ứng oxy hoá khử là phản ứng trong đó trạng thái oxy
hoá của một chất phản ứng tăng lên trong khi trạng thái oxy hoá của một chất
khác giảm xuống. Chất cho electron là chất khử, chất nhận electron là chất oxy
hoá. Để thực hiện quá trình oxy hoá khử, người ta trộn chất thải với hoá chất xử
lý (tác nhân oxy hoá hay khử) hay cho tiếp xúc các hoá chất ở các dạng dung dịch
với hoá chất ở thể khí.
26
4. Bay hơi. Bay hơi là làm đặc chất thải dạng lỏng hay huyền phù bằng
phương pháp cấp nhiệt để hoá hơi chất lỏng. Phương pháp này thường dùng trong
giai đoạn xử lý sơ bộ để giảm số lượng chất thải cần xử lý cuối cùng.
5. Đóng rắn và ổn định chất thải. Đóng rắn là làm cố định hoá học, triệt
tiêu tính lưu động hay cô lập các thành phần ô nhiễm bằng lớp vỏ bền vững tạo
thành một khối nguyên có tính toàn vẹn cấu trúc cao. Phương pháp này nhằm