Tài liệu luận văn:Hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Văn phòng Tổng công ty Thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập - Pdf 10


1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Hoạt động nhập khẩu phôi
thép tại Văn phòng Tổng công ty Thép
Việt Nam trong điều kiện hội nhập.”

phòng Tổng công ty Thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.

32. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên những cơ sở lý luận về thương mại quốc tế
cùng với sự hỗ trợ của các phương pháp phân tích kinh tế, thu thập số liệu và nắm
bắt thông tin qua quá trình khảo sát thực tế hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Văn
phòng Tổng công ty Thép Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thép ngày càng nhiều.
Trong đó, Tổng công ty Thép Việt Nam là doanh nghiệp lớn nhất và nắm vị trí chủ
đạo của ngành thép nước ta. Sau khi chuyển sang mô hình công ty mẹ - con, công
ty mẹ Tổng công ty Thép Việt Nam bao gồm 12 đơn vị trực thuộc, 7 công ty con
và 22 công ty liên doanh. Trong đó có 25 công ty trực tiếp sản xuất, 6 công ty
thương mại và 10 đơn vị là các viện, trường, dịch vụ, phụ trợ Trên cơ sở nghiên
cứu về Tổng công ty Thép dưới giác độ từ cơ quan Văn phòng của Tổng công ty
rút ra những tồn tại của doanh nghiệp thép nói riêng và cả ngành thép nói chung
dưới tác động của quá trình hội nhập.
4. Kết cấu chuyên đề
Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :
Chương I: Một số lý luận chung về hoạt động nhập khẩu và vai trò của hoạt động
nhập khẩu phôi thép đối với ngành thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Tổng công ty Thép
Việt Nam dưới tác động của quá trình hội nhập

Bên cạnh đó, dựa vào vị trí địa lý cũng như tài nguyên thiên nhiên của mình,
mỗi quốc gia xác định được thế mạnh riêng. Những nước có giàu tài nguyên thì đẩy
mạnh khai thác nó (các nước dầu mỏ OPEC), những nước kém tài nguyên thì lại lựa
chọn cho mình con đường sử dụng nguồn nhân lực của mình để phát triển (Nhật
Bản). Chính từ sự khác nhau đó, các nước hình thành nên những lợi thế so sánh
riêng, dựa vào đó mà các nước tiến hành trao đổi, buôn bán với nhau. Và sự trao đổi
này diễn ra thông qua hoạt động xuất nhập khẩu.
Như vậy có thể nói, cùng với sự hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, hoạt động
buôn bán ngoại thương ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia.

5Là một bộ phận không thể thiếu của thương mại quốc tế, nhập khẩu được hiểu
là sự mua bán hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng
trong nước hoặc tạm nhập tái xuất nhằm thu lợi nhuận. Nó thể hiện sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thể giới. Thông qua
hoạt động nhập khẩu, các quốc gia bổ sung cho mình những hàng hóa trong nước
không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ cung cấp cho nhu cầu nội địa với chi
phí thấp hơn hay cung cấp nguyên liệu cho sản xuất trong nước. Như vậy trong xu
thế toàn cầu hoá và hội nhập, hoạt động nhập khẩu nói riêng và thương mại quốc tế
nói chung chính là cầu nối nền kinh tế trong nước với thế giới, biến nền kinh tế thế
giới thành nơi cung cấp các “yếu tố đầu vào” và tiêu thụ các “sản phẩm đầu ra”
trong hệ thống kinh tế toàn cầu.
1.1.1.2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam
Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và từng

Năm Tổng số

Nông - lâm - ngư nghiệp

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ
1990 100,00 38,74 22,67 38,59
1995 100,00 27,18 28,76 44,06
2000 100,00 24,53 36,73 38,74
2005 100,00 20,97 41,02 38,01
2006 100,00 20,36 41,56 38,08
2007 100,00 17,8 41,76 40,43
(Nguồn: Tổng cục thống kê và http://www.vietpartners.com/CtryBrief.htm)
Như vậy, nhập khẩu cũng đã có tác động thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá đất nước.
1.1.1.2.2. Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh
tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định
Một nền kinh tế muốn phát triển tốt cần đảm bảo sự cân đối theo những tỷ lệ
nhất định như cân đối giữa tiết kiệm và tiêu dùng, giữa hàng hoá và lượng tiền trong
lưu thông, giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong cán cân thanh toán quốc tế.
Nhập khẩu có tác động rất tích cựu thông qua việc cung cấp các điều kiện đầu
vào làm cho sản xuất phát triển, mặt khác tạo điều kiện để các quốc gia chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, tận
1.1.1.2.3. Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân

7

sách luật pháp quốc gia và quốc tế

8- Đây là hình thức đem lại lợi nhuận cao nhất do không mất chi phí trung gian
Thông thường, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng ngoại thương với đối
tác nước ngoài khi tiến hành nhập khẩu, còn hợp đồng bán trong nước sau khi hàng
về sẽ được lập hoặc không cần lập một hợp đồng nào khác khi bán với hình thức
như: bán lẻ hoặc trao tay.
1.1.2.2. Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp
trong nước có vốn, có nhu cầu nhập khẩu nhưng lại không có quyền tham gia vào
các quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp hay xét thấy nhập khẩu trực tiếp không có lợi
(bên uỷ thác), đã uỷ thác cho doanh nghiệp khác có chức năng trực tiếp giao dịch
ngoại thương (bên nhận uỷ thác) tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên
nhận uỷ thác có nghĩa vụ đàm đán ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, làm thủ
tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được nhận một khoản phí gọi là phí
uỷ thác. Quan hệ giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác được quy định đầy đủ trong
hợp đồng uỷ thác.
Đặc điểm của nhập khẩu uỷ thác:
- Theo hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu (bên nhận uỷ thác) hoạt động
theo danh nghĩa của mình nhưng chi phí của người khác (bên uỷ thác)
- Khối lượng công việc được giảm bớt cho các bên. Bên nhận uỷ thác không
phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ
đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch, đàm phán với đối tác nước ngoài, ký
hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa cũng như thay mặt cho bên uỷ thác khi

khẩu và thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho các bên.
Trong đó các bên cùng chia sẻ lợi nhuận.
Đặc điểm của nhập khẩu liên doanh:
- Các doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh chịu rủi ro thấp hơn so với nhập
khẩu tự doanh vì các doanh nghiệp trong trường hợp này cùng nhau chia sẻ rủi ro và
lợi nhuận
- Các doanh nghiệp dựa vào tỷ lệ vốn góp cũng như nghĩa vụ và quyền hạn
của mình để phân chia lãi lỗ.
- Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia vào liên doanh phỉa lập hai hợp
đồng: một hợp đồng mua hàng với nước ngoài, một hợp đồng liên doanh với các
doanh nghiệp khác.

101.1.2.5. Nhập khẩu đổi hàng
Nhập khẩu đổi hàng là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu theo
phương thức buôn bán đối lưu. Trong đó người bán đồng thời là người mua, lấy
hàng đổi hàng, giá trị hàng hoá mang trao đổi là tương đương.
Đặc điểm của nhập khẩu đổi hàng:
- Theo hình thức này, tiến hành đồng thời cả hoạt động xuất khẩu và nhập
khẩu, do đó có thể thu được lợi nhuận từ hai hoạt động này.
- Hoạt động xuất và nhập phải tương đương về mặt giá trị và đối tác xuất khẩu
đồng thời cũng là đối tác nhập khẩu.
1.1.2.6. Nhập khẩu đấu thầu
Nhập khẩu đấu thầu là hình thức giao dịch đặc biệt, trong đó doanh nghiệp
nhập khẩu đưa ra trước các điều kiện mua bán để các nhà xuất khẩu báo giá cả và

cũng giữ vai trò quan trọng không kém. Hoạt động này cung cấp cho doanh nghiệp
thông tin về nguồn hàng nhập khẩu, giá cả của hàng hoá của mỗi nhà cung cấp, chất
lượng hàng hoá, chi phí vận chuyển Nắm bắt tốt thông tin này sẽ giúp doanh
nghiệp tiết kiệm chi phí ở mức tối đa dựa trên sự so sánh chi phí giữa các nhà cung
cấp, từ đó tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nội
địa
Công việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp bao gồm:
- Lựa chọn mặt hàng nhập khẩu
- Nghiên cứu thị trường nội địa và các yếu tố ảnh hưởng đến dung lượng thị
trường
- Nghiên cứu quan hệ cung cầu hàng hoá đã lựa chọn và sự biến động của
chúng
- Nghiên cứu giá hàng hoá nhập khẩu và giá hàng hóa trong nước
- Lựa chọn nhà cung cấp
1.2.2. Lập phương án kinh doanh
Phương án kinh doanh trong ngoại thương là một bản giải trình về một thương
vụ kinh doanh, các biện pháp thực hiện, các cách đánh giá trên cơ sở một số chỉ
tiêu, định lượng cụ thể.
Quy trình lập phương án kinh doanh gồm năm bước:
- Đánh giá thị trường và mặt hàng
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ và điều kiện kinh doanh
- Đặt ra mục tiêu kinh doanh
- Đề ra các biện pháp thực hiện

12
131.2.3. Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng
 Đàm phán trong ngoại thương
Sau khi lập xong phương án kinh doanh, để tiến tới ký kết hợp đồng, bên bán và
bên mua phải tiến hành một quá trình giao dịch, thương thảo về các điều khoản.
Đàm phán trong ngoại thương là một quá trình mà các bên tiến hành thương
lượng, thảo luận, nhằm thống nhất các mối quan tâm chung và những điểm còn bất
đồng nhằm đem lại lợi ích cho các bên trong kinh doanh ngoại thương.
Đàm phán bao gồm các hình thức như:
- Đàm phán qua gặp gỡ trực tiếp: hình thức này có ưu điểm là đàm phán được
nhiều nội dung và giúp giải quyết nhanh chóng mọi quan hệ trong giao dịch và đôi
khi là lối thoát duy nhất cho các hình thức đàm phán khác đã kéo dài quá lâu mà
không đem lại kết quả. Tuy nhiên, đàm phán trực tiếp lại tốn chi phí lớn.
- Đàm phán qua thư tín: là phương thức mà các bên gửi cho nhau những văn
bản, để thảo thuận những điều kiện mua bán. Đàm phán theo hình thức này hiện nay
được áp dụng nhiều do đỡ tốn kém và không mất nhiều công sức. Tuy nhiên hình
thức này nên áp dụng cho những hợp đồng với giá trị thấp và cho những đối tác có
quan hệ lâu dài.
- Đàm phán qua các phương tiện truyền thông: Hình thức này khắc phục được
nhược điểm về chi phí so với những hình thức trên, thêm nữa đàm phán qua phương
tiện truyền thông được thực hiện một cách dễ dàng và nhanh chóng đảm bảo được tính
thời điểm.
 Ký kết hợp đồng ngoại thương
Hợp đồng ngoại thương là một văn bản ghi lại những nội dung các bên nhất trí
với nhau dưới dạng các điều khoản, điều kiện làm cam kết thực hiện.

một hoạt động xuất khẩu. Còn đối với bên nhập khẩu, thực hiện theo hợp đồng nhập
khẩu gồm có các công đoạn:
- Xin giấy phép nhập khẩu
- Làm thủ tục xác nhận thanh toán
- Thuê phương tiện vận tải (nếu có): bên nhập khẩu chịu trách nhiệm thuê
phương tiện vận tải nếu hợp đồng theo điều kiện EXW, FCA, FAS, FOB.
- Mua bảo hiểm (nếu có): Nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm mua bảo hiểm
trong các hợp đồng có điều kiện cơ sở giao hàng thuộc nhóm E, nhóm F và điều kiện
CIF, CIP.
- Làm thủ tục thanh toán (nếu có)
- Làm thủ tục thông quan

15- Giao nhận hàng
- Kiểm tra và nhập hàng
- Khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có)
1.2.5. Tổ chức triển khai bán hàng nhập khẩu
Sau khi đã nhập hàng về kho, doanh nghiệp cần nhanh chóng tiến hành tổ chức bán
hàng hoặc giao hàng cho các đơn vị đặt hàng. Việc làm này tiến hành càng nhanh thì
việc thu hồi vốn và tốc độ quay vòng vốn của doanh nghiệp càng nhanh, như vậy cũng
có nghĩa sẽ giảm được chi phí về kho bãi, chi phí cơ hội, chi phí bán hàng và sẽ làm tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để thực hiện tốt công tác bán hàng nhập khẩu, các doanh
nghiệp thường áp dụng marketing mix. Các tham số của Marketing Mix (marketing hỗn
hợp) bao gồm: sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến.
Sản phẩm là tham số quan trọng trong bốn tham số của marketing hỗn hợp. Việc

nội dung:
- Lựa chọn địa điểm;
- Lựa chọn và tổ chức kênh phân phối;
- Tổ chức và điều khiển quá trình phân phối hiện vật.
Xúc tiến là một trong bốn tham số quan trọng có thể kiểm soát được trong
marketing hỗn hợp. Hoạt động xúc tiến giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội phát
triển các mối quan hệ thương mại với các bạn hàng trong nước cũng như các bạn
hàng nước ngoài, là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường và tăng tính
cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị trường. Các hoạt
động xúc tiến sẽ tạo hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt khách hàng, lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp không ngừng tăng lên. Nó là công cụ hữu hiệu
giúp cho cung cầu gặp nhau, kích thích người tiêu dùng mua sản phẩm mà doanh
nghiệp kinh doanh. Nội dung của hoạt động xúc tiến bao gồm:
- Quảng cáo;
- Khuyến mại;
- Hội chợ triển lãm;
- Bán hàng trực tiếp;
- Quan hệ công chúng và các hoạt động khuếch trương khác.
1.2.6. Đánh giá kết quả nhập khẩu
Đánh giá kết quả kinh doanh là một hoạt động mà bất cứ một doanh nghiệp
nào cũng phải thực hiện nhằm xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Từ những phân tích về các chỉ tiêu doanh thu,
lợi nhuận, chi phí, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu doanh nghiệp có thể rút ra được

17
là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng và quan trọng nhất. Lợi nhuận được thể hiện
dưới hai dạng số tuyệt đối và số tương đối.
 Ở dạng tuyệt đối, lợi nhuận là hiệu số giữa khoản doanh thu và chi phí
bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Công thức tính lợi nhuận nhập khẩu như sau:
P = TR - TC
Trong đó: P : Lợi nhuận
TR : Tổng doanh thu nhập khẩu
TC : Tổng chi phí nhập khẩu
Doanh nghiệp phải thống kê đầy đủ chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện
hợp đồng nhập khẩu đồng thời phải tính đến giá trị của tiền theo thời gian và mức
lạm phát của đồng tiền.
 Ở dạng tương đối được thể hiện bằng tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi
nhuận có thể tính theo: giá thành, vốn sản xuất hoặc doanh thu.

18- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính theo giá thành phản ánh mức lợi nhuận thu được
từ một đơn vị chi phí cho hoạt động nhập khẩu (hiệu quả của một đồng chi phí)
P
Z
=
P
Z

Trong đó:

dt
=
P
D

Trong đó:
P
dt
: Tỷ suất lợi nhuận tính theo doanh thu
D: Doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm.
1.2.6.3. Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn
Thời gian hoàn vốn hoặc thời gian bù vốn là một chỉ số hiệu quả kinh tế đơn
giản và được sử dụng tương đối phổ biến trong đánh giá hoạt động kinh doanh.
Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian mà vốn đầu tư bỏ ra kinh doanh có thể
thu hồi được, nhờ lợi nhuận và khấu hao cơ bản thu được hàng năm
T
V
=
V
dt
(P + K
C
+ I) 19


vì những yếu tố thuộc tiềm lực bên trong của mỗi doanh nghiệp. Tiềm lực của
doanh nghiệp không phải là bất biến, có thể phát triển mạnh lên hay yếu đi, có thể
thay đổi toàn bộ (tổng quát) hay bộ phận (một vài yếu tố). Để đánh giá, phân tích
tiềm lực của doanh nghiệp có thể dựa vào các yếu tố cơ bản sau:

201.3.1.1. Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối
lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng
phân phối (đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả các
nguồn vốn trong kinh doanh thể hiện qua các chỉ tiêu: vốn chủ sở hữu (vốn tự có),
vốn huy động, tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận, giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị
trường, khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn, các tỷ lệ về khả năng sinh lợi…
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện
quan trọng nhất để xếp doanh nghiệp vào loại quy mô lớn, trung bình, nhỏ hay siêu
nhỏ và cũng là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có
và tương lai về sức lao động, nguồn hàng, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng
lưu thông hàng hoá, là điều kiện để phát triển kinh doanh quốc tế.
Vốn là một nhân tố quan trọng trong sản xuất và nó quyết định đến tốc độ tăng
sản lượng của doanh nghiệp. Nó cũng là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài
năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp; nó là điều kiện để thực hiện các chiến lược,
sách lược kinh doanh; nó cũng là chất keo để nối chắp, kết dính các quá trình, các
quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhớt bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động.
1.3.1.2. Trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên
Đây là những người hoạt động theo nghiệp vụ chuyên môn. Đối với công nhân

có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, giá thành và chất lượng hàng hoá được
đưa ra đáp ứng khách hàng. Liên quan đến mức độ (chất lượng) thoả mãn nhu cầu, khả
năng cạnh tranh, lựa chọn cơ hội và các tác nghiệp khác của doanh nghiệp trên thị
trường.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định của doanh nghiệp có
thể huy động vào kinh doanh như thiết bị, nhà xưởng, văn phòng… phản ánh tiềm
lực vật chất và liên quan đến quy mô, khả năng, lợi thế kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.3.1.5. Tiềm lực vô hình
Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp chính là uy tín, vị thế của doanh nghiệp
trên thương trường, thương hiệu, các mối quan hệ của doanh nghiệp…Lợi thế vô
hình này của doanh nghiệp không phải có ngay khi mới thành lập mà được hình
thành trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp. Tiềm
lực này không thể nhìn thấy hay định giá nhưng nó lại đóng vai trò quyết định đến
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế.

221.3.2. Các nhân tố bên ngoài
1.3.2.1. Các nhân tố trong nước
Đây là nhóm các nhân tó ảnh hưởng không chịu sự kiểm soát của doanh
nghiệp do vậy mà doanh nghiệp phải tìm cách thích nghi với nó. Các nhân tố đó là:
• Chính trị và luật pháp
Để thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải phân tích dự đoán
về chính trị và luật pháp cùng xu hướng vận động của nó bao gồm:
- Sự ổn định về chính trị;

xuất khẩu.
- Các thủ tục hành chính như thủ tục xin giấy phép, thủ tục hải quan…
• Yếu tố kỹ thuật và công nghệ
Yếu tố kỹ thuật và công nghệ làm cơ sở cho yếu tố kinh tế là sức mạnh dẫn
đến sự ra đời sản phẩm mới sẽ tác động vào mô thức tiêu thụ và hệ thống bán hàng.
Ngược lại, yếu tố kỹ thuật bị ảnh hưởng của cách thức quản lý vĩ mô.
• Yếu tố tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu của doanh
nghiệp. Nó có thể làm thay đổi kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh
nghiệp. Một sự thay đổi tỷ giá có thể đẩy mạnh hoặc kìm hãm hoạt động nhập khẩu.
Tỷ giá thay đổi trong thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể làm cho doanh
nghiệp thu được lợi nhuận cao hoặc lỗ trong hợp đồng.
Khi ký kết hợp đồng, doanh nghiệp cần chú ý đến tỷ giá. Nếu tỷ giá lớn hơn tỷ
suất ngoại tệ thì doanh nghiệp có thể thực hiện hợp đồng và ngược lại. Mặt khác doanh
nghiệp cần chú ý đến tỷ giá hối đoái, có các dự báo về tỷ giá để tránh sự biến động của
tỷ giá.
• Mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước
Sự cạnh tranh một mặt có tác dụng thúc đẩy sự vươn lên của các doanh nghiệp,
mặt khác nó chèn ép, đè bẹp những doanh nghiệp yếu kém. Mức độ cạnh tranh được
thể hiện ở số lượng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nhập khẩu cùng ngành hoặc
mặt hàng và khối lượng hàng hoá mà doanh nghiệp đó bán trên thị trường trong nước.
Ngoài ra, các doanh nghiệp nhập khẩu còn phải chịu sự cạnh tranh từ chính những
doanh nghiệp sản xuất trong nước. Do đó, khả năng cạnh tranh là yếu tố sống còn của
doanh nghiệp.
• Trình độ phát triển thông tin liên lạc
Đây là các nhân tố rất quan trọng, nó phục vụ hữu hiệu cho hoạt động xuất nhập
khẩu. Đó là những thông tin về trình độ phát triển của hệ thống thông tin liên lạc, hệ 251.4. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHÔI THÉP ĐỐI VỚI NGÀNH
THÉP VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
1.4.1. Sơ lược ngành thép Việt Nam
Ngành thép Việt Nam được xây dựng từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20 bắt
đầu bằng việc hình thành khu liên hợp gang thép Thái Nguyên với sự giúp đỡ của
Trung Quốc năm 1959. Đến năm 1963 khu liên hợp gang thép Thái Nguyên cho ra
đời mẻ thép cán đầu tiên. Khu liên hiệp gang thép Thái Nguyên được xây dựng trên
cơ sở công nghệ truyền thống (lò cao) với nguồn nguyên liệu quặng sắt trong nước.
Do chiến tranh, việc xây dựng dở dang kéo dài không đồng bộ cho tới những năm
cuối của thập kỷ 80, công suất sản xuất thép của Khu liên hợp gang thép Thái
nguyên chỉ có công suất luyện cán thép 100.000 tấn/năm.
Năm 1976, Công ty luyện kim đen miền Nam được thành lập trên cơ sở tiếp quản
các nhà máy luyện, cán thép mini của chế độ cũ để lại ở thành phố Hồ Chí Minh và
Biên Hòa, sử dụng công nghệ lò điện với tổng công suất khoảng 80.000 tấn thép
cán/năm.
Giai đoạn từ 1976 đến 1989: Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất
nước lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển được và chỉ duy trì mức
sản lượng từ 40 ngàn đến 85 ngàn tấn thép/năm.
Giai đoạn từ 1989 đến 1995: Thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng
và Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước đã vượt
mức trên 100 ngàn tấn/năm. Tuy nhiên, sản phẩm thép cung cấp trong nước vẫn còn
khá đơn điệu, thép xây dựng là sản phẩm chủ yếu và truyền thống.
Từ 1996 trở lại đây: Ngành thép vẫn giữ được mức độ tăng trưởng khá cao,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status