LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với chính sách mở cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nước đã tạo tiền đề cho
kinh tế đối ngoại phát triển, giúp Việt Nam hoà mình vào xu thế phát triển chung của
khu vực và thế giới. Ngoại thương ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế của Việt Nam đặc biệt là trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện
đại hoá như hiện nay. Thông qua ngoại thương, đặc biệt là hoạt động nhập khẩu,
ngành công nghiệp còn non trẻ của chúng ta có điều kiện bổ sung những nguồn lực
cho sản xuất nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nước.
Là một trong những ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam, ngành thép
cũng đang đứng trước những thách thức của quá trình hội nhập. Mặc dù được quan
tâm phát triển ngay từ khi mới ra đời nhưng với sự lệch lạc trong quá trình phát triển
đã khiến cho đến nay ngành thép Việt Nam phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên
liệu nhập khẩu. Các doanh nghiệp thép Việt Nam trong một thời gian dài chỉ quan
tâm đến đầu tư vào các nhà máy cán thép mà bỏ qua đầu tư sản xuất phôi thép để
đến nay khả năng sản xuất phôi của Việt Nam chỉ chiếm 40% nhu cầu trong nước.
Với việc phụ thuộc lớn vào lượng phôi nhập khẩu trong điều kiện có nhiều biến
động phức tạp của thị trường thép thế giới, hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Việt
Nam có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành thép nội địa.
Với vị trí hỗ trợ nhà nước trong việc điều tiết thị trường thép Việt Nam, Tổng công
ty Thép đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ngành thép. Mặc dù đã có sự quan
tâm sớm đến hoạt động sản xuất phôi thép nhưng hiện nay nhập khẩu vẫn được coi là
hoạt động thường nhật của Tổng công ty thép. Với mong muốn tìm hiểu về hoạt động
nhập khẩu phôi thép cũng như những tác động của quá trình hội nhập đến ngành thép
thông qua hoạt động này, em đã chọn đề tài “Hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Văn
phòng Tổng công ty Thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
1
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
1.1.1. Nhập khẩu và vai trò của nhập khẩu trong điều kiện hội nhập
1.1.1.1. Sự cần thiết của nhập khẩu trong điều kiện hội nhập
Ngày nay, cùng với sự phát triển và mở rộng không ngừng của quá trình quốc tế
hoá và toàn cầu hoá, các quốc gia trên thế giới không còn là các quốc gia đơn lẻ nữa
mà trở thành một trong những mắc xích quan trọng trong mạng lưới kinh tế, chính trị
toàn cầu.
Khoa học công nghệ và kỹ thuật không ngừng tiến bộ và phát triển nhưng nó lại
không tập trung hoàn toàn ở bất cứ quốc gia nào. Mỗi một quốc gia nhiều hay ít đều
nắm giữ riêng cho mình một công nghệ, một bí quyết sản xuất riêng hay một thế
mạnh đặc thù. Do đó, để có thể cùng nhau chia sẻ sự tiến bộ của khoa học công nghệ,
các quốc gia phải tham gia vào thương mại quốc tế mà hình thức cụ thể là thông qua
hoạt động xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó, dựa vào vị trí địa lý cũng như tài nguyên thiên nhiên của mình,
mỗi quốc gia xác định được thế mạnh riêng. Những nước có giàu tài nguyên thì đẩy
mạnh khai thác nó (các nước dầu mỏ OPEC), những nước kém tài nguyên thì lại lựa
chọn cho mình con đường sử dụng nguồn nhân lực của mình để phát triển (Nhật
Bản). Chính từ sự khác nhau đó, các nước hình thành nên những lợi thế so sánh riêng,
dựa vào đó mà các nước tiến hành trao đổi, buôn bán với nhau. Và sự trao đổi này
diễn ra thông qua hoạt động xuất nhập khẩu.
Như vậy có thể nói, cùng với sự hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, hoạt động
buôn bán ngoại thương ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia.
3Là một bộ phận không thể thiếu của thương mại quốc tế, nhập khẩu được hiểu
là sự mua bán hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng
trong nước hoặc tạm nhập tái xuất nhằm thu lợi nhuận. Nó thể hiện sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thể giới. Thông qua hoạt
luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu hàng nhập khẩu. Điều này góp phần thúc đẩy nền
công nghiệp trong nước phát triển, làm tăng tỷ lệ đóng góp của ngành trong cơ cấu
GDP cả nước.
Bảng 1: GDP phân theo khu vực kinh tế
Đơn vị: %
Năm Tổng số Nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
1990 100,00 38,74 22,67 38,59
1995 100,00 27,18 28,76 44,06
2000 100,00 24,53 36,73 38,74
2005 100,00 20,97 41,02 38,01
2006 100,00 20,36 41,56 38,08
2007 100,00 17,8 41,76 40,43
(Nguồn: Tổng cục thống kê và />Như vậy, nhập khẩu cũng đã có tác động thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá đất nước.
1.1.1.2.2. Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế
đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định
Một nền kinh tế muốn phát triển tốt cần đảm bảo sự cân đối theo những tỷ lệ
nhất định như cân đối giữa tiết kiệm và tiêu dùng, giữa hàng hoá và lượng tiền trong
lưu thông, giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong cán cân thanh toán quốc tế.
Nhập khẩu có tác động rất tích cựu thông qua việc cung cấp các điều kiện đầu
vào làm cho sản xuất phát triển, mặt khác tạo điều kiện để các quốc gia chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, tận
1.1.1.2.3. Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân
Nhập khẩu có vai trò làm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của nhân dân về
hàng tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng đủ
5nhu cầu. Thông qua nhập khẩu, nhân dân có nhiều sự lựa chọn sản phẩm hơn cho
cuộc sống, góp phần giảm bớt khoảng cách về mức sống so với các nước khác.
nước ngoài khi tiến hành nhập khẩu, còn hợp đồng bán trong nước sau khi hàng về sẽ
được lập hoặc không cần lập một hợp đồng nào khác khi bán với hình thức như: bán
lẻ hoặc trao tay.
1.1.2.2. Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp
trong nước có vốn, có nhu cầu nhập khẩu nhưng lại không có quyền tham gia vào các
quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp hay xét thấy nhập khẩu trực tiếp không có lợi (bên
uỷ thác), đã uỷ thác cho doanh nghiệp khác có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại
thương (bên nhận uỷ thác) tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ
thác có nghĩa vụ đàm đán ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, làm thủ tục nhập
khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được nhận một khoản phí gọi là phí uỷ thác.
Quan hệ giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng
uỷ thác.
Đặc điểm của nhập khẩu uỷ thác:
- Theo hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu (bên nhận uỷ thác) hoạt động
theo danh nghĩa của mình nhưng chi phí của người khác (bên uỷ thác)
- Khối lượng công việc được giảm bớt cho các bên. Bên nhận uỷ thác không
phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ
đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch, đàm phán với đối tác nước ngoài, ký
hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa cũng như thay mặt cho bên uỷ thác khi
có tranh chấp xảy ra với đối tác nước ngoài.
- Doanh nghiệp nhập khẩu phải làm hai hợp đồng: một hợp đồng nhập khẩu với
đối tác nước ngoài, một hợp đồng uỷ thác với bên uỷ thác
- Lợi nhuận của hoạt đồng nhập khẩu này sẽ bị chia sẻ cho các bên, bên uỷ thác
sẽ trả cho bên nhận uỷ thác thông thường là từ 0.5% - 1.5% giá trị hợp đồng.
71.1.2.3. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu vào một nước nhưng không phải để
1.1.2.5. Nhập khẩu đổi hàng
Nhập khẩu đổi hàng là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu theo phương
thức buôn bán đối lưu. Trong đó người bán đồng thời là người mua, lấy hàng đổi
hàng, giá trị hàng hoá mang trao đổi là tương đương.
Đặc điểm của nhập khẩu đổi hàng:
- Theo hình thức này, tiến hành đồng thời cả hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu,
do đó có thể thu được lợi nhuận từ hai hoạt động này.
- Hoạt động xuất và nhập phải tương đương về mặt giá trị và đối tác xuất khẩu
đồng thời cũng là đối tác nhập khẩu.
1.1.2.6. Nhập khẩu đấu thầu
Nhập khẩu đấu thầu là hình thức giao dịch đặc biệt, trong đó doanh nghiệp nhập
khẩu đưa ra trước các điều kiện mua bán để các nhà xuất khẩu báo giá cả và các điều
kiện kèm theo của mình. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp nhập khẩu có thể lựa chọn
được nhà cung cấp phù hợp nhất.
Đặc điểm:
- Chỉ có một người mua nhưng nhiều người bán do đó thông qua đấu thầu phát
huy được tính cạnh tranh giữa các nhà cung cấp và ngươờ mua sẽ có lợi hơn trong
việc lựa chọn nhà cung cấp phù hợp nhất cho mình
- Tuy nhiên theo hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu tốn thêm công đoạn tổ
chức đấu thầu và lựa chọn nhà cung cấp.
1.2. CÁC BƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU
1.2.1. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là việc đầu tiên mà mỗi doanh nghiệp phải làm khi tham
gia vào thị trường. Mục đích của hoạt động này là nhằm xác định nhu cầu của thị
trường và khả năng thanh toán trên địa bàn nhất định mà doanh nghiệp dự định kinh
doanh.
Kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường sẽ đem lại cho doanh nghiệp
những thông tin sát thực nhất về lượng cung và lượng cầu hiện tại cũng như tương lai
của thị trường.
9
- Phân tích các chỉ tiêu cơ bản
10Dựa vào kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp tiến hành
lập phương án kinh doanh hàng nhập khẩu một cách chi tiết. Phương án kinh doanh
sẽ phải đưa ra được chi tiết về:
- Kế hoạch kinh doanh mặt hàng: Trong bước này cần xác định được mặt hàng
kinh doanh là mặt hàng gì, nhãn hiệu bao bì đóng gói như thế nào, quy cách phẩm
chất của hàng hoá, khối lượng dự định sẽ kinh doanh. Khối lượng hàng kinh doanh
của doanh nghiệp cần xác định dựa vào nhu cầu có khả năng thanh toán của thị
trường chứ không phải dựa vào nhu cầu thị trường.
- Kế hoạch nhập khẩu hàng hóa: Trên cơ sở đã xác định được loại hàng hoá
kinh doanh, chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá, và khối lượng hàng hoá kinh doanh.
Doanh nghiệp cần phải lựa chọn nguồn hàng sao cho doanh nghiệp có thể đạt được
nhiều lợi nhuận nhất, chi phí thấp nhất mà vẫn đáp ứng được những yêu cầu đã đặt ra
cho hàng hoá. Cần phải lập kế hoạch cụ thể về hình thức nhập khẩu, phương thức
chuyển chở, phương thức thanh toán, thời gian ký kết hợp đồng, các điều kiện giao
hàng sao cho đảm bảo nguồn hàng được ổn định.
- Kế hoạch bán hàng: Trong bước này, doanh nghiệp cần tính toán thật kỹ lưỡng
về chi phí kinh doanh bỏ ra cho từng loại mặt hàng, lợi nhuận dự kiến trên từng đơn
vị hàng hoá, từ đó sẽ đưa ra một mức giá bán dự kiến cho từng loại hàng, kế đó là
tính tổng doanh thu và tổng lợi nhuận có thể đạt được với từng mức giá và mức lợi
nhuận dự kiến cho mỗi đơn vị hàng hoá. Tuy nhiên, việc tính toán chi phí kinh doanh
và lợi nhuận dự kiến vào giá bán phải dựa vào giá bán hiện tại của hàng hoá trên thị
trường để đảm bảo sao cho khi hàng hoá được bán ra thị trường có được mức giá
cạnh tranh nhất, hợp lý nhất.
- Kế hoạch dự trữ đầu kỳ và cuối kỳ: Đây là khâu rất quan trọng trong việc lập kế
hoạch kinh doanh, vì nó là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp được ổn định, liên tục và đạt hiệu quả cao, thêm đó
các bên có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau
Ký kết hợp đồng ngoại thương là hoạt động xác nhận nội dung và những điều
kiện mua bán đã được thống nhất dưới dạng văn bản theo những điều khoản và điều
kiện.
12Các hình thức ký kết hợp đồng ngoại thương bao gồm:
- Ký kết trực tiếp: hai bên cùng tổ chức tại một địa điểm và trong một khung
cảnh để ký xác nhận
- Ký kết gián tiếp: thông thường một bên ký trước gửi lại cho bên kia ký sau,
thậm chí ký qua fax, qua mail.
Sau khi ký xong, hợp đồng chính thức có hiệu lực và ràng buộc trách nhiệm
pháp lý của các bên tham gia vào giao dịch của hợp đồng. Đây cũng là cơ sở pháp lý
để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó, hợp
đồng ngoài thương phải được các bên xem xét kỹ lưỡng về từng điều khoản và điều
kiện.
1.2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Hợp đồng thương mại quốc tế là kết quả của một quá trình nghiên cứu thị
trường, xác nhận nhu cầu, lựa chọn đối tác, lập phương án kinh doanh, tiến hành giao
dịch đàm phán và ký kết hợp đồng. Thực hiện hợp đồng thể hiện trách nhiệm của mỗi
bên đối với những thoả thuận và cam kết của mình trong giao dịch. Đây là một mắc
xích quan trọng trong cả quá trình giao dịch.
Trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, các bên sẽ tiến hành thực hiện hợp đồng đã
ký. Bên xuất khẩu chịu trách nhiệm giao hàng cho bên nhập khẩu theo trình tự của
một hoạt động xuất khẩu. Còn đối với bên nhập khẩu, thực hiện theo hợp đồng nhập
khẩu gồm có các công đoạn:
- Xin giấy phép nhập khẩu
- Làm thủ tục xác nhận thanh toán
- Thuê phương tiện vận tải (nếu có): bên nhập khẩu chịu trách nhiệm thuê
hàng, bán hàng, chi phí và lợi nhuận. Trong khi hoạch định chiến lược, chính sách và
kiểm soát giá cả cần phải chú trọng đến các vấn đề như:
- Các mục tiêu đặt giá;
- Chính sách đặt giá;
- Phương pháp tính giá.
Để bán được hàng tốt, doanh nghiệp cần phải thoả mãn rất nhiều yêu cầu từ phía
khách hàng. Khách hàng không chỉ cần sản phẩm tốt và giá đúng mà còn cần đáp ứng
được thời gian và địa điểm đúng. Địa điểm là một nội dung quan trọng mà hệ thống
14marketing của doanh nghiệp cần phải giải quyết tốt trong chiến lược marketing của
mình. Các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm và có nhiều thành công trong lĩnh vực bán
hàng đã đưa ra lời khuyên: “Muốn thành công, hãy chú ý đến địa điểm, luôn chú ý đến
địa điểm và địa điểm”. Thực ra, địa điểm rất quan trọng vì nó liên quan đến các quyết
định về phân phối hàng hoá và khả năng bán hàng của doanh nghiệp. Khi xây dựng
chiến lược về địa điểm và phân phối hàng hoá cần phải nghiên cứu và giải quyết tốt các
nội dung:
- Lựa chọn địa điểm;
- Lựa chọn và tổ chức kênh phân phối;
- Tổ chức và điều khiển quá trình phân phối hiện vật.
Xúc tiến là một trong bốn tham số quan trọng có thể kiểm soát được trong
marketing hỗn hợp. Hoạt động xúc tiến giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội phát
triển các mối quan hệ thương mại với các bạn hàng trong nước cũng như các bạn
hàng nước ngoài, là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường và tăng tính
cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị trường. Các hoạt
động xúc tiến sẽ tạo hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt khách hàng, lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp không ngừng tăng lên. Nó là công cụ hữu hiệu giúp cho
cung cầu gặp nhau, kích thích người tiêu dùng mua sản phẩm mà doanh nghiệp kinh
doanh. Nội dung của hoạt động xúc tiến bao gồm:
DT
NK
: Doanh thu nội tệ do nhập khẩu
CP
NK
: Chi phí ngoại tệ chi ra và cho vay
1.2.6.2. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp kết quả của từng hợp đồng xuất khẩu,
là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng và quan trọng nhất. Lợi nhuận được thể hiện
dưới hai dạng số tuyệt đối và số tương đối.
Ở dạng tuyệt đối, lợi nhuận là hiệu số giữa khoản doanh thu và chi phí bỏ
ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Công thức tính lợi nhuận nhập khẩu như sau:
P = TR - TC
Trong đó: P : Lợi nhuận
TR : Tổng doanh thu nhập khẩu
TC : Tổng chi phí nhập khẩu
Doanh nghiệp phải thống kê đầy đủ chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện
hợp đồng nhập khẩu đồng thời phải tính đến giá trị của tiền theo thời gian và mức
lạm phát của đồng tiền.
Ở dạng tương đối được thể hiện bằng tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận
có thể tính theo: giá thành, vốn sản xuất hoặc doanh thu.
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính theo giá thành phản ánh mức lợi nhuận thu được từ
một đơn vị chi phí cho hoạt động nhập khẩu (hiệu quả của một đồng chi phí)
16P
Z
=
D: Doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm.
1.2.6.3. Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn
Thời gian hoàn vốn hoặc thời gian bù vốn là một chỉ số hiệu quả kinh tế đơn
giản và được sử dụng tương đối phổ biến trong đánh giá hoạt động kinh doanh.
Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian mà vốn đầu tư bỏ ra kinh doanh có thể
thu hồi được, nhờ lợi nhuận và khấu hao cơ bản thu được hàng năm
T
V
=
Trong đó:
K
C
: Mức khấu hao hàng năm
I : Khoản tiền trả tiền lợi tức
V
dt
: Tổng số tiền (kể cả tự có và đi vay) bỏ ra để kinh doanh
P : Lợi nhuận thu được trong năm
17T
V
: Thời gian hoàn vốn (năm)
Để đơn giản trong quá trình tính toán, người ta không tính đến tỷ lệ lãi, nghĩa là
lãi suất được coi bằng 0 và khi đó I = 0. Theo đó, trong mọi trường hợp, hoạt động
nhập khẩu được coi là có hiệu quả cao khi thời gian hoàn vốn là ngắn.
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
Sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nếu không tính
đến vận may, nó chỉ xuất hiện khi kết hợp hài hoà các yếu tố bên trong với hoàn cảnh
Vốn là một nhân tố quan trọng trong sản xuất và nó quyết định đến tốc độ tăng
sản lượng của doanh nghiệp. Nó cũng là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài
năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp; nó là điều kiện để thực hiện các chiến lược,
sách lược kinh doanh; nó cũng là chất keo để nối chắp, kết dính các quá trình, các
quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhớt bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động.
1.3.1.2. Trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên
Đây là những người hoạt động theo nghiệp vụ chuyên môn. Đối với công nhân
là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, nếu tay nghề tốt thì sản phẩm làm ra đạt kết
quả chất lượng cao. Đối với cán bộ thì phải có nghiệp vụ chuyên môn giỏi để có thể
giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng. Doanh nghiệp có thể đào tạo đội ngũ cán bộ
công nhân viên đạt trình độ cao để phục vụ cho hoạt động nhập khẩu.
1.3.1.3. Trình độ tổ chức, quản lý
Trình độ tổ chức quản lý là sự hoàn hảo của cấu trúc tổ chức, tính hiệu quả của hệ
thống quản lý và công nghệ quản lý. Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống với những mối
liên kết chặt chẽ với nhau hướng tới mục tiêu. Một hệ thống là tập hợp các phần tử (bộ
phận, chức năng, nhiệm vụ). Một doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu của mình thì
đồng thời phải đạt đến một trình độ tổ chức, quản lý tương ứng. Khả năng tổ chức, quản lý
doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp, bao quát tập trung vào những mối quan hệ
tương tác của tất cả các bộ phận tạo thành tổng thể, tạo nên sức mạnh thực sự cho doanh
nghiệp.
Trình độ tổ chức, quản lý ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Người lãnh đạo cần phải xây dựng được chiến lược kinh doanh và đề ra các
chính sách kinh doanh giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn phương thức
19hành động. Cần phải biết nhìn xa, trông rộng để xây dựng được các chiến lược kinh
doanh hợp lý, tổ chức nhân sự cho phù hợp với quy mô, tính chất của hoạt động sản
xuất kinh doanh, phù hợp với trình độ quản lý, kỹ năng quản trị doanh nghiệp.
- Vai trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ;
- Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế;
- Sự phát triển các quyết định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Hệ thống luật pháp, sự hoàn thiện và hiệu lực thi hành chúng.
• Chính sách kinh tế của Nhà nước
Chế độ chính sách trong nước giữ vai trò quan trọng vì nó quyết định đến sự
thuận lợi hay khó khăn cho doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh nhập khẩu. Trong
điều kiện hiện nay, các chính sách kinh tế của nhà nước thường hướng đến mục tiêu
thúc đẩy xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước với những ngành được coi là trọng
điểm.
Các chính sách của nhà nước ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh
nghiệp là:
- Chính sách nhập khẩu của nhà nước bao gồm chính sách thuế nhập khẩu, hạn
ngạch nhập khẩu, quy định về nhóm mặt hàng được khuyến khích nhập khẩu, nhóm
mặt hàng hạn chế nhập khẩu và cấm nhập khẩu.
- Chính sách tỷ giá hối đoái: đây là một yếu tố vô cùng quan trọng và ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Tác động của tỷ giá hối
đoái lên hoạt động nhập khẩu như sau: nếu đồng ngoại tệ giảm giá tức là với một
lượng nội tệ như cũ, doanh nghiệp mua được nhiều ngoại tệ hơn do đó có nhiều
nguồn vốn hơn để kinh doanh hàng nhập khẩu, đây là một trong những biện pháp
khuyến khích nhập khẩu. Và ngược lại khi đồng ngoại tệ tăng giá, nó khuyến khích
xuất khẩu.
- Các thủ tục hành chính như thủ tục xin giấy phép, thủ tục hải quan…
• Yếu tố kỹ thuật và công nghệ
Yếu tố kỹ thuật và công nghệ làm cơ sở cho yếu tố kinh tế là sức mạnh dẫn đến
sự ra đời sản phẩm mới sẽ tác động vào mô thức tiêu thụ và hệ thống bán hàng.
Ngược lại, yếu tố kỹ thuật bị ảnh hưởng của cách thức quản lý vĩ mô.
• Yếu tố tỷ giá hối đoái
21
hoặc không ký kết được hợp đồng, khó thực hiện hoặc thuận lợi khi thực hiện hợp
đồng.
• Chính sách thương mại của nước xuất khẩu sẽ có thể khuyến khích hoặc hạn
chế hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Nếu chính sách đó cấm hoặc hạn chế
xuất khẩu hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh thì gây khó khăn rất lớn cho doanh
nghiệp kinh doanh và ngược lại.
• Sự biến động của thế giới về mặt hàng mà doanh nghiệp nhập khẩu: Toàn cầu
hoá và hội nhập khiến cho giữa cho sự phụ thuộc và tác động của các nước với nhau
ngày càng cao. Những biến động của thị trường sản phẩm nhập khẩu hay những biến
động của hàng hoá liên quan đều có tính chất lan truyền và ảnh hưởng đến nền kinh
tế thế giới. Do đó, hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp cũng chịu sự tác động của
những biến động thế giới.
Trên đây là những nhân tố chính ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh
nghiệp. Các nhân tố có ảnh hưởng khác nhau có tác động khác nhau tạo nên sự phức
tạp và khó khăn trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Vì vậy các doanh
nghiệp phải thường xuyên nắm bắt những thay đổi để phản ứng kịp thời tránh những
rủi ro đáng tiếc xảy ra khi tham gia hoạt động nhập khẩu.
1.4. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHÔI THÉP ĐỐI VỚI NGÀNH
THÉP VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
1.4.1. Sơ lược ngành thép Việt Nam
Ngành thép Việt Nam được xây dựng từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20 bắt
đầu bằng việc hình thành khu liên hợp gang thép Thái Nguyên với sự giúp đỡ của
Trung Quốc năm 1959. Đến năm 1963 khu liên hợp gang thép Thái Nguyên cho ra
đời mẻ thép cán đầu tiên. Khu liên hiệp gang thép Thái Nguyên được xây dựng trên
cơ sở công nghệ truyền thống (lò cao) với nguồn nguyên liệu quặng sắt trong nước.
Do chiến tranh, việc xây dựng dở dang kéo dài không đồng bộ cho tới những năm
cuối của thập kỷ 80, công suất sản xuất thép của Khu liên hợp gang thép Thái nguyên
chỉ có công suất luyện cán thép 100.000 tấn/năm.
hiện đại vào năm 2020, công nghiệp thép được xác định một số tiêu chí như sau:
- GDP bình quân đầu người: 1.500 USD
24- Nhu cầu tiêu thụ thép: 21 triệu tấn (dài/dẹt=50/50)
- Tiêu thụ thép bình quân đầu người: 200 kg
- Sản xuất thép thô: 10 triệu tấn.
- Sản xuất thép cán trong nước đáp ứng 50% nhu cầu thép dẹt và 80% nhu cầu
thép dài.
- Cơ cấu sản xuất sản phẩm dài/dẹt là: 62/38.
- Công nghệ: xây dựng nhà máy thép liên hợp BF-BOF 4,5 triệu tấn/năm và một
vài trung tâm sản xuất thép lò điện Mini-mill (tỷ lệ thép sản xuất lò BOF/EAF là
60/40).
1.4.2. Công nghệ sản xuất thép
Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng đồng thời hai quy trình công nghệ sản xuất
thép. Đó là công nghệ lò cao truyền thống và công nghệ lò điện, cả hai công nghệ này
đều cho bán thành phẩm là phôi thép.
• Sản xuất theo công nghệ lò điện: nguyên liệu đầu vào là thép phế và được
thực hiện theo quy trình sau: Thép phế - > lò điện hồ quang - > lò thùng - > đúc
liên tục - > Phôi thép - > nung phôi - > cán thép - > Thép thành phẩm
Như vậy, muốn tạo ra thép thành phẩm thì phải sản xuất được phôi thép. Tuy
nhiên, hiện nay lượng thép phế trong nước không cung cấp đủ. Ở nước ta, nguồn thép
phế trong nước đã bị khai thác để xuất khẩu và sử dụng trong thời kỳ chiến tranh và
đang dần cạn kiệt. Còn thép phế thải từ sản xuất và tiêu dùng trong xã hội rất hạn chế
do nền kinh tế còn kém phát triển, hàng năm chúng ta chỉ thu gom được 300.000
Tấm/năm. Theo ước tính, hàng năm chúng ta cần 2,2 – 2,4 triệu tấn thép phế để phục
vụ cho sản xuất phôi thép từ đó tạo ra thép thành phẩm, tuy nhiên trong nước mới chỉ
đáp ứng được 800.000 Tấn/năm, số còn lại thì phải nhập khẩu.
• Sử dụng công nghệ lò cao truyền thống: nguyên liệu đầu vào là quặng sắt. Tại