Ch ơng 1
Những vấn đề lý luận chung về tổ chức công tác kế toán
nhập khẩu hàng hoá tại các doanh nghiệp kinh
doanhxuất nhập khẩu
1.1. Nhập khẩu hàng hoá và vai trò của nó trong hoạt động kinh doanh ở các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng nh trong toàn bộ nền kinh tế
Quốc dân
Sự phân công lao động Quốc tế ngày càng rõ nét khiến các Quốc gia xích lại
gần nhau hơn. Mỗi quốc gia đợc tự nhiên ban tặng những lợi thế nhất định tạo
thành thế mạnh kinh tế của mỗi quốc gia đó. Nhng nếu chỉ dựa vào sản xuất trong
nớc thì không thể cung cấp đầy đủ hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nh cầu sản xuất tiêu
dùng. Vì vậy để thúc đẩy sự tăng trởng của nền kinh tế thì ngoài những hàng hoá là
thế mạnh, mỗi quốc gia cần nhập khẩu những hàng hoá thiết yếu khác phục vụ cho
sản xuất và tiêu dùng. Ngợc lại trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế vốn có sản
xuất những mặt hàng thế mạnh, một mặt phục vụ nhu cầu trong nớc, mặt khác xuất
khẩu phần thặng d ra nớc ngoài thu ngoài tệ để nhập khẩu những thứ trong nớc có
nhu cầu nhng không thể đáp ứng. Từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế mà nảy
sinh ra nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia với nhau do đó hoạt động nhập
khẩu là yêu cầu khách quan của tất cả các nền kinh tế.
Là một mặt của hoạt động ngoại thơng, nhập khẩu là việc quốc gia này
mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác đây chính là việc nhà
sản xuất nớc ngoài cung cấp hàng hóa , dịch vụ cho ngời c trú trong nớc. Một số
quan điểm kinh tế cho rằng nhập khẩu ảnh hởng không tốt tới sự phát triển của nền
1
kinh tế, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp vì tiêu dùng nhiều hàng ngoại nhập sẽ làm giảm
mức cầu về hàng hoá nôị địa dẫn tới ảnh hởng không tốt tới sản xuất trong nớc.
Tuy nhiên xét trên tầm vĩ mô thì nhập khẩu lại khuyến khích sản xuất hiệu quả, giá
thành thấp, là 1 trong những yếu tố đầu vào của sản xuất hàng hoá xuất khẩu .
Trong xu hớng toàn cầu hoá, các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, hoạt
động ngoại thơng nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng càng ngày
càng phát triển mạnh mẽ.
những mặt hàng đối tác cung ứng hợp lý giúp doanh nghiệp thu đợc mức chênh
lệch cao.
Để có thể hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp
phải có hiểu biết sâu sắc về thị trờng quốc tế, những hiểu biết này chỉ có đợc thông
qua nghiên cứu, tìm hiểu thực tế, từ đó phát hiện ra những cơ hội kinh doanh.
Những cơ hội này chính là sự chênh lệch giá cả giữa hai thị trờng, nếu giá cả trong
nớc thấp hơn ta có hoạt động xuất khẩu và ngợc lại ta có hoạt động nhập khẩu.
Nhận thức đợc những vai trò to lớn của nhập khẩu không chỉ đối với các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này mà còn đối với cả nền kinh tế quốc dân
mà hiện nay Đảng và Nhà nớc ta rất quan tâm, chú trọng đến hoạt động xuất nhập
khẩu.
1.2 Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu
1.2.1 Các điều kiện giao dịch cơ bản trong buôn bán quốc tế
Hoạt động nhập khẩu diễn ra giữa hai quốc gia, vì có sự xa cách về mặt địa
lý dẫn đến những phát sinh ảnh hởng tới việc giao nhận hàng hoá theo hợp động đã
3
kí. Để đảm bảo lợi ích cho các bên tham gia hợp đồng xuất nhập khẩu, hạn chế
những rủi ro, thiệt hại cho các chủ thể nói trên trong qúa trình đàm phán ký kết
hợp đồng nhập khẩu các bên cần quan tâm đến hàng loạt các vấn đề nh: đồng tiền
thanh toán, địa điểm thanh toán, thời gian thanh toán, phơng thức thanh toán
Những vấn đề này thờng đợc gọi chung là các điều kiện cơ sở giao hàng.
Các điều kiện cơ sở giao hàng do phòng thơng mại quốc tế soạn thảo ra
nhằm giải thích một cách thống nhất các tập quán thông lệ quốc tế khi giao hàng,
nó là cơ sở cho các bên ký kết cũng nh thực hiện các hợp động ngoại thơng. Hiện
nay, điều kiện cơ sở cho giao hàng đợc thực hiện theo INCOTERMS 2000 gồm 13
điều kiện chia thành 4 nhóm khác nhau:
Nhóm E: ngời bán phải đặt hàng hóa dới quyền định đoạt của ngời mua
trong thời hạn và ở địa điểm hợp đồng quy định. Bên mua nhận hàng tại địa điểm
này và chịu mọi phí tổn để lo liệu việc chuyên chở về địa điểm đích, nhóm này chỉ
cảng xuất. Theo điều kiện giá này ngời mua phải chịu trách nhiệm thuê tàu, chịu
chi phí vận chuyển, bảo hiểm, mọi rủi ro từ khi hàng đã qua khỏi lan can tàu đi ở
cảng. Ngời bán có trách nhiệm giao hàng lên tàu do ngời mua chỉ định, thông báo
cho ngời mua, cung cấp các chứng từ cần thiết. Đây là điều kiện mà các công ty
xuất nhập khẩu Việt Nam thờng sử dụng khi xuất khẩu hàng hóa.
Giá CIF: bao gồm giá FOB + chi phí bảo hiểm + cớc phí vận tải. Theo điều
kiện này bên bán phải thuê tàu, mua bảo hiểm cho hàng hóa ở mức tối thiểu, chịu
mọi rủi ro về hàng hóa đến biên giới hải quan của nớc nhập khẩu trớc khi đóng bất
kì loại thuế nhập khẩu hay thuế khác đánh vào hàng nhập khẩu. Rủi ro về hàng
5
hóa chuyển ngay cho ngời mua sau khi hàng đã vợt qua lan can tàu ở cảng bốc
hàng
Giá CFR: bao gồm tiền hàng và cớc phí vận chuyển. Giá CFR khác giá CIF
là ngời bán không phải chịu chi phí bảo hiểm cho hàng hóa
Giá DAF: giá hàng giao tại biên giới đối với mọi loại hình vận tải. Điều kiện
DAF thờng áp dụng trong buôn bán mậu dịch giữa các nớc có chung đờng biên
giới
Hiện nay ở Việt Nam thờng áp dụng xuất FOB, nhập CIF. Đây là những điều
kiện không tạo điều kiện cho ngành vận tải biển và ngành bảo hiểm của chúng ta
phát triển.
1.2.2 Các phơng thức kinh doanh nhập khẩu
Hiện nay đối với hoạt động nhập khẩu có hai phơng thức cơ bản đó là nhập
khẩu theo nghị định th và nhập khẩu ngoài nghị định th.
* Nhập khẩu theo nghị định th : là phơng thức mà các doanh nghiệp phải
tuân theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nớc thực hiện các hợp đồng kinh tế bằng văn
bản. Chính phủ Việt Nam sau khi ký nghị định th hay hiệp định th với các nớc
khác để nhập khẩu hàng hoá sẽ giao cho các doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp thực
hiện. Việc thanh toán cho hợp đồng nhập khẩu theo phơng thức này do Nhà nớc
đứng ra trả tiền hoặc cam kết trả tiền hoặc uỷ nhiệm cho doanh nghiệp thanh toán .
Đối với ngoại tệ thu đợc khi tiêu thụ hàng nhập khẩu doanh nghiệp phải nộp
1.2.3.2. Hình thức nhập khẩu ủy thác.
7
Là hình thức nhập khẩu đợc áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầu
nhập khẩu hàng hóa nhng không có khả năng điều kiện hoặc cha đợc Nhà nớc cho
phép nhập khẩu trực tiếp nên phải nhờ doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp nhập khẩu
hộ. Theo hình thức này doanh nghiệp ủy thác đợc phép hạch toán trị giá hàng nhập
khẩu và có trách nhiệm thanh toán chi phi nhập khẩu cho bên nhận ủy thác. Còn
bên nhận ủy thác đóng vai trò là đại lý mua hởng hoa hồng theo thỏa thuận trong
hợp đồng ủy thác mà hai bên đã kí kết. Đơn vị nhận ủy thác có trách nhiệm nhập
hàng về theo đúng số lợng , chất lợng, mẫu mã đợc yêu cầu.
Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể
của từng doanh nghiệp. Trên thực tế có nhiều doanh nghiệp áp dụng cả hai hình
thức nhập khẩu trên nhằm tối đa hóa hiệu quả trong kinh doanh. Thông thờng tổ
chức hoạt động nhập khẩu theo hình thức trực tiếp có lợi hơn vì doanh nghiệp có
thể chủ động nắm bắt thông tin, tìm hiểu thị trờng một cách sâu sắc và toàn diện,
có điều kiện mở rộng quan hệ, uy tín với bạn hàng nớc ngoài.
1.2.4. Các phơng thức thanh toán Quốc tế chủ yếu dùng trong hoạt động nhập
khẩu
Phơng thức thanh toán là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện hợp
đồng và nó cũng ảnh hởng tới công tác kế toán. Hiện nay trong quan hệ ngoại th-
ơng có rất nhiều phơng thức thanh toán khác nhau, tùy theo mức độ tín nhiệm và
giá trị hợp đồng mà ngời nhập khẩu phảichấp nhận hình thức thanh toán do ngời
xuất khẩu yêu cầu hoặc theo điều kiện thanh toán ttong hợp đồng ngoại thơng đã
kí.
1.2.4.1. Ph ơng thức ghi sổ
Là phơng thức thanh toán trong đó ngời xuất khẩu hàng hóa cung ứng dịch
vụ ghi nợ cho ngời nhập khẩu, theo dõi vào một cuốn sổ riêng và việc thực hiện
thanh toán các khoản nợ này sẽ đợc thực hiện sau một thời kì nhất định.
8
1.2.4.2. Ph ơng thức chuyển tiền
ngời xuất khẩu
Ngời nhập khẩu Ngời xuất khẩu
Ngân hàng phục vụ
ngời nhập khẩu
Ngân hàng phục vụ
ngời xuất khẩu
(1)
(1) Ngời xuất khẩu sau khi kí hợp đồng, trong đó quy định phơng thức thanh toán
là nhờ thu kèm chứng từ sẽ giao hàng không kèm theo chứng từ cho ngời nhập
khẩu.
(2) Ngời xuất khẩu chuyển hối phiếu cùng với bộ chứng từ cho ngân hàng phục vụ
mình uỷ thác thu.
(3) Ngân hàng phục vụ ngời xuất khẩu chuyển hối phiếu kèm chứng từ cho ngân
hàng phục vụ ngời nhập khẩu để nhờ thu.
(4) Ngân hàng phục vụ ngời nhập khẩu chuyển hối phiếu và bộ chứng từ cho ngời
nhập khẩu đổi lấy tiền.
(5) Ngời nhập khẩu chuyển trả tiền cho ngân hàng phục vụ mình.
(6) Ngân hàng phục vụ ngời nhập khẩu chuyển tiền cho ngân hàng phục vụ ngời
xuất khẩu.
(7) Ngân hàng phục vụ ngời xuất khẩu gửi giấy báo cho ngời xuất khẩu.
1.2.4.4. Ph ơng thức thanh toán tín dụng chứng từ
Phơng thức tín dụng chứng từ (thanh toán bằng cách mở th tín dụng L/C) là
một sự thỏa thuận trong đó ngân hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của khách
hàng (ngời xin mở L/C) sẽ trả một số tiền nhất định cho một ngời khác (ngời hởng
lợi số tiền trên của L/C) hoặc chấp nhận hối phiếu do ngời hởng lợi thứ nhất ký
phát (trong phạm vi số tiền nhất định đó), khi ngời hởng lợi xuất trình cho một số
ngân hàng, một số bộ chứng từ hàng hóa phù hợp đề ra trong L/C.
Sơ đồ phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ (sơ đồ 1.3)
(2)
xuất khẩu, ngời nhập khẩu, ngân hàng và sự vận động chặt chẽ hai luồng tiền và
11
Ngời nhập khẩu Ngời xuất khẩu
hàng. Ngoài ra ta còn thấy hai mặt vừa độc lập vừa phụ thuộc giữa L/C và hợp
đồng nhập khẩu. Chúng độc lập ở chỗ ngân hàng chỉ căn cứ vào đơn xin mở L/C
của bên nhập khẩu để tiến hành mở L/C mà không hề quan tâm đến hợp đồng xuất
nhập khẩu, và tiến hành thanh toán cho bên xuất khẩu khi bộ chứng từ thỏa mãn
các điều kiện của L/C kể cả khi các điều kiện này trái với hợp đồng. Tuy nhiên
chúng lại phụ thuộc nhau ở chỗ L/C đợc thảo ra trên cơ sở các điều khoản của hợp
đồng đã kí.
Tính chặt chẽ trong quy trình thanh toán khiến phơng thức thanh toán bằng
L/C có độ tin cậy rất cao. Tuy nhiên phơng thức này cũng có một số hạn chế đó là
sự phức tạp và độ chi phí cao phải trả cho ngân hàng phục vụ. Mặt khác khi mở
L/C ngời nhập khẩu phải kí một khoản tiền tơng ứng 10 - 100% giá trị hợp đồng
tùy mức độ tín nhiệm của ngân hàng với ngời xin mở L/C. Đây chính là khoản vốn
mà ngời nhập khẩu phải ứ đọng tại ngân hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng
xuất nhập khẩu.
1.2.5. Các phơng tiện thanh toán chủ yếu dùng trong hoạt động nhập khẩu
1.2.5.1. Sec
Là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng kí phát ra lệnh cho
ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho ngời có tên trên sec hoặc trả theo
lệnh của ngời đó hoặc trả cho ngời cầm sec một số tiền nhất định.
1.2.5.2. Kỳ phiếu
Kỳ phiếu do ngời nhập khẩu lập ra trong đó cam kết sau một thời gian sẽ
thanh toán toàn bộ số tiền hàng nhập khẩu cho ngời xuất khẩu.
1.2.5.3. Hối phiếu
Là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một ngời ký phát cho một ngời khác,
yêu cầu ngời này khi nhận đợc nó phải trả ngay hoặc phải trả vào một thời gian xác
định trong tơng lai một số tiền nhất định cho một ngời nào đó có tên trên hối phiếu
12
1.3.2.1Phạm vi hàng nhập khẩu
Hàng nhập khẩu là những hàng hoá từ nớc ngoài vào nớc ta thông qua việc
mua bán, trao đổi ngoại thơng giữa các doanh nghiệp trong nớc và các doanh
nghiệp ngoài nớc. Hàng nhập khẩu vào nớc ta rất đa dạng phục vụ cho nhiều mục
đích khác nhau nh nhu cầu đầu t, sản xuất, tiêu dùng Các tr ờng hợp sau đợc coi
là hàng nhập khẩu:
Hàng mua của nớc ngoài trên cơ sở các hợp đồng ngoại thơng mà doanh
nghiệp xuất nhập khẩu nớc ta đã kí kết với các doanh nghiệp nớc ngoài.
Hàng hoá mà nớc ngoài đa vào nớc ta để tham gia hội chợ, triển lãm , sau
đó doanh nghiệp xuất nhập khẩu mua lại và thanh toán bằng ngoại tệ.
Hàng hoá của nớc ngoài viện trợ cho nớc ta trên cơ sở các hiệp định, nghị
định th ký kết giữa các Chính phủ Việt Nam với các nớc khác, đợc thực hiện thông
qua các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Hàng hoá mua ở nớc ngoài để xuất khẩu cho nớc thứ ba theo hợp đồng đã kí
giữa các bên.
1.3.2.2 Thời điểm xác định hàng nhập khẩu
Việc xác định thời điểm hàng nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng trong
công tác hạch toán kế toán và thống kê. Theo thông lệ chung và nguyên tắc kế toán
đợc thừa nhận thì thời điểm xác định là hàng nhập khẩu là khi chuyển quyền sở
hữu cho khách hàng, khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Tuy
nhiên, điều này còn phụ thuộc rất lớn vào phơng thức bán hàng và địa điểm giao
nhận hàng hoá cụ thể nh sau:
14
Nếu hàng nhập khẩu đợc vận chuyển bằng đờng biển thì hàng nhập khẩu
tính từ ngày hàng hoá đến hải phận nớc nhập, hải quan cảng biển đã kí xác nhận
vào tờ khai hàng nhập.
Nếu hàng hoá nhập khẩu đợc vận chuyển bằng đờng sắt hoặc đờng bộ thì
hàng nhập khẩu đợc tính từ ngày hàng hoá đến ga, trạm biên giới nớc nhập theo
xác nhận của hải quan cửa khẩu.
Nếu hàng nhập khẩu vận chuyển bằng đờng hàng không thì hàng hoá nhập
Mỗi hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp đều có một bộ phận kế toán riêng
theo dõi và quản lý hoạt động đó. Trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu thì hoạt động xuất nhập khẩu là chủ yếu, ở đó kế toán hoạt động xuất nhập
khẩu có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống kế toán các hoạt động của doanh
nghiệp.
Xuất phát từ những đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu, kế toán
hoạt động kinh doanh nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc:
Phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch nhập khẩu hàng hoá cả về số lợng ,
chất lợng và giá trị theo từng mặt hàng, nhóm hàng giúp nhà quản trị nắm đợc toàn
bộ các nghiệp vụ nhập khẩu, trên cơ sở đó kiểm tra việc chấp hành các chính sách
kinh tế đối ngoại của Nhà nớc trong doanh nghiệp, kiểm tra, đánh giá qúa trình
thực hiện kế hoạch nhập khẩu và tiêu thụ hàng nhập khẩu để có biện pháp hoàn
thiện công tác kinh doanh nhập khẩu từ đó tối đa hóa lợi nhuận.
16
Kiểm tra tình hình thanh toán giữa các bên. Vai trò này rất quan trọng vì
trong quá trình kinh doanh nói chung và tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu nói
riêng không thể tránh khỏi tình trọng các doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhau.
Việc chiếm dụng vốn ảnh hởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, kế toán hoạt động nhập khẩu sẽ cung cấp các thông tin đầy đủ về việc
thanh toán với các bên khi nhập khẩu và những thông tin về tình hình thanh toán
trong tiêu thụ hàng nhập khẩu để tránh doanh nghiệp bị phạt do chậm thanh toán
cũng nh tránh bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn.
Kiểm tra tình hình doanh thu và chi phí: Giúp doanh nghiệp sử dụng tiết
kiệm các loại vật t tiền vốn trong quá trình nhập khẩu. Trong cơ chế kinh tế mới,
các doanh nghiệp phải tự chủ về tài chính, các hoạt động của doanh nghiệp phải
đảm bảo thu bù chi và có lãi. Chỉ thế mới có thể tồn tại trên thơng trờng. Điều này
đỏi hỏi các doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ và chính xác doanh thu và các chi
phí trong quá trình nhập khẩu.
Cung cấp số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động kinh doanh nhập
khẩu, kiểm tra, phân tích hoạt động kinh tế tài chính phục vụ công tác lập kế hoạch
chứng từ thanh toán, bảo hiểm và khiếu nại.
Giấy chứng nhận bảo hiểm: Là chứng từ do tổ chức bảo hiểm cấp nhằm hợp
thức hoá hợp đồng bảo hiểm và đợc dùng để điều tiết quan hệ giữa tổ chức bảo
hiểm và ngời đợc bảo hiểm. Tuỳ theo điều kiện giao hàng mà ngời mua bảo hiểm
có thể là bên nhập khẩu hoặc là xuất khẩu. Bảo hiểm hàng hoá trong xuất nhập
khẩu thờng có ba mức A, B, C thông thờng ngời xuất khẩu sẽ mua bảo hiểm với
mức thấp nhất
theo giá CIF + 10% CIF nếu xuất khẩu theo điều kiện CIF.
18
Giấy chứng nhận số lợng và trọng lợng: là chứng từ xác nhận số lợng trọng
lợng hàng hoá thực giao. Giấy chứng nhận này có thể do ngời cung ứng hoặc tổ
chức kiểm nghiệm hàng hoá nhập khẩu cấp tuỳ theo sự thoả thuận của các bên
trong một hợp đồng xuất nhập khẩu.
Giấy chứng nhận phẩm chất: Là chứng từ xác nhận chất lợng của hàng hoá
thực đợc giao, nó là bằng chứng chứng minh phẩm chất hàng hoá phù hợp với hợp
đồng. Giấy chứng nhận phẩm chất có thể do xởng hoặc xí nghiệp sản xuất hàng
hoá hoặc cơ quan kiểm nghiệm cấp tuỳ theo điều kiện giao hàng hay thoả thuận
giữa các bên liên quan.
Giấy chứng nhận xuất xứ: là chứng từ do phòng thơng mại cấp để xác định
nơi sản xuất hoặc khai thác đối với hàng hoá.
Giấy chứng nhận về vệ sinh: Do cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chất lợng
hàng hoá hoặc y tế cấp cho chủ hàng sau khi đã kiểm tra hàng hóa và không phát
hiện ra những tác nhân gây ảnh hởng xấu tới sức khoẻ của ngời sử dụng.
Bảng kê chi phí đóng gói: là bảng kê khai tất cả hàng hoá đựng trong kiện
hàng. Phiếu đóng gói đợc lập ngay khi đóng gói hàng hoá tạo điều kiện kiểm tra
hàng hoá trong mỗi kiện hàng.
Ngoài ra những chứng từ trong bộ chứng từ giao nhận hàng, kế toán hoạt
động nhập khẩu hàng hoá còn sử dụng những chứng từ khác trong hạch toán ban
đầu
Tài khoản 515 (doanh thu hoạt động tài chính), tài khoản 635 (chi phí hoạt động
tài chính), tài khoản 413 (chênh lệch tỷ giá) để phản ánh số chênh lệch do thay đổi
tỷ giá ngoại tệ. Các tài khoản khác liên quan nh TK 133, 144, 331
20
Để phục vụ cho yêu cầu quản lý chi tiết hoạt động nhập khẩu của chính mình
các doanh nghiệp có thể mở các tài khoản cấp 2, 3, 4,
1.4.4. Kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá theo từng hình thức
1.4.4.1-Nguyên tắc kế toán ngoại tệ
Thanh toán trong hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu bằng ngoại tệ do vậy việc
sử dụng tỷ giá hối đoái để ghi chép, phản ánh có ảnh hởng lớn đến kết quả các th-
ơng vụ. Căn cứ vào chun mc k toỏn s 10 v thụng t s 201/2009/TT-BTC
hng dn x lý cỏc khon chờnh lch t giỏ trong doanh nghip khi hch toỏn
ngoi t kế toán cần nắm rõ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc 1: Việc hạch toán ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo
tỷ giá giao dịch thực tế của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc tỷ giá giao dịch
bình quân trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng do ngân hàng nhà nớc công bố tại
thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi sổ kế toán.
- Nguyên tắc 2: Đồng thời với việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế liên quan
đến hoạt động nhập khẩu thanh toán bằng ngoại tệ ra VNĐ theo tỷ giá thực tế thì
phải theo dõi chi tiết nguyên tệ ngoài hệ thống sổ ghi kép (Tài khoản ngoài bảng -
007) để biết số ngoại tệ biến động trong kỳ và còn lại ở mọi thời điểm.
- Nguyên tắc 3: Các công nợ phải thu, phải trả ngời bán có gốc ngọai tệ thì
phải hạch toán rành mạch về nợ bằng nguyên tệ và quy đổi về VNĐ theo nguyên
tắc 1.
- Nguyên tắc 4: Các tài khoản có gốc ngoai tệ còn d nh TK 331, TK111, TK
112, ngoại tệ phải đợc điều chỉnh về tỷ giá thực tế cuối kỳ kế toán. Chênh lệch tỷ
giá phát sinh trong kỳ và chênh lệch đánh giá lại cuối kỳ của các tài khoản công nợ
và vốn bằng tiền đợc xử lý nh sau:
+ Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ đợc đa vào thu nhập hoặc chi phí
hoạt động tài chính.
i theo t giá liên NH hoàn lại phát sinh giảm trừ
do NHNN VN công b
ti thi im thanh toán)
*Trong đó:
- Giá mua thực tế bằng ngoại tệ: Mua theo giá nào ghi theo giá đó và quy ra
VNĐ theo tỷ giá khoán (nếu nhập khẩu theo nghị định th), theo giá thực tế liên
ngân hàng công bố (nếu nhập khẩu ngoài nghị định th). Tại Việt Nam hiện nay
giá hàng hoá xuất nhập khẩu thờng áp dụng hai loại giá chủ yếu là giá CIF hoặc
giá FOB và trong hoạt động nhập khẩu, thờng thì giá CIF hay đợc sử dụng hơn.
Giá FOB là giá của hàng hoá đợc giao tại cảng, sân bay hoặc biên giới nớc
xuất khẩu (nớc bán)
Giá CIF là giá của hàng hoá đợc giao tại cảng, sân bay hoặc biên giới nớc
nhập khẩu (nớc mua )
- Các loại thuế trực tiếp không hoàn lại có thể bao gồm :
+ Thuế nhập khẩu : ( cách xác định đã nêu ở mục 1.3.3)
+ Thuế TTĐB (nếu có) : ( cách xác định đã nêu ở mục 1.3.3)
+ Thuế GTGT của hàng nhập khẩu: ( cách xác định đã nêu ở mục 1.3.3)
23
Giá
CIF
Phí vận chuyển tới nơi giao
hàng cho người mua hàng
+
Phí bảo
hiểm hàng
NKnhập
khẩu
+
Giá thực tế hàng
+ Hàng đã mua trả lại
1.4.4.3. Kế toán hoạt động nhập khẩu trực tiếp
24
* Trình tự kế toán nhập khẩu trực tiếp theo phơng pháp KKTX (sơ đồ 1.4)
TK111,112, 311 TK144 TK331 TK151 TK157,632
(1) (10) `(7) (9)
TK 635
TK 007
TK 156
TK 515 (8)
(10) (2)
TK3332,3333
(4) (3)
TK 33312 TK 111,141,331
(6)
TK 133
(5)
Giải thích sơ đồ :
(1) Ký quỹ mở L/C
(2) Căn cứ vào phiếu nhập kho và các chứng từ liên quan đến hàng nhập để phản
ánh giá hàng hóa nhập khẩu trực tiếp đã đợc nhập kho
(3) Phản ánh thuế phải nộp khi nhập khẩu hàng
(4) Nộp thuế cho hàng nhập khẩu
(5) Thuế GTGT của hàng nhập khẩu đợc khấu trừ
25