cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc - Pdf 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ NGỌC HƯỜNG

C
C
C



U
U
U

A
A
A
C
C
C
Á
Á
Á
C
C
C
C
C
C
Ơ
Ơ
Ơ
Q
Q
Q

Á
Á
Á
L
L
L
Ó
Ó
Ó
C
C
C
(
(
(
C
C
C
h
h
h
a
a
a

a
a
a
B
B
B
l
l
l
o
o
o
c
c
c
h
h
h
,
,
,
1
1
1
2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ NGỌC HƯỜNG

C
C
C



U
U
U




A
A
A
C
C
C
Á
Á
Á
C
C
C
C
C
C
Ơ
Ơ
Ơ

C
C
C
Á
Á
Á
L
L
L
Ó
Ó
Ó
C
C
C
(
(
(
C
C
C
h
h
h

t
t
t
a
a
a
B
B
B
l
l
l
o
o
o
c
c
c
h
h
h
,
,
,

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PHẠM THANH LIÊM
ĐẶNG THỤY MAI THY

2008

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1
Chương I
GIỚI THIỆU
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu châu thổ sông Mê-Kông,
được xem là vùng trù phú nhất không chỉ của Việt Nam mà còn của cả khu
vực Đông Nam Á. Nơi đây có đặc trưng của một châu thổ thuộc miền nhiệt
đới ẩm điển hình. Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ĐBSCL còn là vùng
nuôi thủy sản lớn nhất của cả nước, sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm
khoảng 65%, diện tích nuôi trồng khoảng 60% và giá trị xuất khẩu thủy sản
chiếm đến 51% của cả nước (Dương Nhựt Long, 2003). Nhiều mặt hàng thủy
sản của vùng không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có giá trị xuất
khẩu cao. Trong đó, cá lóc (Channa striata Bloch, 1973) là loài cá quen thuộc
của người dân, được nuôi phổ biến khắp các tỉnh ĐBSCL, không chỉ bởi đặc
điểm dễ nuôi, chất lượng thịt ngon mà còn do chúng có giá trị dinh dưỡng cao
và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Thời gian qua hiệu quả lợi nhuận thu
được từ hoạt động nuôi đối tượng này đã góp phần cải thiện và nâng cao điều

3
Chương II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về nghiên cứu mô học
Việc nghiên cứu tế bào và mô học bắt đầu từ thế kỷ XVII nhưng mãi đến gần
cuối thế kỷ XIX, tế bào học và mô học mới thực sự được coi là ngành khoa
học.
Malpighi (1624-1694), một trong số những nhà khoa học Châu Âu đã có hàng
loạt phát hiện có giá trị trong việc nghiên cứu tế bào và mô. Vào khoảng
những năm 1675-1680, ông đã mô tả cấu tạo của da, thận, lách và một số cơ
quan khác của cơ thể, do đó một số cấu trúc đã được mang tên ông. Năm
1677, người thợ kính Hà Lan Anatolie Leeuwenhoek đã chế tạo được chiếc
kính hiển vi có độ phóng đại đối tượng quan sát tới 300 lần. Từ đó, ông đã có
khả năng mô tả hồng cầu và sự vận chuyển chúng trong các mao mạch máu,
phát hiện những tinh bào, nhìn thấy những vạch sáng, tối của sợi cơ vân, cấu
tạo sợi thần kinh, sợi gân. Tuy vậy, việc nghiên cứu cấu tạo vi thể của cơ thể
động vật được tiến hành muộn hơn so với việc nghiên cứu thực vật. Vào năm
1825-1827, Purkinje mô tả nhân của noãn trong trứng gà và sau đó chính ông
đã mô tả bào tương của tế bào. Ít năm sau, Brown (1831) cũng mô tả nhân
trong tế bào thực vật. Những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học kể trên
cũng như những công trình nghiên cứu của Dutrochet, Valentin, Schleiden đã
giúp cho Schwann xây dựng và công bố học thuyết tế bào vào năm 1839 (trích
dẫn bởi Phạm Phan Địch, 2004).
Xanvier Bichat (1771 -1802), giảng viên dạy giải phẩu học và phẩu thuật tại
trường đại học của Pari, đã đưa ra khái niệm chung đầu tiên về mô học trên
động vật, và từ đó mô học trở thành một phần của môn giải phẩu học dạy cho
sinh viên y khoa. Tiếp theo đó, các nhà động vật học đã vận dụng công cụ mới
này vào nghiên cứu của họ trên nhiều động vật khác nhau. Trước sự tiến bộ
của nghiên cứu mô học, các nhà sinh vật học đã nhận ra rằng đây là ngành
khoa học không chỉ hữu ích để nghiên cứu cơ quan bình thường mà còn là cơ

Thanh Liêm, 2004).
Rudolph Virchow (1821 -1902), một nhà nghiên cứu bệnh người Đức đã đề
xuất ý tưởng: “bệnh có thể được đặc trưng bởi những biến đổi ở cấp độ tế
bào”. Ý tưởng này của ông đã đóng góp to lớn cho học thuyết tế bào và cho sự
phát triển của mô bệnh học. Từ đó, mô học không chỉ được ứng dụng trong
nghiên cứu cấu trúc mô bình thường mà còn được áp dụng trong nghiên cứu
những biến đổi cấu trúc của các cơ quan khi bị nhiễm bệnh.
Những tiến bộ về mặt kỹ thuật mô đã thúc đẩy ngành mô học ngày càng phát
triển mạnh mẽ và chuyên sâu hơn trên nhiều đối tượng khác nhau. Và đến khi
thủy sản trở thành ngành mũi nhọn ở nhiều quốc gia thì mô học cũng trở thành
một công cụ không thể thiếu để nghiên cứu trên các đối tượng thủy sản.
2.2 Nghiên cứu mô học trên cá
Trên cá, nghiên cứu mô học và mô bệnh học đã được tiến hành khá nhiều trên
thế giới từ nữa cuối thế kỷ XX như:
Vào năm 1982, Hibiya đã dùng mô học để mô tả cấu trúc bình thường của tất
cả các cơ quan trên một số loài cá, đồng thời ông cũng phân tích những biến
đổi của các cơ quan ấy khi cá bị tác nhân gây bệnh xâm nhập. Tác giả đã
nghiên cứu trên các loài cá quan trọng như cá chép, cá hồi, cá chình (Anguilla
anguilla, Anguilla japonicus).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

5
Cũng trong năm 1982, Groman đã dùng mô học để nghiên cứu cấu trúc mô
bình thường trên cá chẽm. Nghiên cứu này được tiến hành có ý nghĩa như một
tiền đề cho những nghiên cứu kế tiếp. Ông đã quan sát cấu trúc vi thể bình
thường của hệ hô hấp, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hoá, hệ sinh dục, hệ
bài tiết,…ở nhiều giai đoạn của cá từ cá giống đến cá 3 năm tuổi.
Nash ctv. (1986) cũng đã dùng phương pháp mô học để xác định những thay
đổi vi thể trên các cơ quan cá khi bị vi khuẩn tấn công (trong nghiên cứu bệnh
vi khuẩn có liên quan đến dịch bệnh ở cá chẽm (Lates calcarifer) và cá bống


6
trắng khỏe và đã mô tả cấu trúc bình thường của các hệ cơ quan như: hệ cơ, bộ
xương, hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ hô hấp, hệ sinh dục… Kết quả
của nghiên cứu này sẽ là cơ sở so sánh khi cá bệnh.
Nghiên cứu tiếp theo trên các đối tượng cá khỏe là nghiên cứu của Herrera
(1996) trên cá rô phi (Oreochromis niloticus). Ông cũng dùng mô học để
nghiên cứu và đã tiến hành mô tả cấu trúc vi thể các cơ quan như hệ da, hệ cơ,
hệ xương, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ thần kinh, các cơ
quan cảm giác, hệ tuần hoàn,… Đối tượng thí nghiệm của ông trong nghiên
cứu này là cá rô phi ở giai đoạn từ một tuần tuổi (dài từ 1.0-1.3cm) đến cá
trưởng thành (dài từ 15-20cm).
Tiếp theo đó, phương pháp mô học cũng đã được Chinabut và Robert áp dụng
khi họ nghiên cứu về bệnh bệnh lở loét (Epizootic Ulcerative Syndrome- EUS)
trên cá vào năm 1999. Họ đã mô tả những biến đổi cấu trúc của các cơ quan
như da, cơ, thận, ống mật,… trên các loài: cá lóc, cá chép Ấn Độ, cá rô phi, cá
hồi,
Ở nước ta nói chung và ở Đại học Cần Thơ nói riêng cũng đã có những nghiên
cứu mô học trên các đối tượng thủy sản, đặc biệt là trên cá tra như:
Nguyễn Quốc Thịnh (2002) với đề tài “Nghiên cứu mô bệnh đốm trắng trong
nội tạng cá tra (Pangasius hypophthalmus)” đã tiến hành nghiên cứu mô học
trên cá tra nuôi ao, bè ở các cơ quan như: gan, thận, tỳ tạng, tim, mang, cơ của
cá khỏe và cá bệnh. Tác giả đã so sánh và đưa ra kết quả về những biến đổi
cấu trúc của mô cá bệnh so với cá khỏe như hiện tượng xung huyết, xuất huyết
và hoại tử.
Bùi Châu Trúc Đan (2003) cũng dùng phương pháp mô học nghiên cứu cấu
trúc vi thể của cá tra khỏe và cá tra bệnh phù mắt trên các cơ quan: da, cơ,
mang, tim, gan, thận, dạ dày, mắt… Dựa trên đặc điểm phân tích được từ cá
bệnh, tác giả kết kuận cá tra bị bệnh phù mắt có các tổn thương chủ yếu là
xung huyết, xuất huyết. Các cơ quan bị tổn thương nặng nhất là gan, tỳ tạng và

nuôi ao hay nuôi bè đều có biến đổi vi thể tương đối giống nhau trong cùng
biểu hiện bệnh. Trên cả 3 cơ quan khảo sát đều có sự xuất hiện của trùng bào
tử sợi Myxozoa ký sinh làm cho các cơ quan này bị hoại tử và mất chức năng.
2.4 Vài nét về cá lóc
2.4.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc
Theo Phạm Văn Khánh, 2000 thì cá lóc được phân loại như sau:
Bộ cá vược Perciformes
Họ cá Lóc Channidae
Giống cá Lóc Channa
Loài cá Lóc Channa striata Bloch, 1793
Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao, hồ, sông… thích nghi được
cả với môi trường nước đục, nước tù, nước lợ và có thể chịu đựng nhiệt độ
trên 30
o
C (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2001). Do có khả năng hô hấp phụ
nên chúng có thể sống rất lâu trên cạn chỉ cần ẩm ướt toàn thân. Cá sống chủ
yếu ở nước ngọt nhưng cũng gặp ở môi trường nước lợ 5 -7
o
/
oo
(Phạm Văn
Khánh, 2000).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

8
Cá lóc là loài cá dữ cơ thể có hình dạng tròn dài, thực quản ngắn và vách dày,
bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày dạng túi, to, hình chữ Y. Quan
sát trong ống tiêu hóa của cá có chứa cá chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái
1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ. Đặc điểm này chứng
tỏ đây là loài cá ăn động vật điển hình (Dương Nhựt Long, 2003).

Bến Tre nuôi trong vèo lưới với qui mô công nghiệp cũng có hiệu quả.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

9
Vèo nuôi cá thương phẩm với mật độ là 50 con/m
2
. Vèo được xây dựng hình
vuông hoặc hình chữ nhật, đáy vèo đặt cách đáy ao khoảng 0,5m, độ sâu nước
trong vèo phải đạt từ 2,5m trở lên. Nuôi cá lóc trong vèo có nhiều ưu điểm như
nuôi ở mật độ cao để có sản lượng lớn, thức ăn được tập trung, cá không bị cọ
sát đáy ao hoặc không chui được xuống bùn nên ít bị xây xát, cá tập trung ăn
và ngủ rồi lại ăn nên cá tăng trọng nhanh và kích cỡ đồng đều. Giá trị thương
phẩm cao hơn cá chỉ trong nuôi ao. Đồng thời, bên ngoài vèo lưới thả thêm
các loại cá ăn tạp nhằm cải tạo ao, tận dụng thức ăn thừa, đây cũng là nguồn
thu không nhỏ (Trần Quốc, 2007).
Do cá lóc là loài thích nghi tốt với điều kiện môi trường nên chúng được nuôi
ngày càng phổ biến trong nhiều mô hình. Ngoài các mô hình nuôi cá lóc thoát
nghèo trong mùa lũ thì còn có vài mô hình nuôi cá lóc như sau:
Mô hình nuôi cá lóc trong ao
Diện tích nuôi từ 100-1000m
2
, sâu từ 1,5-2m. Mật độ trung bình 20-30con/m
2

tùy vào kích cỡ giống thả nuôi (cá 7-10cm mật độ từ 10- 20con/m
2
, 5-7cm
nuôi 20-50con/m
2
). Thức ăn có thể sử dụng để cho cá ăn là thức ăn tươi sống

Tiếp theo những nghiên cứu trong việc ương nuôi cá lóc giống, vào năm 2002,
Đặng Thụy Mai Thy tiến hành thử nghiệm ương cá lóc đen và cá lóc môi trề
bằng thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau. Hai loại thức ăn được dùng để
ương cá trong thí nghiệm là thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm là 25% và
30%. Sau 30 ngày ương, ta thấy hàm lượng đạm trong thức ăn có ảnh hưởng
trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của cá lóc, thể hiện qua kết quả: cá ăn thức ăn
có hàm lượng đạm 30% tăng trưởng nhanh hơn cá ăn thức ăn có hàm lượng
đạm 25%.
Những nghiên cứu nói trên có vai trò không nhỏ trong việc duy trì và phát
triển nguồn cá lóc giống nói riêng và nghề nuôi thủy sản nói chung. Tuy
nhiên, hầu hết các nghiên cứu về cá lóc được biết đến đều là những nghiên cứu
trên lĩnh vực sản xuất giống. Vì thế trước tình hình nuôi cá lóc ngày càng phổ
biến ở các tỉnh ĐBSCL hiện nay, việc nghiên cứu cấu trúc vi thể của các cơ
quan bình thường trên cá lóc khỏe sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu những
biến đổi bệnh lý trong các cơ quan khi cá bệnh cũng như tìm ra các biện pháp
phòng trị bệnh cá càng hoàn thiện hơn.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
11
Chương III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian
Từ tháng 2/2008 đến tháng 5/2008
3.2 Địa điểm
Thu mẫu: mẫu được thu tại Cần Thơ
Phân tích mẫu: mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Thuỷ Sản
trường Đại học Cần Thơ
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu
Dụng cụ
Dụng cụ giải phẩu, khay nhựa, thớt, dao, khuôn đúc, casset có nắp, casset

khoảng 1cm.
Mang: dùng kéo cắt hai đầu cung mang để lấy được nguyên phần mang.
Tim, gan, thận, tỳ tạng: lấy nguyên cơ quan.
Ống tiêu hoá: dùng dao bén cắt nguyên phần dạ dày và phần ruột cho vào
dung dịch cố định. Cố định mẫu
Việc cố định mẫu phải được tiến hành ngay sau khi các cơ quan được tách
khỏi cơ thể. Dung dịch dùng cố định mẫu là dung dịch formol trung tính 10%
(đối với mẫu da-cơ) và dung dịch Bouin’s (đối với các cơ quan còn lại). Thời
gian cố định mẫu cho cả hai dung dịch trên là từ 18h-24h. Thể tích của dung
dịch cố định thường gấp nhiều lần kích thước mẫu mô.
Rửa mẫu
Mẫu được rửa dưới vòi nước trong khoảng 2 giờ sau khi cố định bằng formol
trung tính 10%. Đối với mẫu được cố định bằng Bouin’s, mẫu được rửa đến
khi dung dịch nhạt màu. Sau đó, tiếp tục chuyển mẫu sang cồn 60% trong
e

Làm trong mẫu
Vì cồn không thể hòa lẫn với paraffin nên sau khi khử nước thì cồn cũng được
loại ra khỏi mẫu. Nếu không loại bỏ hết cồn, phần mô đó sẽ bị co rút lại, khối
mẫu đúc trong paraffin sẽ không đồng nhất, tạo nên những lổ hỗng trên lát cắt.
Do đó, mẫu mô sẽ được ngấm một dung môi trung gian (xylen) có thể hòa tan
được cồn và paraffin. Để đạt được mục đích này, mẫu được ngâm qua 3 lọ
xylen, mỗi lọ được ngâm khoảng 2 giờ.
Ngấm paraffin
Paraffin là chất nền để bảo đảm cho tế bào giữ nguyên được hình dạng khi cắt.
Vì thế sau khi làm trong, mẫu mô sẽ được ngấm paraffin nóng chảy (57-60
0
C)
bằng cách chuyển mẫu qua nhiều lọ paraffin, mỗi lọ ngâm khoảng 2 giờ.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
14
Qui trình xử lý mô được cài đặt trong máy xử lý mô tự động theo các bước sau
(Coolidge & Howard, 1997, có điều chỉnh): Cho các casset vào sọt chứa mẫu đặt lên vị trí lọ 1 của máy xử lý mô tự động

1 giờ

Cồn 95%
1 giờ

Cồn 100%
1 giờ

Cồn 100%
1 giờ
Cồn 100%
1 giờ

Xylen
2 giờ

Xylen
2 giờ

Xylen
2 giờ
Paraffin+Xylen
2 giờ

Paraffin+sáp ong
2 giờ
Paraffin+sáp ong
2 giờ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
15

Xylen
10 phút

Xylen
10 phút
Cồn100%
1 phút
Nước máy
1 phút
Eosin
3 phút
2% Potassium acetate
5phút
Nước máy
1 phút
Cồn100%
1 phút
Xylen
5 phút
Xylen
5 phút
Xylen
5 phút
Cồn 100%
1 phút
Cồn 95%
1 phút
Cồn 65%
1 phút
Cồn 90%

hình vẩy xen kẽ với tế bào tiết chất nhày. Các tế bào tiết chất nhày có mặt ở
khắp bề mặt của da, thường có dạng cốc và có dụng tiết ra chất nhày phủ lên
lớp biểu mô (Hình 4.2). Theo Harris ctv. (1973), kết quả phân tích thành phần
sinh hóa của nhớt cá cho thấy chúng có cấu tạo từ protein và carbohydrate
(trích dẫn bởi Chinabut ctv., 1991). Tác dụng của nhớt cá giống như là rào cản
đầu tiên giữa cá với môi trường, bảo vệ biểu bì, làm giảm tính nguy hiểm của
các vết thương, ngăn chặn nước xuyên qua bằng sự thẩm thấu và giảm bớt ma
sát của cá khi chúng di chuyển (theo Harder, 1975 trích dẫn bởi Groman,
1982). Ngoài ra, khi nghiên cứu trên da của một số loài cá xương, Hibiya
(1982) đã quan sát được các khoảng trống lympho nằm ở giữa gốc của các tế
bào biểu mô, những khoảng trống này thường có dạng tròn hoặc oval chứa từ
1 đến 2 lympho bào. Tuy nhiên cấu trúc của lớp biểu bì quan sát được trên da
cá lóc không thể hiện rõ sự có mặt của các tế bào này.
Lớp kế tiếp của da và nằm dưới biểu bì là lớp bì. Ở cá lóc, lớp bì cũng được
chia ra làm hai lớp phụ đó là lớp đặc và lớp xốp (Hình 4.3). Lớp đặc nằm sâu
bên trong và rộng hơn lớp xốp, có chứa các sợi collagen thô sắp xếp song song
với bề mặt da. Theo Chinabut ctv. (1991), trong lớp đặc còn chứa các nhánh
thần kinh và nhiều mao mạch máu, tuy nhiên đặc điểm này không thể hiện rõ
trong các mẫu da cá lóc quan sát được. Lớp xốp là lớp tương đối mỏng, gồm
một mạng lưới thưa của các sợi collagen và một lớp tế bào sắc tố. Khi quan sát
mẫu da cá lóc trong thí nghiệm này, các sợi dây thần kinh, các mao mạch máu
cũng như khoang chứa vẩy nằm ở lớp xốp không được thể hiện rõ ràng. Điều
này có thể là do hạn chế trong các thao tác cắt tỉa định hướng hoặc do quá
trình xử lý mẫu.
Bên dưới lớp bì là phần hạ bì. Nó là phần mỏng nhất của da cá, nằm giữa lớp
đặc và các bó cơ, gồm một mạng lưới của mô liên kết thưa và có chứa nhiều tế
bào tế bào sắc tố. Ngoài ra, khi tiến hành nghiên cứu trên da cá trê trắng,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
17
Chinabut ctv. (1991) đã mô tả sự có mặt của các tế bào lipid trong lớp hạ bì

e. Tế bào sắc tố của lớp hạ bì
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
19
4.2 Cơ
Cơ cá lóc được chia làm 3 loại gồm: cơ vân, cơ trơn và cơ tim. Cơ vân chịu sự
điều khiển của thần kinh trung ương nên phản ứng nhanh nhẹn hơn cơ tim và
cơ trơn, chúng thường dính chặt vào xương và được phân bố chủ yếu ở hai
mặt bên của cơ thể cá. Khi quan sát lát cắt dọc của phần cơ dính hai bên vách
thân của cá lóc, cơ vân là loại cơ được cấu tạo từ các tế bào có hình trụ dài và
chứa nhiều nhân và thường được gọi là sợi cơ (Hình 4.6). Các sợi cơ này liên
kết lại thành các bó cơ và các bó cơ thì được nối với nhau bằng mô liên kết
(Hình 4.5). Khi quan sát dưới kính hiển vi, các sợi cơ vân của cá lóc cũng có
cấu trúc vạch sáng và vạch tối như cơ vân của cá trê trắng đã được mô tả bởi
Chinabut ctv. (1991). Theo Hibiya (1982), các sợi cơ vân có chứa hàng trăm
sợi protein cơ gồm hai loại protein là actin và myosin. Sự có mặt của hai loại
protein này là nguyên nhân của việc xuất hiện vạch sáng và vạch tối trên sợi
cơ vân. Những vạch sáng (gọi là vạch A- anisotropic) chứa các sợi actin, còn
những vạch tối (vạch I- isotropic) chứa các sợi myosin.
Cơ trơn chịu sự điều khiển của thần kinh giao cảm nên hoạt động của cơ trơn
có tính nhịp nhàng, được phân bố chủ yếu ở thành ống tiêu hóa (dạ dày, ruột),
các mạch máu,… Quan sát lắt cắt ngang của thành dạ dày cá lóc cho thấy cơ
trơn cũng được cấu tạo từ các sợi cơ, mỗi sợi cơ chỉ chứa một nhân (Hình 4.7).
Các sợi cơ trơn ở thành ruột của cá cũng có cấu trúc tương tự như các sợi cơ
trơn đã được tìm thấy ở thành dạ dày (Hình 4.8).
Cơ tim là loại cơ đặc biệt chỉ có ở tim và sẽ được mô tả chi tiết hơn khi phân
tích cấu trúc tim cá ở phần 4.7.
a
b
Hình 4.8 Lắt cắt ngang phần cơ ruột cá lóc (H&E, 100X)
a. Các sợi cơ trơn; b. Nhân tế bào
a
b
Hình 4.7 Lắt cắt ngang phần cơ dạ dày cá lóc (H&E,100X)
a. Các sợi cơ trơn; b. Nhân tế bào
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
22
4.3 Dạ dày
Dạ dày là đoạn phình to của ống tiêu hóa, nối thực quản với ruột. Là cơ quan
có nhiệm vụ chứa và tiêu hóa thức ăn vì thế dạ dày đóng vai trò tiêu hóa cả về
mặt cơ học lẫn hóa học. Quan sát cơ quan nội tạng của cá lóc sau khi giải phẩu
cho thấy dạ dày có dạng túi, tương đối to và vách dày, được nối tiếp sau thực
quản và nối với phần ruột (Hình 3). Đây là một đặc điểm phù hợp với dạ dày
của loài cá ăn động vật như cá lóc. Lát cắt ngang của dạ dày cá lóc thể hiện
thành dạ dày của cá gồm 4 lớp: niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ trơn và
màng ngoài (Hình 4.9).
Quan sát thành dạ dày từ trong ra ngoài, phần niêm mạc được phủ bởi lớp biểu
mô trụ đơn, đỉnh của các tế bào biểu mô có hình quạt, hướng vào trong xoang
và nhân thì nằm ở gốc tế bào (Hình 4.10). Ở lớp này có chứa các tế bào tiết ra
chất giống như chất nhày phủ lên bề mặt biểu mô bảo vệ biểu mô chống tác
dụng của HCl thường xuyên có mặt trong dịch dạ dày. Khi dạ dày chứa đầy và
căng thì mặt niêm mạc nhẵn còn khi dạ dày trống rỗng, nó co lại, niêm mạc có
nhiều nếp gấp. Các nếp gấp này có thành phần cấu tạo là mô liên kết xốp và

b
c
d
e
Hình 4.9 Cấu trúc thành dạ dày cá lóc (H&E, 10X)
a. Lớp niêm mạc; b. Lớp dưới niêm mạc; c. Lớp cơ trơn;
d. Màng ngoài; e. Nếp gấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status