1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
TRẦN LÂM ANH THI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG BỞI ĐỘ MẶN LÊN ĐIỀU
HOÀ ÁP SUẤT THẨM THẤU VÀ ION CỦA LƯƠN
ĐỒNG(Monopterus albus) Ở CÁC ĐỘ MẶN KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
TÓM TẮT
3
Lươn có trọng lượng từ 25-30g/con được bố trí trong các độ mặn 0ppt, 1ppt,
3ppt, 6ppt, 9ppt, 12ppt, 15ppt. Mỗi độ mặn được lặp lại ba lần. Mật độ bố trí
là 25 con/bể. Mỗi ngày nâng độ mặn 1ppt cho đến khi đạt được độ mặn của
nghiệm thức. Sau đó ta tiến hành thu mẫu máu ở thời gian 6 giờ, 24 giờ, 3
ngày, 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày.
Tỉ lệ sống của lươn đạt cao nhất ở độ mặn 0ppt, 1ppt, 3ppt (từ 100%), ở độ
mặn 9 ppt tỉ lệ sống của lươn đạt 90,67%, ở độ mặn 15ppt tỉ lệ lươn sống thấp
nhất (9,3%).
Áp suất thẩm thấu của lươn khi nuôi ở độ mặn 9ppt (trung bình từ 280-296,75
mOsm/kg) khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) so với áp suất thẩm
thấu của môi trường (281,50±22,58 mOsm/kg). Nồng độ ion Na
+
, Cl
-
trong
huyết tương bằng với trong môi trường (từ 129±7,07 đến 159±1,41 mmol/L
đối với Cl
-
và từ 25,93±17,06 đến 151,03±22,16 đối với Na
+
) ở độ mặn 9ppt.
Áp suất thẩm thấu, nồng độ ion Na
TS. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG MỤC LỤC
CHƯƠNG I 5
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
4
1.1. Giới thiệu 5
1.2. Mục tiêu 6
1.3. Nội dung 6
1.4. Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 6
CHƯƠNG II 7
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
2.1. Đặc điểm sinh học 7
2.1.1. Vị trí phân loại và hình thái cấu tạo 7
2.1.2 Đặc điểm phân bố 8
2.1.3. Đặc Điểm dinh dưỡng 9
2.1.4. Đặc Điểm sinh trưởng 9
2.1.5. Đặc điểm hô hấp 10
2.1.6. Sự điều hòa áp suất thẩm thấu ở cá 10
2.2. Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn lên astt của cá 15
CHƯƠNG III 17
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1. Vật liệu nghiên cứu 17
3.1.1. Thiết bị và dụng cụ 17
3.1.3. Nguồn lươn giống 17
3.1.4. Nguồn nước thí nghiệm 17
trưởng nhanh nhất thế giới và có nhiều triển vọng trong tương lai. Trong
những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản đã đóng góp to lớn cho nền kinh tế
đất nước, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và tham gia đảm bảo an
ninh thực phẩm cho người dân. Ngày nay, do nhu cầu thực phẩm có chất
lượng tốt của con người ngày càng cao, các sản phẩm thủy sản đòi hỏi phải
tiêu chuẩn hóa, sự cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới, sự phát triển vùng
nuôi không theo quy hoạch… đã làm cho ngành nuôi trồng thủy sản Việt
Nam trong những năm gần đây gặp khó khăn. Các đối tượng nuôi chủ lực để
xuất khẩu như cá tra, basa, rô phi…đã đạt đỉnh điểm và giảm dần thị phần xuất
khẩu. Theo thống kê chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2008 tổng sản lượng thủy sản
nuôi trồng đạt 1045,1 ngàn tấn, trong đó cá chiếm 837,7 (ngìn tấn) tăng
130,4% so với cùng kỳ năm 2007 (www.xaluan.com). Điều đó đã dẫn đến tình
trạng thừa nguyên liệu xuất khẩu, giá cá giảm thấp còn khoảng 3,1-
3,2USD/kg, đẩy người nuôi vào cảnh khó khăn. Thị trường nội địa được người
nuôi quan tâm nhiều hơn với nhiều đối tượng nuôi có giá trị như baba, ếch, cá
lóc…trong đó lươn đồng là một trong những loài thịt ngon, giá trị dinh dưỡng
cao (đạm: 18,6%; chất béo: 9,1%; vitamin B
1
,B
2
,C), dễ tiêu thụ và được nhiều
người ưa chuộng.
Cũng giống như những loài thủy sản khác, lươn sống trong môi trường nước
và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố sinh lý. Trong đó áp suất thẩm thấu là một
trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát
triển của lươn. Theo Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền (2000) thì
cá xương nước ngọt có áp suất thẩm thấu của cơ thể cao hơn môi trường bên
ngoài, nước từ môi trường bên ngoài xâm nhập qua mang, màng tế bào làm
máu cá bị loãng. Để chống lại tình trạng này, thận sẽ giữ chức năng tống nước
thừa ra ngoài và giữ lại chất định phân được lọc. Quá trình lọc nước và tái hấp
Họ: Synbranchidae
Loài: Monopterus albus (Zuiew, 1793)
Tên địa phương là Lươn đồng
Tên tiếng anh là Rice Eel (Asian Swam Eel)
2.1.1.2. Hình thái cấu tạo
Hình 2.1. Hình thái cấu tạo Lươn đồng (Monopterus albus)
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì lươn đồng có:
Chiều dài từ mõm đến hậu môn= 350-1000, Dài chuẩn /Dài đầu =8,4 ( 7,5-
9,5), Dài đầu /Đường kính mắt = 9,8 (9,5-14,7), Dài chuẩn/ Cao thân = 16,2
8
(13,8-18,6), Dài đầu/ k.cách 2 mắt = 8,5 (8,4-10), Dài đầu /Dài mõm = 6,1
(5,1-6,7), Dài đầu/ Dài đầu sau mắt = 1,35 (1,2-1,5)
Lươn đồng có thân tròn dài, cuối đuôi dẹp bên, đầu tròn tương đối lớn, cao
hơn thân. Mõm ngắn miệng bé, rạch miệng hơi cong, hàm trên và dưới có răn
nhỏ, lưỡi lươn phát triển. Mỗi bên có 2 lỗ mũi nằm cách xa nhau. Mắt bé, nằm
ẩn dưới da ở một bên đầu, khe mang lệch xuống mặt bụng, hai khe mang hai
bên dính thành một có dạng hình chữ v nhưng ở trong dính với eo mang.
Đường bên liên tục có một rãnh lõm chạy từ sau nắp mang đến cuống đuôi.
Vây ngực, vây bụng thoái hóa. Vây lưng và vây hậu môn tiêu giảm chỉ còn lại
dạng nếp da mỏng nối liền với vây đuôi, lươn không có vảy (Mai Đình Yên,
1978). Theo Đức Hiệp (1999) phần lưng lươn thường có màu vàng nâu hoặc
xanh nâu lấm tấm các chấm đen, bụng thì có màu vàng hoặc da cam xen với
các chấm nhạt. màu sắc của lươn thay đổi theo môi trường. lươn có ruột ngắn,
không có bong bóng và tim cách xa đầu.
thể. Do vậy lươn ở Miền Bắc thường tăng trưởng chậm hơn lươn ở Miền Nam.
Lươn thường bắt mồi vào ban đêm và tìm mồi bằng khứu giác là chính, vào
mùa sinh sản lươn có thể không ăn. Lươn có tính ăn rất khó chịu, lươn có thể
nhịn đói dài ngày, có thể nhịn không ăn cho đến chết nếu đổi thức ăn đột ngột,
thường không ăn thức ăn ương thối (Nguyễn Chung, 2007).
Khi nuôi trong ao, thức ăn tốt nhất cho lươn là giun đất. Ngoài ra có thể cho
lươn ăn thịt trai, phụ phế phẩm…(Hồ Lư, 2003). Ta cũng có thể tập cho lươn
ăn cám, bã đậu, các loại rau quả băm vụn. Hầu hết các trại lươn trên thế giới
đều dùng thức ăn nhân tạo có năng lượng cao, giàu đạm. Thức ăn tổng hợp có
dạng hồ ướt cho lươn con và dạng viên ép hơi nước hay ép viên đùn với những
kích thước khác nhau cho từng giai đoạn phát triển. Hệ số thức ăn từ 0,9-1,9
(Oded Goldan et al, 1998 trích bởi Lý Văn Khánh, 2007). Tuy nhiên ở Việt
Nam vẫn chủ yếu dùng thức ăn tươi sống, đây cũng là một khía cạnh cần
nghiên cứu thêm.
2.1.4. Đặc Điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của lươn phụ thuốc vào rất nhiều yếu tố, nhưng nhìn chung tốc độ
sinh của lươn tương đối chậm hơn so với một số giống loài thủy sản khác.
Lươn năm thứ nhất nuôi lớn nhanh về chiều dài, sau đó tăng về trọng lượng là
chủ yếu. Lươn con 3-4 tháng tuổi có thể dài 20-27cm, nặng 18-60g/con, lươn
6 tháng tuổi có thể dài 36-48 cm nặng 60-100g/con (Nguyễn Chung, 2007).
Lươn ngoài tự nhiên sau một năm tuổi có thể đạt trọng lượng 200-300g/con
(Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2005).
Lươn có khả năng tồn tại khi nhiệt độ dưới 0
o
C, nhiệt độ thích hợp cho sinh
trưởng của lươn từ 25-28
0
C. Khi nhiệt độ thấp hơn 28
0
C lươn bỏ ăn và dưới
2.1.6. Sự điều hòa áp suất thẩm thấu ở cá
Thành phần ion trong máu sự trao đổi ion qua màng tế bào
Máu bao gồm tế bào máu và huyết tương. Trong huyết tương ngoài các chất
đạm, đường, mỡ, fribinogen còn chứa các chất điện phân. Chất điện phân bao
gồm các ion trong thành phần của muối hòa tan chủ yếu là Na
+
, K
+
, Ca
2+
,
Mg
2+
, Cl
-
, CO
3
2-
,PO
4
2-
Theo Robertson (1954) thì trong huyết tương cá
xương biển chứa 92% [Na
+
], chưa đến 1% [K
+
], 97% [Cl
-
] trong tổng số
anion. Nồng độ [HCO
thông qua một số kênh. Sự vận chuyển tích cực giúp tống các chất tích tụ
không hòa tan trong màng và những phân tử lớn thoát ra khỏi màng thông qua
các bơm chuyên biệt. Tham gia vào hoạt động của bơm có sự đóng góp rất lơn
của hai ion là Na
+
và K
+
. Sự gắn vào kênh và thoát ra của ion Na
+
và K
+
phối
hợp một cách nhịp nhàng cùng với năng lượng ATP làm cho kênh này đóng
mở như một cái bơm giúp cho glucose được vận chuyển qua màng dễ dàng
(Nguyễn Thu Thủy, 2004)
Áp suất thẩm thấu
Máu là phần tử của môi trường trong, bất kỳ sự thay đổi nào của môi trường
trong đều ảnh hưởng đến hoạt động sống của tế bào. Vì máu lưu thông qua bề
mặt rộng lớn của cơ thể với một tốc độ tương đối nhanh nên phần dịch ngoại
bào (máu) là quan trọng nhất. Máu có nhiều chức năng quan trọng như vận
chuyển các chất dinh dưỡng, oxy và CO
2
, chức năng điều hòa thể dịch và duy
trì môi trường trong. Trong đó áp suất thẩm thấu và pH là những yếu tố quan
trọng giúp duy trì hoạt động sống bình thường của các tế bào.
Áp suất thẩm thấu của một dung dịch là giá trị để chỉ lượng nước có xu hướng
đi vào trong dung dịch bởi sự thẩm thấu. do đó dưới một điều kiện nhiệt độ và
áp suất nhất định, nước sẽ di chuyển từ dung dịch có áp suất thẩm thấu thấp
sang dung dịch có áp suất thẩm thấu cao khi hai dung dịch được ngăn cách bởi
một màng thấm chọn lọc. Ở trong cơ thể, màng tế bào là màng bán thấm và sự
, Mg
2+
. Các cation này thường liên kết
với các anion tương ứng là Cl
-
, HCO
3
-
, CO
3
2-
, HPO
4
2-
. Ngoài các muối
khoáng, tham gia vào lực thẩm thấu huyết tương còn có một số hợp chất hữu
cơ đặc biệt là các sản phẩm thảy của protein như ure, axit uric,
oxytrimethylamin™), creatinin, ammonic. Tổng lượng các chất này trong máu
cá sụn 1046,2 mg%, cá xương 60 mg%, trong khi máu động vật có vú chỉ có
30,6 mg%. Ngoài ra các axit amin tự do còn có ý nghĩa quan trọng trong điều
hòa áp suất thẩm thấu.
Thận và sự tiết niệu của thận có vai trò quang trọng trong điều hòa áp suất
thẩm thấu. Tiền niệu (chất dịch trong túi bowman) sau khi đi qua ống lượn sẽ
thay đổi thành phần. Trong nước tiểu được thải ra ngoài cơ thể không có
glucoza, axit tamic… chứng tỏ chúng đã được tái hấp thu ở ống lượn. Sự hấp
thu này có tính chọn lọc rõ rệt. Ống lượn hấp thu hoàn toàn đối với glucoza,
axit amin, hấp thu một phần đối với Na,Cl, HCO3
-
và nước. Những chất này
chỉ xuất hiện trong nước tiểu khi nộng độ của chúng trong máu vượt quá mức
phát triển hơn cá xương nước mặn để đáp ứng cho quá trình bài tiết nước tiểu,
các tế bào kây-vinine trên mang ở cá nước ngọt giữ lại Na
+
, trong khi ở cá
biển thì thải Na
+
.
13
Cá xương nước ngọt khi đi vào môi trường có muối cá sẽ giảm việc tạo ra
nước tiểu. đồng thời ngưng việc lấy NaCl đi ngang qua mang, đây là những
điều chỉnh tức thời, cá chỉ có thời gian ngắn là điều chỉnh hoạt động này (vài
phút đến 1,2h). Sau đó cá có những điều chỉnh xa hơn của các ống thận bằng
cách giảm việc tái hấp thu các chất điện phân để gia tăng nồng độ thẩm thấu.
sự điều chỉnh này đòi hỏi thời gian dài hơn để hoàn thiện (Đỗ Thị Thanh
Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000). Như vậy, cơ chế tổng hợp của việc
điều hòa áp suất thẩm thấu của cá có sự tham gia của nhiều cơ quan chuyên
hóa. Cơ chế đó thực hiện sự trao đổi nước và các muối hòa tan qua ruột, mang
và thận.
Ở lươn, Painela J. Schofield và Leo G. Nico đã xác định khả năng chịu độ mặn
cấp thời của lươn đồng được bắt từ bắc Miami. Lươn được chuyển trực tiếp từ
nước ngọt (0,2ppt) sang một dãy độ mặn khác nhau: 14, 16, 18, 20, 22ppt.
Lươn chịu được độ mặn16ppt tới 6 ngày mà không chết. Độ mặn>18ppt lươn
không chịu nổi, tất cả lươn đều chết trong 24 giờ ở 22ppt và 48giờ ở 20ppt.
Lươn nhỏ chết nhanh hơn lươn lớn. Lươn thu ở những vùng khác nhau có khả
năng chịu đựng độ mặn khác nhau: lươn thu từ Manatee và Bắc Miami chết
hơn 90% trong 30 ngày ở độ mặn 18ppt, hơn ½ chết trong 60 ngày ở độ mặn
14-16ppt, trong khi đó lươn thu từ Homstead không chết con nào trong 45
ngày thử nghiệm. Lươn thu từ quận Manatee và Bắc Miami giảm ăn đáng kể
trong thử nghiệm, trong khi hầu hết lươn ở Homestead ăn tốt trong suốt 40
ngày thử nghiệm (trích bởi Phan Thị Thanh Vân, 2005)
Nội tiết tố của tuyến canxiotoxin giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa
canxi ở cá. Vai trò của tuyến giáp trạng trong điều hòa áp suất thẩm thấu thì
chưa rõ lắm.
Cơ chế điều hòa áp suất thẩm thấu của tuyến đuôi phức tạp hơn nhiều so với
tuyến yên. Tuyến đuôi điều hòa áp suất thẩm thẩm thấu thông qua hoạt động
của tuyến yên.
Các thí nghiệm cũng đã chứng minh rằng các động vật thuỷ sinh phát triển rất
nhanh trong môi trường có áp suất thẩm thấu cân bằng. Thí nghiệm được tiến
hành đối với cá hồi bạc và cá hồi đỏ cùng sống chung trong cùng môi trường,
sau một thời gian nghiên cứu, kết quả cho thấy cá sống trong môi trường nước
mặn phát triển nhanh hơn trong môi trường nước ngọt. Có thể giải thích là,
sống trong môi trường có hàm lượng muối cao áp suất thẩm thấu của cá bằng
với môi trường nước, cá không phải tiêu tốn năng lượng cho quá trình điều
hòa thẩm thấu, nên chúng lớn nhanh hơn, điều đó tạo thuận lợi cho sự phát
triển nhanh của cá. Tuy nhiên điều đó không hoàn toàn đúng đối với tôm, Ví
dụ như đối với tôm càng xanh, khi môi trường có độ mặn khoảng từ 17-18 ppt
thì chúng đạt áp suất thẩm thấu cân bằng, trong khi đó chúng lại phát triển
nhanh nhất trong môi trường nước hoàn toàn ngọt và nước có độ mặn thấp.
Khi tiến hành thử nghiệm đối với tôm sú, chúng ta vẫn thu được kết quả tương
tự. Vậy làm thế nào để giải thích được hiện tượng tự nhiên này? Quá trình
tăng trưởng ở giáp xác bị hạn chế bởi lớp vỏ cứng kitin bên ngoài. Sự tăng
trưởng chỉ xảy ra định kỳ trong quá trình lột xác, khi lớp vỏ ngoài không còn
phù hợp, nó sẽ được thay thế bằng một lớp vỏ mới. Khả năng thẩm thấu bị
giảm đi trong qúa trình lột xác, trong thời gian này con vật thẩm thấu một khối
lượng lớn nước vào cơ thể khi lớp biểu bì mới vẫn còn mềm và làm tăng
15
lượng chất lỏng trong cơ thể. Từ đó, lớp biểu bì bị kéo căng ra và gia tăng
kích cỡ của tôm. Khi lớp vỏ cứng lên thì dần dần lượng nứơc hấp thu trong cơ
thể sẽ được thay thế bởi các protein và tôm sẽ tăng lên trọng lượng thân.
Chính bởi khả năng thẩm thấu lớn mà tôm sống trong môi trường nước ngọt
/
00
giảm có ý nghĩa thống kê (p<0,01) so với 2 nghiệm thức
còn lại.
Patric Saoud và ctv (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn 10, 15, 20, 25,
30, 35, 45, 50
0
/
00
lên khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu của cá Dĩa ( Sisanus
Rivulatus), kết quả nghiệm thức 50
0
/
00
có áp suất thẩm thấu của cá đạt giá trị
cao nhất 435 mOsm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm
thức còn lại. Tuy nhiên, áp suất thẩm thấu của cá giữa các nghiệm thức còn lại
từ 10-45
0
/
00
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Khi nuôi cá ở độ
mặn 25, 30, 35 và 40
0
/
00
thì chiều dài và khối lượng cá khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p<0,05). Tuy nhiên hàm lượng Cl
-
của các nghiệm thức 35 và 40
/
00
(92,5%) có ý nghĩa thống
kê (p<0,05). Hiệu quả sử dụng thức ăn cao với tất cả các nghiệm thức, nằm
trong khoảng 1,05 và 1,13. Cá nuôi ở độ mặn 5
0
/
00
tăng trưởng bằng hoặc tốt
hơn cá nuôi ở độ mặn 15 và 30
0
/
00
. Nghiên cứu này cho thấy nuôi cá Bóp giai
đoạn cá hương trong thực tiễn nên nên nuôi ở độ mặn thấp khoảng 5
0
/
00
(Matthew và ctv, 2006) ( trích bởi Nguyễn Thanh Thoại, 2008)
17
CHƯƠNG III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Vật liệu nghiên cứu
3.1.1. Thiết bị và dụng cụ
- Bể nhựa 500L
- Máy đo độ mặn, máy bơm, cân 2 số lẻ.
- Máy đo ASTT Osmometer Fiske One – Ten.
- Máy đo ion Cl
-
- Nghiệm thức 3: 3
0
/
00
- Nghiệm thức 4: 6
0
/
00
- Nghiệm thức 5: 9
0
/
00
- Nghiệm thức 6: 12
0
/
00
- Nghiệm thức 7: 15
0
/
00
18
Lươn được bố trí trong bể nhựa 500 L với mật độ là 25 con/bể. Mỗi ngày nâng
độ mặn 1
0
0
C, 6000 vòng, 6 phút), ta thu huyết tương cho vào
eppendorf 0,5 mL. Mẫu huyết tương được trữ ở 0 -20
0
C cho đến khi đo áp
suất thẩm thấu và ion Na
+
, K
+
, Cl
-
.
Áp suất thẩm thấu được đo bằng máy Fiske one-ten osmometer.
Ion Na
+
, K
+
được đo bằng máy Flame Photometer 420.
Ion Cl
-
được đo bằng máy (MKII Chloride Analyzer 926s). Hình 3.1 Máy li tâm
19
Chăm sóc, quản lý
Thức ăn là tép, cá tạp cắt nhỏ. Cho ăn khoảng 5% khối lượng thân/ngày, cho
Nhiệt độ ghi nhận được trong quá trình thí nghiệm dao động từ 27,25 đến
28,37
0
C và nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của lươn.
Theo Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm (2005) thì nhiệt độ thích hợp cho
sự sinh trưởng của lươn từ 25-28
0
C. Trương Quốc Phú và ctv (2006) cho rằng,
pH thích hợp cho sự sinh trưởng của thủy sinh vật từ 6,5-9, tốt nhất là 7.
Những loài sống trong nước mặn pH thích hợp từ 7,5-8,4. pH thu được trong
thí nghiệm này dao động từ 8,1-8,25 phù hợp cho sự phát triển của lươn.
Vậy nhiệt độ và pH trong thí nghiệm thuận lợi cho sự sinh trưởng bình thường
của lươn và không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm.
4.2 Ảnh hưởng của độ mặn lên điều hòa áp suất thẩm thấu của lươn
đồng
Sự thay đổi áp suất thẩm thấu của lươn ở các độ mặn khác nhau được trình
bày trong bảng 4.2.
Nhìn chung, áp suất thẩm thấu của lươn tăng theo nồng độ muối. Áp suất thẩm
thấu của nước thấp nhất ở độ mặn 0ppt (0 mOsm), kế đến l
à 1ppt
( 38,33±4,16 mOsm), đến 3ppt, 6ppt, 9ppt, 12ppt, 15ppt và cao nhất là 16ppt
với 437,75±22,54 mOsm. Tương ứng với môi trường, áp suất thẩm thấu của
21
lươn thu ở 24 giờ đạt thấp nhất ở nghiệm thức 0ppt với 258,5±53,03 mOsm,
rồi đến 1ppt với 259,33±9,89 mOsm, đến 3ppt, 6ppt, 9ppt, 12ppt, 15ppt và đạt
giá trị cao nhất ở nghiệm thức 16ppt với 416,43±38,40 mOsm và khác biệt có
ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại .
Theo Patric Saoud et al., (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ mặn
10, 15, 20, 25, 30, 35, 40, 45 và 50‰ lên khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu
của cá Dĩa (Sisanus rivulatus). Áp suất thẩm thấu của cá đạt giá trị cao nhất ở
21N
(mOsm/kg)
NUOC
(mOsm/kg)
0
266±10.82
Aa
258.5±53.03
Aa
256.5±21.92
Aa
249.20±28.67
Aa
284.4±11.72
Ba
259±12.88
ABa
0
1
258.2±2.39
Ab
259.33±9.89
241±26.63
Ab
243.8±20.87
Abc
89.67±8.5
Ba
6
272.5±18.08
Abc
279.75±7.68
Abc
305.33±24.03
Bcd
316.6±42.71
Bd
264±12.10
Bb
276.8±21.25
BCbc
169.33±13.65
Ca
348±33.15
Cbc
361±18.38
Cc
339.17±16.41
Cbc
355.67±7.17
Dbc
347.67±22.19
Ebc
15
320.2±21.39
Ba
340.17±4.17
Ca
369±12.7
Cb
411±8.98
Dc
442.75±7.27
Dd
0 ppt, 1ppt, 3ppt, 6ppt. Riêng ở lần thu 7 ngày, 21 ngày, các nghiệm thức 9ppt,
12ppt, 15ppt khác biệt nhau rất rõ và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các
nghiệm thức còn lại.
Bảng 4.2 cũng cho thấy ở độ mặn 9 ppt áp suất thẩm thấu của cơ thể cân bằng
với môi trường, điểm đẳng áp này có sự dịch chuyển theo thời gian được thể
hiện qua các hình từ 4.2 đến 4.9. Ở lần thu 6h điểm đẳng áp xảy ra ở độ mặn
9ppt. lần thu 24h, 3 ngày và 7 ngày thì điểm đẳng áp nằm ở 9ppt và 12ppt, lần
thu 14 ngày thì ở 12 và 15ppt, tuy nhiên ở 15ppt thì điểm đẳng áp duy trì
không lâu. lần thu 21 ngày thì điểm đẳng áp nằm ở 9ppt và 12ppt.
0
100
200
300
400
500
600
0ppt 1ppt 3ppt 6ppt 9ppt 12ppt 15ppt
độ mặn
mOsm
6 giờ
24 giờ
3 ngày
7 ngày
14 ngày
21 ngày
nước
24
400
450
500
0 1 3 6 9 12 15
ppt
mOsm
nước
huyet tuong
0
100
200
300
400
500
0 1 3 6 9 12 15
độ mặn
m O sm
nước
huyết tương
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
500
nước
huyết tương
0
100
200
300
400
500
600
0 1 3 6 9 12 15
độ mặn
m O s m
nước
huyết tương
25
thể ở thời điểm 7 ngày, nghiệm thức 1ppt, 6ppt, áp suất thẩm thấu của lươn
tăng lên 85,83±16,36 mOsm, 316,6±42,71 mOsm đạt cao nhất và khác biệt có
ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại. Sau đó, áp suất thẩm thấu của
lươn giảm xuống và cân bằng so với các lần thu ban đầu. Ở độ mặn 9 ppt, sau
14 ngày áp suất thẩm thấu tăng lên 351,6 mOsm và khác biệt có ý nghĩa thống
kê so với các lần thu còn lại. Sau đó thì giảm xuống và cân bằng so với các lần
thu trước. Riêng ở độ mặn 3ppt, áp suất thẩm thấu của lươn giảm xuống còn
241±26,63 mOsm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các lần thu
trước. Qua đó cho thấy từ điểm đẳng áp trở xuống lươn bắt đầu phản ứng với
sự thay đổi của môi trường sau khi đạt độ mặn thuần hóa từ 7- 14 ngày.
Ở độ mặn 12ppt, sau khi nâng đạt độ mặn thí nghiệm 24 giờ thì áp suất thẩm
thấu của lươn tương đối ổn định ở tất cả các lần thu và khác biệt có ý nghĩa
thống kê so với lần thu 6 giờ. Đối với nghiệm thức15ppt, áp suất thẩm thấu
của lươn không có sự biến đổi ở lần thu 6h và 24 h, sau đó áp suất thẩm thấu
của lươn tăng liên tục và khác biệt rất rõ ở các lần thu về sau. Giải thích các
12ppt
15ppt