TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
HUỲNH TRUNG HIẾU
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP THUẦN HOÁ LÊN
TỈ LỆ SỐNG, ĐIỀU HOÀ ÁP SUẤT THẨM THẤU VÀ
ION CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP THUẦN HOÁ LÊN
TỈ LỆ SỐNG, ĐIỀU HOÀ ÁP SUẤT THẨM THẤU VÀ
ION CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
2009
LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Đỗ Thị Thanh Hương
đã hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, động viên và truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý
thuần dưỡng một tuần tại cùng một độ mặn của trang trại nuôi khi chuyển về để
tránh tôm bị sốc do đánh bắt và vận chuyển. Tôm được bố trí vào các nghiệm
thức theo 2 phương pháp thuần hóa: giảm độ mặn 2, 4, 8 và 16 ppt, và tăng độ
mặn 2, 4, 8 và 16 ppt, nghiệm thức đối chứng có độ mặn 16 ppt. Các thời điểm
thu mẩu được thực hiện tại 0, 0.25, 3, 7 và 14 ngày sau khi thuần hóa.
Áp suất thẩm thấu (ASTT) của tôm 3 ngày sau khi thuần hóa đã ổn định,
giá trị ASTT ở các nghiệm thức giảm 2, 4, 8 ppt và đối chứng (16 ppt) khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Ở các nghiệm thức được thuần hoá theo
phương pháp tăng thì chỉ có nghiệm thức tăng 2 ppt không sai khác với nghiệm
thức đối chứng, còn các nghiệm thức tăng 4 ppt, 8 ppt, 16 ppt có sự sai khác với
hai nghiệm thức đối chứng và tăng 2 ppt. Vào thời điểm 6 giờ quá trình điều
hòa áp suất thẩm thấu đã diễn ra và giá trị ASTT sai khác có ý nghĩa thống kê
(p<0,05) so với thời điểm 0 giờ bố trí thí nghiệm. Quá trình điều hòa các ion Cl
-
, Na
+
trong cơ thể tôm xảy ra cũng giống như đối với áp suất thẩm thấu. Điểm
đẳng trương được tìm thấy ở khoảng độ mặn 20 ‰.
Riêng đối với ion K
+
thì ở các nghiệm thức của phương pháp giảm 2, 4,8
và 16 ppt và tăng 2, 4 ,8, 16 ppt có sự chênh lệch không theo qui luật rõ ràng,
giá trị ion K
+
dao động trong khoảng 6,6 đến 10,4 mM ở phương pháp thuần
hóa giảm và trong khoảng 7,6 đến 12,1 mM ở phương pháp thuần hóa tăng tại
các thời điển thu mẩu trong vòng 14 ngày.
Sau 14 ngày bố trí thì tỉ lệ sống các nghiệm thức ở phương pháp thuần
hóa giảm 2, 4, 8 ppt và phương pháp tăng 2, 4, 8 và 16 ppt và đối chứng 16 ppt
không có sự chênh lệch lớn và dao động từ 82,5-91,7 %, tuy nhiên khi thuần
2.1.5. Thức ăn và tập tính ăn. 5
2.1.6. Yêu cầu về môi trường sống của tôm sú 5
2.2 Ảnh hưởng của độ mặn lên một số chức năng sinh lý của tôm: 7
2.2.1 Ảnh hưởng của độ mặn lên điều hòa áp suất thẩm thấu 7
2.2.2 Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỉ lệ sống: 8
CHƯƠNG III 10
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Vật liệu nghiên cứu: 10
3.2 Nguồn tôm thí nghiệm 10
3.3. Phương pháp nghiên cứu: 10
3.3.1 Yếu tố môi trường 10
3.3.2 Yếu tố sinh lý 10
3.4. Bố trí thí nghiệm: gồm có 2 lô 11
· LÔ A: Ảnh hưởng của độ mặn lên khả năng điều hoà áp suất thẩm
thấu và ion của tôm sú giai đoạn 5-10 g 11
· LÔ B: Ảnh hưởng của các độ mặn lên tỉ lệ sống của tôm sú giai đoạn
5-10 g : 11
3.5. Phương pháp xử lý số liệu: 12
CHƯƠNG IV 13
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 13
4.1. Các yếu tố môi trường 13
4.1.1. Nhiệt độ 13
4.1.2. pH 13
4.1.3. Oxy hoà tan (DO) 14
4.1.4. Các chỉ tiêu đạm: 14
4.2. Ảnh hưởng phương pháp thuần hoá lên điều hoà áp suất thẩm thấu, ion
của tôm sú (Penaeus monodon): 15
4.2.1. Áp suất thẩm thấu: 15
4.2.2. Ion Cl
-DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Biến động nhiệt độ, pH, DO trong quá trình bố trí thí nghiệm…… 13
Bảng 4.2: Sự biến đổi các chỉ tiêu đạm trong quá trình bố trí thí nghiệm…… 14
Bảng 4.3: Áp suất thẩm thấu của các nghiệm thức tại các thời điểm 0, 0.25, 3, 7
và 14 ngày…………………………………………………………………… 16
Bảng 4.4: Hàm lượng ion Cl
-
của các nghiệm thức tại các thời điểm 0, 0.25, 3, 7
và 14 ngày…………………………………………………………… ………20
Bảng 4.5: Hàm lượng ion Na
+
của các nghiệm thức tại các thời điểm 0, 0.25, 3,
7 và 14 ngày………………………………………………………………… 20
Bảng 4.6: Hàm lượng ion K
+
trong máu của các nghiệm thức qua các thời điểm
thu mẫu 0, 0.25, 3, 7 và 14 ngày………………………………………………21
theo phương pháp thuần hóa giảm 2,
4, 8 và 16 ppt so với nghiệm thức đối chứng (16 ppt)……………………… 23
Đồ thị 4.6: Nồng độ các ion Cl
-
, Na
+
và K
+
theo phương pháp thuần hóa tăng 2,
4, 8 và 16 ppt so với nghiệm thức đối chứng (16 ppt)…………………… 25
Hình 4.7: Biểu đồ so sánh tỉ lệ sống của tôm sau 14 ngày bố trí ở các nghiệm
thức khi thuần hoá theo các phương pháp khác nhau…………………………26
quá trình nuôi độ mặn sẽ giảm dần (thậm chí 0‰) trong mùa mưa hay tăng lên
vào mùa nắng. Tuy nhiên nhiều loài thuỷ sản có một cơ chế thích nghi với sự
biến đổi của độ mặn chính là khả năng điều hoà áp suất thẩm thấu.
Tôm sú là một loài giáp xác sống trong nước, mọi hoạt động sống như
trao đổi chất, hô hấp, bài tiết… thông qua môi trường nước bên ngoài. Khi điều
kiện độ mặn bên ngoài thay đổi đều ảnh hưởng đến một số chức năng sinh lý
như khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu, tiêu hao oxy, tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ
sống và khả năng miễn dịch…của chúng.
Để xác định đặc tính thích nghi, khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu ở
tôm sú, việc tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của phương pháp thuần
hoá lên tỉ lệ sống, điều hoà áp suất thẩm thấu và ion của tôm sú (Penaeus
monodon)” là điều cần thiết.
1.2. Mục tiêu đề tài
Nhằm đánh giá khả năng điều hoà áp suất thẩm thấu và ion cũng như tỉ
lệ sống của tôm sú (Penaeus monodon) bằng phương pháp thuần hoá đột ngột
trong điều kiện thí nghiệm. Từ đó cung cấp một số thông tin sinh lý sinh học cơ
bản giúp người nuôi có thể chăm sóc quản lý tôm nuôi đạt hiệu quả tốt nhất
1.3. Nội dung của đề tài
Khả năng điều hoà áp suất thẩm thấu, ion và tỉ lệ sống của tôm sú (5-
10g) khi thuần hoá đột ngột ở các phương pháp thuần hoá khác nhau.
1.4. Thời gian và địa điểm thực hiện
Đề tài được tiến hành từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009. Các thí
nghiệm được thực hiện tại trại thực nghiệm và phòng thí nghiệm thuộc Khoa
Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ.
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
0
C (Cook và Rabanal, 1978) (trích bởi Tuấn,
1995).
2.1.4 Sinh lý học
Sự lột xác .
Sự sinh trưởng của các loài giáp xác nói chung mang tính gián đoạn và
có sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng sau khi lột xác. Quá trình
này phụ thuộc rất nhiều vào dinh dưỡng, môi trường sống và giai đoạn phát
triển của cá thể (Solis, 1988).
Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức
độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp cũ để lớn lên. Sự lột xác thường xãy ra vào
ban đêm. Sự lột xác đi đôi với việc tăng thể trọng, cũng có trường hợp lột xác
nhưng không tăng thể trọng (Wickins, 1976).
Khía cạnh sinh lý học của việc lột xác của P. monodon đã nhận được sự
chú ý. Mặc dù một số nghiên cứu đã được thực hiện dựa trên những yếu tố bên
ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, chu kỳ sáng và độ mặn cái có thể làm ảnh hưởng
đến sự lột xác của tôm biển (Bishop và Herrnkind 1976, wickins 1976) tuy
nhiên chưa có nghiên cứu thực hịên trên P. monodon. Trong khi đó, Ferraris et
al (1986) đã báo cáo ở mức độ cao về sự tương tác giữa sự lột xác và độ mặn
lên sự điều hoà ion và áp suất thẩm thấu ở tôm P. monodon.
Điều hòa áp suất thẩm thấu
Đối với các loài giáp xác khi thay đổi độ mặn của nước sẽ hình thành
một cơ chế thích nghi với điều kiện môi trường thay đổi này. Sự phản ứng có
thể là hiện tượng hoạt động tìm lối thoát nhưng cơ chế hiệu quả hơn là quá trình
sinh lý của chúng như khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu của cơ thể. Quá
trình này đã được báo cáo bởi Mantel và Farmer (1983), Truchot(1983),
Kleinhohz (1985) và Skinner (1985). Ngược lại, điều hòa áp suất thẩm thấu của
tôm sú (Penaeus monodon) cũng đã được nghiên cứu chỉ bởi một vài tác giả
như Ferraris et al (1986) và Cheng and Liao (1986).
Trong vòng đời tôm sú, việc đẻ trứng xảy ra ở vùng nước ngoài khơi nơi
(potassium) (Cheng và Liao, 1986); Ferraris et al (1986) tìm ra ion
chloride (Cl
-
) giữa 324 tới 339 mM/L ở tôm 10 g.
2.1.5. Thức ăn và tập tính ăn.
Hall (1962) cho rằng các loài tôm biển nói chung là loài ăn tạp, đối với
tôm sú thì đặc biệt thích các loài giáp xác, vật chất thực vật, giun nhiều tơ, động
vật thân mềm, cá và côn trùng. Marte (1980) báo cáo rằng thức ăn của P.
monodon cũng gồm có giáp xác (cua nhỏ và tôm) và động vật thân mền chiếm
85% thức ăn được ăn vào. 15% còn lại gồm có cá, giun nhiều tơ, các mảnh vụn,
cát và bùn. Điều này chứng tỏ rằng tôm sú là loài ăn thịt thuộc nhóm động vật
không xương sống bậc cao sống đáy di chuyển chậm hơn là loài ăn xác thối và
mùn bả hữu cơ. Kuttyama (1973) quan sát rằng hổn hợp các mảnh vụn của bùn
và vật chất hữu cơ tạo thành thành phần chính trong bao tử kế đến là giáp xác về
mặt số lượng. Những thức ăn tương tự cũng được quan sát bởi Su và Liao
(1986). Những điều này được đề nghị rằng P. monodon là động vật ăn thịt với
sở thích đặc biệt là giáp xác khi sống trong môi trường tự nhiên, nhưng chúng
cũng ăn những vật chất hữu cơ kiếm được bao gồm cả tảo.
Tôm sú P. monodon tăng hoạt động bắt mồi lúc triều xuống (Marte
1980) và thức ăn của chúng rất đa dạng (Kuttyama, 1973). Thức ăn không được
tiêu hoá sẽ được thải ra ngoài theo phân 4 giờ sau khi ăn (Marte, 1980)
2.1.6. Yêu cầu về môi trường sống của tôm sú
Nhiệt độ
Tôm sú có thể sống ở khoảng nhiệt độ từ 15-35
0
C, nhiệt độ tối ưu để
tôm phát triển là từ 25-30
0
C, khi nhiệt độ dưới 15
0
khả năng sống ở nồng độ muối rất thấp, ngay cả trong nước ngọt nhưng chỉ
trong thời gian ngắn.
pH
pH của nước thường biến động theo tính chất môi trường nước và nền
đáy thủy vực, trong tự nhiên tôm thích nghi với pH biến động từ 6,5-8,5 trên
hoặc dưới giới hạn này sẽ không có lợi cho tôm. Nếu nước có độ pH dưới 4 hay
trên 10 có thể gây chết tôm (Phương và Hải, 2004).
Khi pH quá cao hay quá thấp đều có tác động lớn đến khả năng điều hòa
áp suất thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối và nước
giữa cơ thể sinh vật với môi trường ngoài. Khi pH của môi trường nước cao tạo
ra nhiều NH
3
và ngược lại tạo ra nhiều H
2
S hoặc NO
2
-
(Boyd, 1982).
Oxy hòa tan (DO)
Ở nồng độ oxy hòa tan <4 mg/L thì tôm vẫn bắt mồi nhưng chúng tiêu
hoá thức ăn không hiệu quả. Hàm lượng oxy thấp như thế có thể ảnh hưởng đến
tôm và dẫn đến tăng tính cảm nhiễm bệnh. Nếu hàm lượng oxy giảm thấp hơn
nữa (2-3 mg/L) thì tôm sẽ ngừng bắt mồi và yếu đi nhiều, hàm lượng oxy thấp
(<2 mg/L) có thể làm tôm chết ngạt (Pornlerd et. al.) (Trích bởi Tuấn và ctv,
2003)
Các triệu chứng của tôm khi ao hồ bị thiếu oxygen: Tôm sẽ tập trung gần
mặt nước, gần vị trí dẫn nước vào ao hoặc dọc theo bờ ao, tôm sẽ giảm di
chuyển nhưng sẽ gia tăng tốc độ hô hấp, có thể hôn mê và chết (Trụ, 1994)
Nitrogen
Nitơ trong môi trường nước có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau
2+
) và magesium (Mg
2+
)
trong nước. Ở tôm, cá độ cứng của nước ảnh hưởng đến khả năng điều hòa áp
suất thẩm thấu, điều hòa lượng Ca
2+
của máu và ảnh hưởng đến tính độc của
một số khoáng chất và thuốc trừ sâu (Hảo, 1995)
Độ kiềm của nước do các ion carbonate (CO
3
2-
) và bicarbonate (HCO
3
-
)
trong nước quyết định. Độ kiềm trong nước được tính thông qua hàm lượng
CaCO
3
trong nước, khi trong nước có Ca
2+
nhiều thì khả năng giữ HCO
3
-
và
CO
3
2-
trong nước cao.
Độ kiềm để tôm sú sống được là cao hơn 60 mg/L, tối ưu để tôm phát
trường. Ở các độ mặn cao từ 21-27 ‰ sau 42 ngày giá trị áp suất thẩm thấu có
xu hướng tăng theo môi trường từ 506-829 mOsm và đối với nhiệm thức 30 ‰
thì sau thời gian 42 ngày thì tôm đã chết do không còn khả năng điều hòa áp
suất thẩm thấu.
Nồng độ áp suất thẩm thấu và chloride trong hemolymph của tôm
(Penaeus monodon) trở nên ổn định sau một ngày lột xác ở độ mặn 32 ‰, trong
khi nồng độ protein và calcium tổng số vẫn duy trì ổn định xuyên suốt chu kỳ
lột. Trong giai đoạn lột xác (≥36 giờ sau khi lột) sinh vật được chuyển từ độ
mặn đối chứng (32‰) sang độ mặn thí nghiệm (8-49 ‰), áp suất thẩm thấu,
chloride và protein tổng số, ngoại trừ calcium, nồng độ ion của máu
(hemolymph) đạt được giá trị ở trạng thái ổn định sau 24- 48 giờ chuyển sang
(Ronaldo P. Ferraris et al (1986)).
Sự thay đổi độ mặn cũng ảnh hưởng đến áp suất thẩm thấu và sự cân
bằng ion trong cơ thể tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii). Ở các độ
mặn: 0 ‰ (đối chứng), 7, 14, 21 ‰ tương ứng với thời gian 0.5, 2, 3 ngày, cho
thấy tôm đực và tôm cái có sự thẩm thấu cao và nồng độ ion cao khi ở độ mặn
từ 0 đến 14‰. Điểm cân bằng thẩm thấu là 14.5 ‰ và 15.6 ‰, điểm cân bằng
ion Cl
-
và Na
+
là 14.5 ‰ và 14.7 ‰. Những tôm trưởng thành, mất đi khả năng
điều chỉnh thẩm thấu cao, và trở nên cân bằng với áp suất thẩm thấu khi môi
trường lớn hơn 14.5 ‰ đến 21 ‰ ở tôm đực và 15.6 ‰ đến 21 ‰ ở tôm cái
(Winton et al, 2003).
2.2.2 Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỉ lệ sống:
Ảnh hưởng của nồng độ muối lên sự tăng trưởng của tôm vẫn chưa được
hiểu rõ, song có lẽ trong quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu và trao đổi ion
trong môi trường cần đến năng lượng điều này ảnh hưởng đến tăng trưởng của
tôm (Lester và ctv, 1992) (trích bởi Tuấn,1995).
Đo nồng độ ion: MK II Chloride Analyzer 926S đối với ion Cl
-
và FLM 3
Flame Photometer với ion K
+
, Na.
Máy ly tâm lạnh.
Tủ trữ đông.
Nước ót 120 ‰ dùng để pha các độ mặn.
Nước ngọt sử dụng để hạ độ mặn được cấp từ nước máy đã được lọc kỹ trước
khi dùng
3.2 Nguồn tôm thí nghiệm
Tôm sú (Penaeus monodon) được dùng cho thí nghiệm là tôm có khối
lượng 5-10 g (tôm nuôi ở độ mặn 16 ‰). Tôm được vận chuyển sống bằng
thùng nhựa hoặc thùng cách nhiệt trong nước biển có cùng độ mặn với ao nuôi,
có bố trí sục khí lúc vận chuyển và ở nhiệt độ thường.
Đến phòng thí nghiệm, tôm được cho vào bể 500 L, nước trong bể có
cùng độ mặn với ao nuôi, mật độ tối đa 100 con/bể (tôm thịt), có bố trí sục khí
liên tục, tôm được dưỡng ít nhất một tuần để đảm bảo không còn bị sốc do đánh
bắt và vận chuyển.
Trong thời gian thuần dưỡng tôm được cho ăn ngày 2 lần lúc 8giờ và lúc
18giờ mỗi ngày bằng thức ăn viên với hàm lượng đạm theo giai đoạn phát triển
của tôm. Làm vệ sinh và thay nước cho bể tôm vào mỗi buổi chiều.
3.3. Phương pháp nghiên cứu:
3.3.1 Yếu tố môi trường
Nhiệt độ, oxy, pH được đo 2lần/ngày bằng máy đo.
Các chỉ tiêu đạm được thu lúc 1 ngày, 7 ngày, 14 ngày sau khi bố trí. Trong đó
yếu tố NO
2
-
Gồm có 9 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trên bể nhựa 500L,
mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Trong đó có 8 nghiệm thức theo các hướng tăng
và giảm độ mặn đột ngột và 1 đối chứng ở độ mặn ban đầu.
Các mức độ mặn tăng, giảm: 2 ‰, 4 ‰, 8 ‰ và 16 ‰.
Các nghiệm thức (NT):
1. NT-0b: Nghiệm thức đối chứng (16 ‰)
2. NT-1b: tăng đột ngột 2 ‰ so với đối chứng
3. NT-2b: tăng đột ngột 4 ‰ so với đối chứng
4. NT-3b: tăng đột ngột 8 ‰ so với đối chứng
5. NT-4b: tăng đột ngột 16 ‰ so với đối chứng
6. NT-5b: giảm đột ngột 2 ‰ so với đối chứng
7. NT-6b: giảm đột ngột 4 ‰ so với đối chứng
8. NT-7b: giảm đột ngột 8 ‰ so với đối chứng
9. NT-8b: giảm đột ngột 16 ‰ so với đối chứng
- Mật độ bố trí: 40 con/bể.
- Chăm sóc và quản lý: Các nghiệm thức được sục khí 24/24 h. Tôm được cho
ăn 2 lần/ngày bằng thức ăn viên, bể thí nghiệm được vệ sinh mỗi ngày vào buổi
chiều, sử dụng hệ thống lọc tuần hoàn cho các nghiệm thức thí nghiệm để đảm
bảo hàm lượng đạm tổng số trong mức cho phép không làm ảnh hưởng đến tỉ lệ
sống và sức khoẻ của tôm .
- Cách bố trí: Phương pháp tăng và giảm độ mặn đột ngột: các độ mặn đó được
pha đến yêu cầu của các nghiệm thức (300 L/bể), sau đó bố trí tôm vào các bể
(40 con/bể). Các nghiệm thức của lô A và lô B ở cùng độ mặn được bố trí song
song với nhau để có thể dễ dàng theo dõi và thu mẫu.
Thời gian và phương pháp thu mẫu:
- Thu ngẫu nhiên 3 con/bể ở các thời điểm 0, 0.25, 3, 7 và 14 ngày sau khi thuần
hoá đối với các nghiệm thức của lô A
- Máu tôm được thu từ tim ở tại phòng thí nghiệm, đem ly tâm và trữ mẫu ở tủ
đông -80
0
Bảng 4.1: Biến động nhiệt độ, pH, DO trong quá trình bố trí thí nghiệm
Yếu tố
Buổi
Nhiệt độ pH DO
Sáng 26,6±0,26 7,75±0,13 6,83±0,14
Chiều 29,6±0,09 7,86±0,13 7,53±0,13
Giá trị nhiệt độ được tính theo đơn vị (
0
C), oxy hoà tan (DO) được tính theo mg/L.
4.1.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động sống của tôm. Khi nhiệt
độ trong nước thấp dưới mức nhu cầu sinh lý của tôm sẽ ảnh hưởng đến quá
trình trao đổi chất bên trong cơ thể. Khi nhiệt độ cao quá mức chịu đựng và kéo
dài thì tôm sẽ bị rối loạn sinh lý và chết (Phương, 2001). Dựa vào bảng trên cho
thấy (bảng 4.1) nhiệt độ trung bình dao động từ 26,6±0,26
0
C đến 29,6±0,09
0
C.
Do ảnh hưởng ánh sáng mặt trời nên nhiệt độ có sự biến động lớn giữa buổi
sáng và buổi chiều. Tuy nhiên do thí nghiệm được bố trí trong trại có máy che,
mực nước của các bể giữa các nghiệm thức khá đồng đều nhau nên nhiệt độ
giữa các nghiệm thức không có sự biến động lớn, và tương đối đồng nhất trong
quá trình thí nghiệm.
Theo Chen (1988), khoảng nhiệt độ lý tưởng đối với hoạt động sống cuả
các loài tôm là từ 26
0
C đến 30
0
C. Theo Hòa và ctv (2001), nhiệt độ tối ưu cho
NO
2
-
NO
3
-
NH
3
Ngày thứ 1 0,90±0,05 1,11±0,15 0,04±0,04
Ngày thứ 7 1,07±0,08 2,85±0,44 0,08±0,08
Ngày thứ 14 1,25±0,12 5,88±0,55 0,09±0,08
Các chỉ tiêu trên đều được tính theo đơn vị mg/Lit
Nitrite (NO
2
-
)
Giá trị nitrite trung bình của các nghiệm thức đối với ngày đầu, ngày thứ
bảy, ngày thứ mười bốn sau khi bố trí thí nghiệm lần lượt là là 0,9±0,05 mg/L,
1,07±0,08 mg/L, 1,25±0,12 mg/L. Giá trị trên cho thấy hàm lượng nitrite có sự
tăng dần khi thời gian bố trí thí nghiệm tăng lên do chất lượng nước ngày càng
kém nhưng hàm lượng vẫn ở mức không ảnh hưởng đến sức khoẻ của tôm. Vì
theo Boyd (1992), nồng độ nitrite trong nước cao trên mức 4-5 mg/L có thể ảnh
hưởng bất lợi cho tôm.
Nitrate (NO
3
-
)
Giá trị nitrate biến động trung bình của các nghiệm thức đối với ngày
đầu, ngày thứ bảy, ngày thứ mười bốn sau khi bố trí thí nghiệm lần lượt là
1,11±0,15 mg/L, 2,85±0,44 mg/L, 5,88±0,55 mg/L. Cũng giống với yếu tố
4.2. Ảnh hưởng phương pháp thuần hoá lên điều hoà áp suất thẩm thấu,
ion của tôm sú (Penaeus monodon):
4.2.1. Áp suất thẩm thấu:
Trao đổi nước và muối giữa cơ thể và môi trường nước là hoạt động
sống đặc biệt quan trọng ở thuỷ sinh vật, đặc trưng cho sinh vật sống ở nước.
Trong cơ thể sinh vật luôn phải có một hàm lượng nước và một lượng muối
nhất định. Do đó để đảm bảo duy trì sự sống bình thường, ngoài việc đảm bảo
lượng nước cần thiết thuỷ sinh vật cần có những đặc điểm thích ứng và những
cơ chế điều hoà nhằm đảm bảo cho cơ thể luôn có một nồng độ muối và thành
phần muối nhất định (Đặng Ngọc Thanh, 1974).
Sau khi được thuần dưỡng một tuần tại độ mặn 16 ppt (bằng với độ mặn
ở trang trại nuôi tại thời điểm chuyển tôm về phòng thí nghiệm), tôm được bố
trí vào các nghiệm thức theo phương pháp giảm đột ngột 2, 4, 8, 16 ppt và
phương pháp tăng đột ngột 2, 4, 8, 16 ppt và nghiệm thức đối chứng ở độ mặn