1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN VÕ THÀNH RÔ
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN LÊN TIÊU HÓA VÀ SỬ
DỤNG THỨC ĂN CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
DỤNG THỨC ĂN CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs. Ts. NGUYỄN THANH PHƯƠNG
2009
3LỜI CẢM TẠ
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thanh Phương và cô Đỗ Thị
Thanh Hương đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả thầy cô trong khoa Thủy Sản đã dạy bảo, hướng
Thủy Sản - Trường Đại học Cần Thơ, nhằm tìm hiểu sự thay đổi về tiêu hóa
của tôm sú (Penaeus monodon) kích cỡ 10±2 g trong môi trường độ mặn khác
nhau. Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng của độ mặn lên thời gian sử dụng và tiêu
hóa thức ăn của tôm sú (thí nghiệm 1) được tiến hành trên bể nhựa tròn, thể
tích 1m
3
, gồm 4 nghiệm thức: (1) Độ mặn thấp nhất mà tôm còn khả năng điều
hòa áp suất thẩm thấu để duy trì sự sống (3‰), (2) Độ mặn cao nhất mà áp
suất thẩm thấu của tôm lớn hơn so với áp suất thẩm thấu của môi trường
(15‰), (3) Độ mặn mà áp suất thẩm thấu của tôm tương đương với áp suất
thẩm thấu của môi trường (25‰) và (4) Độ mặn thấp nhất mà áp suất thẩm
thấu của tôm nhỏ hơn so với áp suất thẩm thấu của môi trường (35‰). Ở thí
nghiệm này, dạ dày tôm được thu sau khi cho tôm ăn với nhịp thu 20, 40 phút,
1, 2, 3, 4 và 5 giờ, mỗi nhịp thu 10 dạ dày tôm ở mỗi nghiệm thức để xác định
thời gian tôm sử dụng thức ăn và thời gian tôm tiêu hóa hết thức ăn trong dạ
dày. Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng của độ mặn lên độ tiêu hóa thức ăn, tiêu
hóa đạm và năng lượng của tôm sú (thí nghiệm 2) được thực hiện trên bể
composite hình chữ nhật 0,5m
3
, được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên,
gồm 4 nghiệm thức (giống thí nghiệm 1) và mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lẩn.
Việc xác định độ tiêu hóa của tôm thông qua việc sử dụng chất đánh dấu
Cromic Oxide (Cr
2
O
3
). Chất đánh dấu này không được tôm tiêu hóa và hấp
thu nên tỷ lệ nồng độ chất đánh dấu trong phân và trong thức ăn chính là sự
tiêu hóa thức ăn của tôm. Kết quả cho thấy, ở độ mặn 3‰ và 15‰ thời gian sử
dụng thức ăn của tôm ngắn hơn ở độ mặn 25‰ và 35‰. Tuy nhiên, tổng thời
2.3. Sơ lược phương pháp đánh giá khả năng tiêu hóa ở một số đối
tượng thủy sản 10
CHƯƠNG 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1. Vật liệu 11
3.1.1. Nguồn tôm thí nghiệm 11
3.1.2. Nguồn nước dùng cho thí nghiệm 11
3.1.3. Các vật liệu chính dùng cho thí nghiệm 11
3.2. Các thí nghiệm 11
3.2.1. Thí nghiệm 1 11
3.2.2. Thí nghiệm 2 13
3.3. Phương pháp xử lý số liệu 15
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 16
4.1. Ảnh hưởng của độ mặn lên thời gian sử dụng và tiêu hóa thức ăn
của tôm sú (Penaeus monodon) 16
4.1.1. Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 16
4.1.2. Ảnh hưởng của độ mặn lên thời gian sử dụng và tiêu hóa
thức ăn của tôm sú (Penaeus monodon) 17
4.2. Ảnh hưởng của độ mặn lên độ tiêu hóa thức ăn, tiêu hóa đạm và
năng lượng của tôm sú (Penaeus monodon) 20
4.2.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 20
4.2.2 Ảnh hưởng của độ mặn lên độ tiêu hóa thức ăn, tiêu hóa
đạm và năng lượng của tôm sú (Penaeus monodon) 21
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
PHỤ LỤC 27
6
7
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu
Ở Việt Nam, với việc cho sinh sản nhân tạo thành công con tôm sú vào
năm 1985 (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) đã tạo ra sức bậc
mới cho nghề nuôi tôm biển nói chung. Từ đây, con tôm sú đã dần trở thành
đối tượng chủ yếu trong sản xuất giống và trong nghề nuôi tôm biển ở nước ta
hiện nay. Đặc biệt là ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, tôm sú đã trở thành
đối tượng nuôi chính trong nghề nuôi thủy sản của các tỉnh ven biển như: Cà
Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre,
Theo thống kê của Bộ Thủy sản (2004), năm 2003 diện tích nuôi tôm
của cả nước là 574 nghìn ha với sản lượng 237 nghìn tấn. Riêng Đồng Bằng
Sông Cửu Long đã chiếm tới 463 nghìn ha với sản lượng đạt gần 170 nghìn
tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của độ mặn lên tiêu hóa và sử dụng thức ăn
của Tôm sú (Penaeus monodon)” được thực hiện.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng tiêu hóa và thời gian tiêu hóa
thức ăn của tôm sú ở độ mặn khác nhau, làm cơ sở cho việc điều chỉnh lượng
thức ăn và nhịp cho ăn thích hợp, nhằm nâng cao hiệu quả trong nghề nuôi
tôm sú.
1.3. Nội dung nghiên cứu
· Nghiên cứu khả năng tiêu hóa thức ăn, tiêu hóa đạm và năng lượng của
tôm sú ở độ mặn khác nhau.
· Nghiên cứu thời gian tiêu hóa thức ăn của tôm sú ở độ mặn khác nhau.
1.4. Thời gian thực hiện đề tài
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7/2008- 12/2008. Các thí nghiệm
và phân tích mẫu được thực hiện tại trại thực nghiệm và phòng thí nghiệm
thuộc Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ.
9
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm sinh học
2.1.1 Đặc điểm hình thái - phân loại của tôm sú:
Tôm sú (Penaeus monodon) có vị trí phân loại như sau:
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ: Antennata
Lớp: Crustacea
Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Natantia
Họ chung: Penaeidea
10
2.1.2 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới, tôm sú phân bố khắp các thủy vực vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới, tập trung ở vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương, Đông và Đông
Nam Châu Phi, Pakistan, Nhật Bản, Bắc Úc, Trung Quốc. Đặc biệt tôm bắt
gặp nhiều nhất ở vùng Đông Nam Châu Á như: Đài Loan, Philippine,
Indonesia, Thái Lan, Malaysia (Motoh, 1981).
Ở Việt Nam, tôm sú phân bố ở Vịnh Bắc bộ, ven biển Miền Trung và
Nam bộ, vùng Tây Nam bộ: Sông Ông Đốc, Khánh Hội, Kim Qui, Hòn
Chông, Hà Tiên. (Nguyễn Văn Chung, 1995)
Giai đoạn hậu ấu trùng thì tôm sú sống ở nơi có độ mặn cao như vùng
ven biển ven bờ có giá thể. Các bãi biển đáy bùn hay đáy cát, có cỏ biển là nơi
sinh sống lý tưởng của các loài này. Khi sắp trưởng thành và trưởng thành tôm
có xu hướng di chuyển ra biển sâu, có khi đến 162m. Tôm trưởng thành di cư
ra biển khơi để sinh sản (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004).
Yêu cầu môi truờng sống
Theo Boyd (1982), các yếu tố lí, hoá, sinh của nước và đất bao gồm
nhiều yếu tố, trong đó có một số yếu tố quan trọng như sau:
- pH nước: Nước có độ pH dưới 4 hay trên 10 có thể gây chết tôm.
Khoảng thích hợp cho tôm là 7 – 9.
- Độ mặn: Khả năng chịu đựng và thích nghi độ mặn có khác nhau theo
loài. Thông thường các loài tôm có khả năng chịu đựng độ mặn thấp đến 5 –
10 ‰ hay thấp hơn. Độ mặn cao có thể gây chết tôm. Hầu hết các loài tôm có
thể tăng trưởng tốt ở độ mặn 25 – 30 ‰.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ tốt nhất cho tưng truởng của tôm dao động trong
khoảng 25 – 30
0
C. Tôm sú có thể chịu được nhiệt độ thấp hơn 28
11
cho tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nên trong khoảng giữa 3.5 mg/l đến bão
hòa. Oxy hòa tan quá bão hòa cũng gây nguy hiểm cho tôm.
- CO2: Hàm lượng CO2 dưới 20 mg/l thông thường chưa ảnh hưởng
đến tôm nếu Oxy đầy đủ.
- H2S: Nồng độ gây chết chưa được xác định
- Ammonia: Ammonia dưới dạng khí NH3 rất độc với hàm lượng trên 1
mg/l có thể gây chết tôm. Hàm lượng dưới 0.1 mg/l cũng gây bất lợi. Ở pH
bằng 9 và độ mặn 20 ppt, khoảng 25 % ammonia ở dạng khí. Vì thế hàm lượn
ammonia tổng số khoảng 0.4 mg/l cũng gây bất lợi cho tôm.
- Nitrite: Thông thường hàm lượng nitrite trong ao nuôi không cao đến
mức gây chết tôm. Tuy nhiêu, nồng độ cao 4 – 5 mg/l có thể ảnh hưởng bất lợi
cho tôm.
2.1.3 Tuổi thọ, sinh sản và vòng đời
Vòng đời của tôm sú được chia ra làm các giai đoạn: Trứng → ấu trùng
→ hậu ấu trùng → tiền trưởng → trưởng thành (Motoh, 1981)
Ở giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng, tôm sú sống trôi nổi ở vùng
khơi do các dòng chảy hải lưu và do thủy triều. Sau khi chuyển qua giai đoạn
ấu niên và tiền thưởng thành, chúng hoàn thiện dần các cơ quan chức năng để
thích nghi với đời sống ở đáy, lúc này gai chủy phát triển và hệ thống mang
phát triển hoàn chỉnh, sử dụng chân bò để đi lại và bắt mồi, chân bơi để bơi
lội, cơ quan sinh dục đực cái đã phân biệt rõ ràng và ngày càng hoàn thiện.
Suốt thời gian này tôm di cư vào những vùng cửa sông và thường cư trú ở
rừng ngập mặn, nơi có độ mặn dao động từ 5 – 20 ‰ để tìm kiếm thức ăn,
sinh trưởng và phát triển.
Trong suốt quá trình di cư tìm thức ăn theo hướng độ mặn giảm, tôm sú
không ngừng tích lũy vật chất để lột xác và lớn lên về chiều dài, khối lượng,
ngày càng hoàn thiện cơ quan sinh sản (buồng trứng, tinh trùng) để bảo đảm
chức năng duy trì nòi giống của loài khi đạt tới kích thước và khối lượng nhất
13
nghiền của bộ nghiền dạ dày, thức ăn sẽ được nghiền thành những phần tử nhỏ
trước khi đưa vào dạ dày môn vị. Van tâm môn vị chỉ cho phép những phần tử
đã được nghiền nhỏ đi từ dạ dày tâm vị sang dạ dày môn vị.
Phía sau dạ dày môn vị là ruột giữa mà các phần nở to ở mặt bên của nó
sẽ tạo thành tuyến ruột giữa và tuyến gan tụy.Tuyến gan tụy là một khối bao
gồm các ống tận cùng.
Ruột sau thường ngắn và mở ra ngoài hậu môn.
Ruột không có lông mịn nên sự di chuyển thức ăn trong ruột là do
những cử động nhu động và phản nhu động.
Sự tiêu hóa
Miệng xé thức ăn và nhồi chúng vào thực quản. Bộ nghiền dạ dày sẽ
nghiền nhỏ thức ăn. Dưới tác dụng của các cử động nhu động và phản nhu
động, thức ăn sẽ được đẩy tới ruột giữa, ruột sau. Trong quá trình này, thức ăn
sẽ được tiêu hóa bởi các men và dịch tiêu hóa, và cuối cùng được hấp thu.
Ruột trước và ruột sau được kitin hóa, có tác động như màng bán thấm có
chức năng hấp thu nước. Phần trước ruột giữa có những tế bào hấp thu sẽ hấp
thu những phần tử mịn nhất. Ngoài ra sự hấp thu còn xảy ra ở ống gan tụy.
Phần chất thải cuối cùng được thải ra ngoài qua hậu môn.
2.1.4.2 Tập tính bắt mồi
Tôm sú ăn tạp và ưa chuộng giáp xác, thực vật, giun nhiều tơ, nhuyễn
thể, cá và côn trùng. Thức ăn của tôm sú gồm giáp xác (cua nhỏ và tôm)
nhuyễn thể, cá, giun nhiều tơ, côn trùng, tảo, mùn bã, bùn…Điều này nói tôm
sú là động vật ăn mồi sống là những động vật đáy có kích thước tương đối lớn,
vật động chậm chạp hơn là ăn vật chết hay mùn bã. Tuy nhiên, tập tính ăn của
tôm sú thay đổi theo từng giai đoạn. Ở giai đoạn tôm bột và tôm giống, chúng
ăn nhiều các loại mảnh thực vật bao gồm lab – lab, vi tảo, chất vẩn, thực vật
lớn, giun, Copepoda, Moina, ấu trùng nhuyễn thể và ấu trùng giáp xác. Khi
các tiến trình trong cơ. Chất khoáng giúp xây dựng vỏ tôm. (Nguyễn Thanh
Phương và Trần Ngọc Hải (2004))
2.1.5. Sinh trưởng
Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên
mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên. Sự lột xác thường xảy
ra vào ban đêm. Sự lột xác đi đôi với việc tăng thể trọng, cũng có trường hợp
lột xác nhưng không tăng thể trọng. Khi quan sát tôm nuôi trong bể, hiện
tượng lột xác xảy ra như sau: Lớp biểu bì giữa khớp đầu ngực và phần bụng
nứt ra, các phần phụ của đầu ngực rút ra trước, theo sau là phần bụng và các
phần phụ phía sau, rút ra khỏi lớp vỏ cứng, với động tác uốn cong mình toàn
cơ thể. Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại sau 1-2 giờ với tôm nhỏ, 1-2 ngày đối với
tôm lớn. Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất nhạy cảm với môi
trường sống thay đổi đột ngột. Trong quá trình nuôi tôm, thông qua hiện tượng
này, có thể điều chỉnh môi trường nuôi kịp thời. Hormone hạn chế sự lột xác
lột xác (MIH, molt - inhibiting hormone) được tiết ra do các tế bào trong cơ
quan của cuống mắt, truyền theo sợi trục tuyến xoang, chúng tích luỹ lại và
chuyển vào trong máu, nhằm kiểm tra chặt chẽ sự lột xác. Các yếu tố bên
15
ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, điều này có ảnh hưởng tới tôm đang lột
xác (www.vietlinh.com.vn).
2.2 Sơ lược về ảnh hưởng của độ mặn lên tôm sú
Theo Motoh (1981) thì Tôm sú thích nghi trong giới hạn độ mặn rộng
từ 0,2 – 70 ‰. Tuy nhiên, thì ảnh hưởng của nồng độ muối lên sự tăng trưởng
của tôm vẫn chưa được hiểu rõ, song có lẽ trong quá trình điều hòa áp suất
thẩm thấu và trao đổi ion trong môi trường cần đến năng lượng, là ảnh hưởng
đến tăng trưởng của tôm.
Ảnh hưởng lên các hoạt động sống của tôm thường do sự kết hợp của
độ mặn và nhiệt độ. Mức độ ảnh hưởng của 2 yếu tố này có khác biệt theo loài
của máu tôm ở nghiệm thức 0‰ khác biệt rất có ý nghĩa so với các nghiệm
thức còn lại (p<0,01). Áp suất thẩm thấu ở nghiệm thức 1‰ không có sự khác
biệt so với nghiệm thức 3‰ nhưng khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức 6
và 15‰ (p<0,01). Áp suất thẩm thấu tăng dần từ môi trường có nồng độ muối
thấp đến môi trường có nồng độ muối cao (Đỗ Thị Thanh Hương và ctv, 2004)
2.3 Sơ lược phương pháp đánh giá khả năng tiêu hóa ở một số đối tượng
thủy sản
Ở cá bống tượng, khả năng tiêu hóa của cá bống tượng giống được
đánh giá với các loại mồi khác nhau. Hai mươi cá bống tượng giống (chiều dài
40-45mm, trọng lượng trung bình 0,87g) được bố trí ngẫu nhiên trong 12 bể
kính. Cá được cho ăn thỏa mãn trong vòng 2 giờ tại 2 thời điểm là 7h sáng và
17h chiều. Loại mồi dùng trong thí nghiệm là cá bột cá mè trắng và tép bò.
Sau 2h con mồi và cá bống tượng được tách riêng. Mỗi giờ tiếp đó bắt 3 con
ngẫu nhiên từ các bể để giải phẫu thức ăn trong dạ dày. Khối lượng cá và khối
lượng thức ăn trong dạ dày được xác định theo mỗi lần thu mẵu. Trên cơ sở đó
đánh giá lượng thức ăn còn lại trong dạ dày theo thời gian (Nguyễn Phú Hòa,
Yang Yi và Lê Thanh Hùng, Tạp chí khoa học 2008, Đại học Cần Thơ).
Ở cá Tra, nghiên cứu xác định thời gian tiêu hóa thức ăn của cá giống
có khối lượng trung bình khoảng 14-15g/con. Cá được bố trí vào 9 bể 500
L/bể, mật độ 50 con/bể, dưỡng cá cho tới khi cá ăn thật khỏe thì tiến hành thí
nghiệm. Cá được cho ăn no trước khi giải phẩu để xác định lượng thức ăn
trong dạ dày cá ở các thời điểm khác nhau. Sau khoảng 30 phút (từ lúc bắt đầu
cho ăn đến khi cá no hoàn toàn hay lúc cá không còn bắt mồi nữa) tiến hành
giải phẩu cá để thu lượng thức ăn trong dạ dày. Thu ngẫu nhiên 30
con/lần/giờ/bể để giải phẩu cho tới khi kiểm tra thấy trong dạ dày cá không
còn thức ăn thì ngưng. Khối lượng cá và lượng thức ăn thu ở mỗi lần sẽ được
cân. Sau đó lượng thức ăn trong dạ dày cá thì được sấy khô ở tủ sấy 105
0
C,
sau đó cân để tính khối lượng thức ăn trong dạ dày. Thức ăn trong dạ dày của
3.1.3 Các vật liệu chính dùng cho thí nghiệm:
- 4 bể composite tròn 1 m
3
(thí nghiệm 1)
- 12 bể composite hình chữ nhật thể tích 0,5 m
3
( thí nghiệm 2)
- Các bể phụ trợ khác: trữ, xử lý nước, pha nước,
- Máy sục khí và các thiết bị sục khí.
- Các dụng cụ và thiết bị khác: xô nhựa, vợt, giá thể, máy bơm, máy lọc,
- Dụng cụ đo: Nhiệt độ, độ mặn, pH, cân điện.
- Các thiết bị và hóa chất dùng trong phân tích mẫu, phân tích đạm và năng
lượng
3.2. Các thí nghiệm:
3.2.1. Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của độ mặn lên thời gian tiêu hóa thức ăn
của tôm sú (Penaeus monodon)
18
* Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức:
(i) Nghiệm thức 1: Độ mặn thấp nhất mà tôm còn khả năng điều
hòa áp suất thẩm thấu để duy trì sự sống (3‰).
(ii) Nghiệm thức 2: Độ mặn cao nhất mà áp suất thẩm thấu của tôm
lớn hơn so với áp suất thẩm thấu của môi trường (15‰).
(iii) Nghiệm thức 3: Độ mặn mà áp suất thẩm thấu của tôm tương
đương với áp suất thẩm thấu của môi trường (25‰).
được theo dõi và ghi nhận.
19
3.2.2. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của độ mặn lên độ tiêu hóa thức ăn, tiêu
hóa đạm và năng lượng của tôm sú (Penaeus monodon)
* Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 4 nghiệm
thức tương tự như thí nghiệm 1với 3 lần lặp lại
Bể thí nghiệm là bể composite thể tích 500 L, chiều cao cột nước duy
trì ở mức 60 cm. Các bể được bố trí giá thể bằng dây nylon để hạn chế tôm ăn
nhau và bố trí đá bọt để sục khí liên tục trong suốt thời gian thí nghiệm
Tôm từ bể nuôi dưỡng sẽ được tiến hành thuần hóa để đạt các độ mặn
thí nghiệm, sau đó chọn lựa và bố trí vào các bể thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn
với các độ mặn thích hợp cho từng nghiệm thức. Mật độ bố trí là 40 con/bể.
* Chăm sóc
Khi tôm được bố trí vào bể thí nghiệm sẽ được chăm sóc giống như quá
trình thuần dưỡng trong 2 tuần để tôm ổn định, sau đó tiến hành cho tôm ăn
bằng thức ăn viên có trộn chất đánh dấu (Cr
2
O
3
), mỗi ngày cho ăn 2 lần (6h30,
12h). Tôm được cho ăn theo nhu cầu thông qua việc ghi nhận và điều chỉnh
lượng thức ăn ở mỗi lần cho ăn. Sau khi tập cho tôm ăn bằng thức ăn có chất
đánh dấu 7 ngày, đến ngày thứ 8 thì tiến hành thu phân để xác định độ tiêu hóa
thức ăn, tiêu hóa đạm và năng lượng.
* Thu phân
Cách thu phân:
Xi phong sạch thức ăn và phân sau 1 giờ cho ăn. Mỗi lần thu phân,
đó cho ăn
Siphon
thức ăn
thừa và
phân bỏ
Thu phân
lần 3 và
bảo quản
Thu phân
lần 4, sau
đó cho ăn
Trong thời gian thí nghiệm, các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH
được theo dõi và ghi nhận.
* Phương pháp xác định độ tiêu hóa thức ăn, độ tiêu hóa đạm và
năng lượng
- Phương pháp phân tích mẫu:
Mẫu thức ăn có trộn chất đánh dấu dùng trong thí nghiệm và mẫu phân
được phân tích các chỉ tiêu: đạm, năng lượng, Cr
2
O
3
.
+ Đạm: phân tích bằng phương pháp Kjeldahl
+ Năng lượng: xác định bằng máy đo năng lượng (Parr)
+ Cr
2
O
3
: Theo phương pháp của Furukawa và Tsukahara (1966)
- Phương pháp tính toán: hàm lượng chất đánh dấu Cr
thức. Phần mềm sử dụng là Excel và SPSS
C.
0
3
6
9
12
15
18
21
24
27
30
Tuần 1 Tuần 2
Thời gian
Nhiệt độ (oC)
35‰
25‰
15‰
3‰
Hình 4.1: Sự biến động nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm
b. pH
Bên cạnh các yếu tố oxy hòa tan và nhiệt độ thì pH cũng là chỉ tiêu
quan trọng ảnh hưởng lên đời sống của tôm cá. Theo Boyd (1982), khi pH quá
cao hay quá thấp đều có tác động lớn đến khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu
23
của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối- nước giữa cơ thể của
8.0
9.0
Tuần 1 Tuần 2
Thời gian
Giá trị pH
35‰
25‰
15‰
3‰
`
Hình 4.2: Sự biến động pH trong thời gian thí nghiệm
4.1.2. Ảnh hưởng của độ mặn lên thời gian sử dụng và tiêu hóa thức ăn
của tôm sú (Penaeus monodon)
Ở độ mặn 3‰, sau khi cho ăn 20 phút thì khối lượng thức ăn trong dạ
dày tôm đạt giá trị lớn nhất (0,028±0,006
g). Thức ăn được tiêu hóa nhanh
chóng trong khoảng thời gian từ 40 phút đến 1 giờ. Tại thời điểm 1 giờ khối
lượng thức ăn trong dạ dày tôm đã giảm mạnh (còn 0,015±0,005 g) và đã khác
biệt có ý nghĩa (p<0,05) so với khối lượng thức ăn trong dạ dày ở thời điểm
40 phút. Thời gian tiếp theo thức ăn tiếp tục tiêu hóa nhanh. Có sự khác biệt
có ý nghĩa khối lượng thức ăn trong dạ dày tôm ở các thời điểm thu mẫu sau
khi cho ăn 1, 2 và 3 giờ (p<0,05). Sau 4 giờ cho ăn thì quan sát thấy dạ dày
tôm đã hoàn toàn hết thức ăn (Bảng 1).
Giống như ở độ mặn 3‰, tại độ mặn 15‰, khối lượng thức ăn trong dạ
dày tôm cũng đạt giá trị lớn nhất tại thời điểm thu mẫu sau 20 phút cho ăn
24
15‰ 0,023±0,010
a
0,019±0,009
ab
0,016±0,005
b
0,014±0,006
b
0,007±0,006
c
0,005±0,002
c
25‰ 0,012±0,004
b
0,016±0,006
b
0,021±0,008
a
0,017±0,008
ab
g. Tuy
nhiên, sự tiêu hóa của tôm ở độ mặn 35‰ xảy ra nhanh ngay sau đó. Khối
lượng thức ăn trong dạ dày tôm đã có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các lần thu
mẫu sau 1, 2, 3 và 4 giờ sau khi cho ăn (p<0,05). Trong khi đó ở độ mặn 25‰
khối lượng thức ăn trong dạ dày tôm được tiêu hóa dần dần. Không có sự khác
biệt có ý nghĩa (p>0,05) về khối lượng thức ăn trong dạ dày tôm ở các lần thu
mẫu 1 giờ, 2 giờ và 3 giờ sau khi cho ăn. Sau 5 giờ cho ăn thì quan sát thấy dạ
dày của tôm ở hai độ mặn này đều hết thức ăn hoàn toàn.
Như vậy, kết quả thí nghiệm cho thấy thời gian sử dụng và tiêu hóa
thức ăn của tôm sú (10±2 g) có chịu ảnh hưởng bởi độ mặn. Ở độ mặn 3‰ và
15‰ thời gian sử dụng thức ăn của tôm ngắn hơn ở độ mặn 25‰ và 35‰.
Tuy nhiên, tổng thời gian sử dụng và tiêu hóa thức ăn của tôm ở các độ mặn
15, 25 và 35‰ là tương đương nhau (4-5 giờ sau khi cho ăn) và tổng thời gian
sử dụng và tiêu hóa thức ăn của tôm ở các độ mặn 3‰ là ngắn nhất (3-4 giờ
sau khi cho ăn).
Quá trình lấy thức ăn và tiêu hóa thức ăn nhanh của tôm ở độ mặn 3‰
có liên quan đến nhu cầu năng lượng cung cấp cho cơ thể khi tôm sống trong
môi trường có độ mặn này. Một vài nghiên cứu trước đây trên các loài tôm
khác cũng cho kết quả tương tự. VanWormhoudt (1973) nghiên cứu trên lòai
25
tôm Palaemon serratus, Lee et al. (1984) nghiên cứu trên loài tôm Penaeus
vannamei và Lovett & Felder (1990) nghiên cứu trên lòai Penaeus setiferus
có nhận định chung rằng, tìm hiểu về sinh lý tiêu hóa và nhu cầu dinh dưỡng
của các loài tôm có thể thông qua việc nghiên cứu trên các men tiêu hóa của
chúng. Li et al. (2008) nghiên cứu trên tôm Litopenaeus vannamei
(0,016±0,005 g) thấy rằng, hoạt tính của enzym tiêu hóa của tôm thay đổi theo
độ mặn. Trypsin hoạt động tại độ mặn 3‰ cao hơn có ý nghĩa so với độ mặn
17‰ và 32‰. Mặc dù sự khác biệt không có ý nghĩa ở các men tiêu hóa khác,
năng lấy thức ăn của tôm không bị ảnh hưởng khi độ mặn thay đổi. Tuy nhiên,
Parado-Estepa et al. (1987) đã tìm thấy sự dao động độ mặn có ảnh hưởng đến
khả năng sử dụng thức ăn của tôm Penaeus indicus. Thực hiện thí nghiệm ở
các độ mặn 5, 10, 15, 20, 25, 30 và 35‰ trên tôm sú (Penaeus monodon)
giống (1,2±0,05 g), Ye (2009) thấy rằng tỷ lệ thức ăn của tôm ở 5‰ cao hơn
có ý nghĩa (p<0,05) so với các độ mặn còn lại. Nghiên cứu của
Venkataramaiah et al. (1972) và Staples & Heales (1991) cho biết, sự tiêu thụ
thức ăn, hiệu quả chuyển hóa thức ăn, sự phát triển và tỷ lệ sống của các loài
tôm thuộc họ Penaeid nuôi chịu ảnh hưởng bởi độ mặn và/hoặc nhiệt độ. Theo
Venkataramaiah et al. (1972) thì độ mặn thấp thích hợp cho khả năng lấy thức
ăn của ấu trùng tôm penaeus aztecus. Sự tiêu thụ thức ăn của tôm nuôi tại các
độ mặn cao thì thấp hơn nhiều so với tôm nuôi tại độ mặn thấp. Kết quả của
việc tiêu thụ thức ăn cao ở các độ mặn thấp đã giúp cho sự phát triển và tỷ lệ
sống cao khi ấu trùng sống trong môi trường cửa sông tự nhiên.