1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN TH Ơ
KHOA THỦY SẢN
LÊ VĂN LĨNH
ẢNH HƯỞNG CÁC ĐỘ MẶN KHÁC NHAU
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ K ÈO
(Pseudapocryptes lanceolatus , Bloch 1801)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
2
KHOA THỦY SẢN
LÊ VĂN LĨNH
ẢNH HƯỞNG CÁC ĐỘ MẶN KHÁC NHAU
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ K ÈO
(Pseudapocryptes lanceolatus , Bloch 1801)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
2009
3
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Ban chủ nhiệm
khoa thủy sản trường Đại Học Cần Th ơ đã tạo điều kiện cho tôi đ ược học tập và
nghiên cứu suốt khóa học.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Ts. Đỗ Thị Thanh Hương đã tận tình
hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành lu ận văn này.
Tôi xin chân thành c ảm ơn thầy Ts. Trần Ngọc Hải đ ã giúp đỡ tôi trong thời gian
thực hiện và hoàn thành đề tài.
Tôi xin chân thành c ảm ơn thầy cố vấn học tập lớp nuôi trồng thủy sản khó a 31 là
thức 30‰ nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) so với các nghiệm thức 5‰,
15‰ và 20‰. Hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất là nghiệm thức 10‰, kế đến là
nghiệm thức 15‰ và cao nhất là nghiệm thức 30‰, vì vậy nên nuôi thương phẩm cá
kèo ở độ mặn từ 10‰ – 15‰.
5
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Biến động nhiệt độ n ước trong thời gian thí nghiệm 14
Bảng 2: Biến động pH trong thời gian thí nghiệm 15
Bảng 3: Chiều dài trung bình cá qua 120 ngày nuôi (cm) 19
Bảng 4: Khối lượng trung bình cá qua 120 ngày nuôi (gam) 21
Bảng 5: Tăng trưởng trung bình tương đối theo chiều dài (%/ngày) 23
Bảng 6: Tăng trưởng trung bình tương đối theo khối lượng (%/ngày) 25
Bảng 7: Tỉ lệ sống trung bình qua các tháng trong th ời gian thí nghiệm 31
Bảng 8: Hệ số chuyển hóa thức ăn 32
6
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 : Hệ thống bể bố trí thí nghiệm 11
Hình 2: Biến động NO
2
-
trong thời gian thí nghiệm 16
Hình 3: Biến động NO
3
-
trong thời gian thí nghiệm 17
Hình 4: Biến động NH
4
-
trong thời gian thí nghiệm 18
Hình 5: Tăng trưởng tuyệt đối trung bình theo chiều dài (cm/ngày) 24
4. NO
3
-
24
5. TAN 25
II. Ảnh hưởng các độ mặn khác nhau l ên sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá kèo 26
1. Sinh trưởng 26
2. Tương quan giữa chiều dài và khối lượng 36
3. Tỷ lệ sống 38
4. Hệ số chuyển hóa thức ăn 39
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 40
I. Kết luận 40
II. Đề xuất 40
Phần 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
8
Phần 1. GIỚI THIỆU
Thuỷ sản Việt Nam trong nhữ ng năm gần đây đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
của đất nước, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản luôn đứng h àng đầu trong các mặt h àng
xuất khẩu của Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc l àm tăng GDP của cả
nước. Cùng với xu thế chung đó, một đại bộ phận n gười dân đã chuyển dần từ việc
trồng các cây nông nghiệp truyền thống sang nuôi trồng thuỷ sản, với mục đích nâng
cao thu nhập của gia đình. Bên cạnh tôm sú thì một số loài cá có giá trị kinh tế cao
như: cá mú, cá ch ình, cá chẽm, cá măng cũng đang được quan tâm nhằm đa dạng
hóa loài nuôi. Nuôi cá biển và cá nước lợ là một hướng mở mới cho ngành thuỷ sản,
đã có bước khởi động ngoạn mục với cá c loài cá giò, cá mú, cá tráp, … với các hình
thức nuôi lồng, bè. Bên cạnh những loài cá có giá trị kinh tế cao được nhiều người
ưu chuộng nói trên thì cá kèo (Pseudapocryptes lanceolatus , Bloch 1801) cũng là
đối tượng được nhiều người quan tâm. Trong những năm gần đây nuôi cá k èo phát
triển rộng khắp ở một số tỉnh ven biển Đồng Bằng Sông Cửu L ong (ĐBSCL) như:
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh … nhưng hiệu quả nhất là nuôi xen canh với
nhỏ, hình chóp, mõm tù h ướng xuống, miệng trước hẹp. Rạch miệng ngang kéo dài
đến đường thẳng đứng kẻ qua cạnh sau mắt. Răng h àm trên một hàng, đỉnh tà, răng
trong nhỏ mịn. Răng hàm dưới một hàng mọc xiên thưa, đỉnh tà và có một đôi răng
chó ở sau mấu tiếp hợp của hai x ương răng. Không có râu, dư ới mõm có hai mép
râu nhỏ phủ lên môi trên. Mắt tròn và nhỏ nằm phía lưng của đầu, gần chót m õm
hơn gần nắp mang. Khoảng cách giữa hai mắt hẹp, nhỏ h ơn hoặc tương đương với
10
một phần hai đường kính của mắt. Lỗ mang hẹp, m àng mang phát triển phần dưới
dính với eo mang.
Thân hình trụ, thon dài, hơi hẹp bên, phần sau xương chẩm có hai đường sóng nổi
có phủ vẩy. Cuống đuôi ngắn, d ài cuống đuôi nhỏ hơn cao cuống đuôi.
Theo Nguyễn Nhật Thi (2000), thân được phủ lên một lớp vẫy tròn, vẫy trên hàng
dọc thân dài hơn 200 cái và g ần toàn thân được phủ vẩy, và cũng theo tác giả này cá
kèo vẩy nhỏ còn có tên khác là cá bóng lân, chi ều dài bằng 7 lần chiều cao v à bằng
5,5 lần chiều dài đầu. Bụng vàng nhạt, vây lưng, vây ngực và vây đuôi màu xanh
nhạt, còn vây bụng và vây hậu môn màu vàng nhat.
Hai vi lưng rời nhau, khoảng cách giữa hai vi l ưng này lớn hơn chiều dài của góc vi
lưng thứ nhất. Khởi điểm vi hậu môn sau khởi điểm vi l ưng thứ hai nhưng kết thúc
ngang nhau. Hai vi b ụng dính nhau tạo thành giác bám dạng hình phễu, miệng phễu
bầu dục, vi đuôi dài nhọn.
Cá có màu xám ửng vàng, nửa trên của thân có khoảng 7-8 sọc đen hương xéo về
phía trước, các sọc này rõ về phía đuôi, bụng có m àu vàng nhạt. Các vi ngực, vi
bụng và vi hậu môn có màu vàng đậm, vi lưng và vi đuôi có màu vàng xám và c ó
nhiều hàng chấm đen vát ngang các tia vi đuôi.
2. Đăc điểm phân bố
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá kèo v ẩy nhỏ
(Pseudapocrytes lanceolatus, Bloch 1801) sống chủ yếu ở vùng nước lợ, mặn nhưng
cũng có thể sống ở vùng nước ngọt. Chúng làm hang ở các bãi bùn và có thể trườn
lên trên các bãi nà y. Cá kèo phân bố rộng từ Ấn Độ, Thái Lan, đến M ã Lai, quần
đảo Ấn Độ - Úc Châu, ĐBSCL Vi ệt Nam và Trung Quốc. Theo Nguyễn Nhật Thi
lanceolatus, Bloch 1801) sống trong môi trường rất giàu tảo khuê và mùn bã hữu cơ,
nền đáy bùn hay bùn cát. Khi triều xuống cá kèo có thể tìm thức ăn là mùn bã hữu
cơ trên nền đáy (Trần Đắc Đinh và ctv 2002).
Cá kèo là loài ăn tạp nên ngoài thức ăn tự nhiên có trong ao như: động, thực vât phù
du, sinh vật sống bám, bùn bã hữu cơ … cá còn ăn được thức ăn tự chế v à thức ăn
công nghiêp.
4. Đặc điểm sinh trưởng
Theo Trần Đắc Định và ctv (2002), khi khảo sát ở vùng ven biển Bạc Liêu thì mối
tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá kèo được xác định dựa vào số liệu của
508 mẫu cá có chiều dài tổng từ 10,1 – 20,3 cm. Khi phân tích theo các tham s ố tăng
trưởng thì chiều dài cực đại của cá có thể đạt 22 ,1 cm, với tốc độ tăng trưởng
0,81%/năm, cá có kích c ở nhỏ sẽ tăng trưởng nhanh hơn cá lớn và khi cá đạt chiều
dài cực đại thì tốc độ tăng trưởng của cá sẽ chậm lại (theo Võ Thành Toàn, 2005).
5. Đặc điểm sinh sản
Theo Trần Đắc Định và ctv (2002) thì kích thước tuyến sinh dục của cá k èo rất nhỏ
và chỉ quan sát được đến giai đoạn III trong 7 giai đoạn phát triển đ ược đề nghị bởi
Holden và Raitt (1974). Tuy ến sinh dục của cá đạt đ ến giai đoạn cao nhất (giai đoạn
III) bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 02 năm sau, tuy nhi ên các giai đoạn thành thục
tiếp theo vẫn chưa quan sát được. Qua theo dõi từ tháng 5 đến tháng 7 cho thấy lại
xuất hiện một chu kỳ th ành thục mới chỉ phát hiện đ ược đến giai đoạn II (52,38%).
12
Từ tháng 3 và tháng 4 ít thấy cá kèo xuất hiện nên không thể quan sát được giai
đoạn phát triển tuyến sinh dục v ào hai tháng này.
Chỉ số thành thục GSI (Gonado Somatic Index) của lo ài (Pseudapocryptes
lanceolatus, Bloch (1801) đạt cao nhất từ tháng 6 đến tháng 8 v à từ tháng 10 đến
tháng 01 năm sau. Tuy nhiên s ự biến đổi chỉ số thành thục là không lớn vì trong
lượng tuyến sinh dục của cá t ương đối nhỏ so với khối lượng cơ thể. Theo Trần
Trung Thuận (2005), chỉ số thành thục cả cá kèo khi khảo sát tại Bạc Liêu là tương
đối nhỏ (0,01 – 0,336g) so với khối lượng cơ thể (7,45 – 21,45g) và ở Vĩnh Châu –
Sóc Trăng chỉ số thành thục dao động trong khoảng 0 ,002 – 0,3578g. Từ tháng 3
Thái Nguyên (2005), cá kèo có ngư ỡng độ mặn 0 - 95‰, khả năng chịu đựng LC
50
-
96 của nghiệm thức 10‰ và 20‰ là cao nh ất và có tỉ lệ sống trung bình 80% và
73%, nghiệm thức 30‰ có tỉ lệ sống 67‰, còn nghiệm thức 0‰ và 40‰ có ti lệ
sống lần lượt là 53% và 40%.
Theo Nguyễn Tấn Nhơn (2008), khi nuôi cá kèo thương ph ẩm ở trên bể ở các mật
độ khác nhau từ 50 – 150 con/m2 ở mức độ mặn là 10‰ với nguồn giống ban đầu từ
4,09cm và 0,56g thì sau 30 ngày nuôi chi ều dài và khối lượng trung bình dao động
từ 8,56 - 9,70cm và 4,12 – 5,24g. Sau 60 ngày nuôi chi ều dài và khối lượng trung
bình dao động từ 13,01 - 13,83cm và 11,35 – 13,38g. Sau 90 ngày nuôi chi ều dài và
khối lượng trung bình dao động từ 16,87 - 17,78cm và 19,34 – 20,66g. Về tốc độ
tăng trưởng thì sau 15 ngày nuôi t ốc độ tăng trưởng rất nhanh từ 7,32 – 9,55%/ngày
theo khối lượng và 2,37 – 3,49%/ngày theo chi ều dài, so với giai đoạn từ 75 – 90
ngày thì tốc độ tăng trưởng giảm đi nhiều từ 0,41 – 0,49 %/ngày về chiều dài và
0,48 – 0,49%/ngày về khối lượng.
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Quốc Thoại (1999), khi nghiên cứu các độ mặn
0‰, 10‰ và 20‰ từ cá hương lên cá giống của cá chẽm (Lates calcarifer) thì tốc
độ tăng trưởng dao động từ 0,0157 – 0,0179g/ngày và cao nhất là nghiệm thức 0‰.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn khác nhau đến tỷ lệ sống Cá Ðù đỏ
(Sciaenops ocellatus) trong 20 ngày ương cho th ấy: ở độ mặn từ 12 -14‰ tỷ lê sống
đạt 14%; Nghiệm thức độ mặn từ 15-17‰ tỷ lệ sống đạt 13%; Nghiệm thức độ mặn
từ 18-19‰ tỷ lệ sống đạt 15%; Nghiệm thức độ mặn từ 20-22‰ tỷ lệ sống đạt 12%.
(, 16/04/2008).
Cotton Charles et al (1999), nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến tốc độ tăng
trưởng của cá vược đen (Centropristis striata) sống ở biển có khối lượng ban đầu
9,2g, được bố trí theo các nghiệm thức có độ mặn lần l ượt là 10‰, 20‰ và 30‰,
với thời gian thí nghiệm là 3 tháng trong hệ thống tuần hoàn. Kết quả thí nghiệm
cho thấy, sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá ở hai nghiệm thức độ
mặn 20‰ và 30‰ khác biệt không có ý nghĩa thống k ê (p>0,05). Tuy nhiên tốc độ
Theo Nguyễn Thanh Thoại (2008), Ảnh hưởng của độ mặn khác nhau (0 ‰
,3‰,6‰, 9‰,12‰) lên tăng trưởng của cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus )
giai đoạn giống sau 45 ng ày nuôi thì tăng trưởng tuyệt đối của nghiệm thức 12‰ l à
cao nhất với tốc độ tăng trưởng trung bình là 0,35 g/ngày và nh ỏ nhất là 9‰ với tốc
độ tăng trưởng trung bình 0,15 g/ngày và khác bi ệt có ý nghĩa thống kê so với các
nghiệm thức còn lại (p<0,05), Tuy nhiên, tăng trư ởng tuyệt đối của nghiệm thức 0‰
và 3‰ khác biệt không có ý nghĩa (p<0,05). Sau 75 ngày thì tăng trưởng tuyệt đối
của nghiệm thức 12‰ vẫn cao nhất với tốc độ tăng trưởng 0,28 g/ngày nhưng nhỏ
nhất là nghiệm thức 6‰ với tốc độ tăng trưởng 0,20 g/ngày và khác bi ệt có ý nghĩa
thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức c òn lại.
III. Tình hình nuôi cá kèo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Cá kèo là đối tượng rất quen thuộc với ng ười dân Đồng Bằng Sông Cửu Long, nghề
nuôi cá kèo xuất hiện từ rất lâu nh ưng chủ yếu là nuôi quảng canh trong rừng ngập
mặn ven biển một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long. Do nhu cầu thực phẩm ng ày
càng tăng lên về chất lượng cũng như đa dạng hóa về nguồn thực phẩm cho nội địa
15
và con tôm đang trong t ình trạng mất giá thì những năm gần đây cá k èo được xem là
đối tượng nuôi người dân đồng bằng h ướng tới nhưng vẫn còn nuôi theo kiểu tự phát
hoặc xen canh với tôm sú. Theo thống k ê của ngành nông nghiệp hai tỉnh có diện
tích nuôi cá kèo lớn nhất khu vực ĐBSCL l à Sóc Trăng và Bạc Liêu, hiện có khoảng
1,500ha mặt nước từ đất nuôi tôm và sản xuất muối được “cá kèo hóa”.
Hiện tại có nhiều mô hình nuôi cá kèo khác nhau nh ư xen canh tôm – cá kèo, luân
canh tôm – cá kèo, cá kèo – rừng, thâm canh hoặc bán thâm canh t ùy theo mật độ và
nuôi cá kèo trên ruộng muối. Theo Lê Kim Yến (2005), khi khảo sát nghề nuôi cá
kèo thương phẩm ở Bạc Liêu thì chủ yếu là nuôi kết hợp: cá – tôm – cua – rừng, bán
thâm canh, cá – tôm – cua, cá muối luân canh và mô hình luân canh cá – muối
chiếm tỉ lệ cao nhất (44 ,4%). Nếu nuôi thả cá với mật độ 3 -10con/m
2
thì không cần
cho thêm thức ăn còn nếu nuôi ở mật độ cao h ơn thì phải bổ sung thêm thức ăn cho
đến nay đã tăng lên gần 5000 ha rãi đều khắp các tỉnh ven biển ĐBSCL. Ng ày nay
nghề nuôi cá kèo đã thật sự phát triển khi chuyển dần từ h ình thức nuôi quảng canh
cải tiến với năng suất 500 -700 kg/ha, thu nhập từ 20-25 triệu đồng/ha lên nuôi thâm
canh với năng suất đạt 4 -5 tấn/ha, thu nhập từ 80 -100 triệu đồng/ha.
(, 16/4/2008).
Ở Trà Vinh nuôi cá kèo sau v ụ tôm cho lãi cao, mô hình có tổng diện tích 1ha, thả
nuôi 600000 con cá kèo gi ống (kích cỡ từ 4000 -5000 con/kg). Sau th ời gian nuôi 6
tháng, sử dụng 100% thức ăn công nghiệp loại 26% đạm, tỷ lệ sống đạt 50%, sản
lượng thu hoạch đạt 7200 kg. Với giá bán b ình quân 45000 đồng/kg, sau khi trừ các
khoản chi phí (thức ăn, con giống, cải tạo ao), thu l ãi 204,2 triệu đồng. Đây là mô
hình nuôi cá kèo thu được lợi nhuận cao nhất từ tr ước đến nay và được thực hiện
trong ao sau vụ nuôi tôm sú ( , cập nhật 12/5/2008).
Theo Trần Thị Thu Nga, thử nghiệm nuôi thương phẩm cá kèo (Pseudapocryptes
lanceolatus, Bloch 1801) ở các huyện Ba Tri, Bình Đại, Thành Phú tỉnh Bến Tre”
năm 2004 – 2005 với các mật độ nuôi khác nhau 10 con /m
2
và 20 con/m
2
, kết quả
cho thấy ở mật độ 20 con/m
2
thì đạt hiệu quả cao hơn với tỉ lệ sống cao hơn từ
19,5% - 29,8%, năng suất từ 600 – 1420kg/ha/vụ. (trích bởi Nguyễn Tấn Nhơn,
2008).
Về hiệu quả kinh tế từ mô h ình nuôi cá kèo theo m ột số chủ hộ ở Bạc Li êu, Sóc
Trăng cho rằng: do mới chuyển đổi từ mô h ình nuôi tôm sang nuôi cá kèo nên ng ười
dân chưa có kinh nghi ệm nhiều về phòng bệnh và chưa có biện pháp chửa trị hiệu
quả nên tỉ lệ sống chưa cao nên ảnh hưởng đến năng suất rất lớn. Năng suất trung
bình 6048 kg/ha, tổng chi 113377000đ/ha, lợi nhuận trung b ình 191963000đ/ha.
(Lâm Hoàng Khải, 2007).
/
oo
- Nghiệm thức 2 :5
o
/
oo
- Nghiệm thức 3 :10
o
/
oo
- Nghiệm thức 4 :15
o
/
oo
- Nghiệm thức 5 : 20
o
/
oo
- Nghiệm thức 6 : 30
o
/
oo
Nước: Nước ót có độ mặn khỏang 80 – 120‰ pha với nước ngọt cho đến khi độ
mặn đạt tương ứng với các nghiệm thức (C
1
V
1
= C
2
V
+ Cách phân tích: Cân kh ối lượng và đo chiều dài mẫu mỗi lần thu, sau đó thả trở lại
bể nuôi. Xác định lượng cá còn lại trong bể để tính tỷ lệ sống .
Mỗi ngày theo dõi khả năng bắt mồi và biểu hiện của cá.
Các chỉ tiêu thu thập và công thức tính toán :
Tăng trưởng tuyệt đối trên ngày theo khối lượng (Daily weight Gain – DWG)
(g/ngày):
W
t
– W
0
DWG = ———————
T
Trong đó: W
0
: Khối lượng cá ban đầu bố trí thí nghiệm
W
t
: Khối lượng cá ở thời điểm t
T : Thời gian nuôi
Tăng trưởng tuyệt đối trên ngày theo chiều dài (Daily length Gain – DLG)
(cm/ngày):
L
t
– L
0
DLG = ———————
T
Trong đó: L
0:
Chiều dài cá ban đầu bố trí thí nghiệm
T : Thời gian nuôi
Xác định tỷ lệ sống :
N
t
Tỷ lệ sống(%) ═ ——————x 100%
N
0
Trong đó: N
0
: Số lượng cá ban đầu bố trí thí nghiệm
N
t
: Số lượng cá ở thời điểm t
Hệ số chuyển hoá thức ăn (FCR) = L ượng thức ăn cá ăn vào/W
t
– W
0
Trong đó: W
0
: Khối lượng cá ban đầu bố trí thí nghiệm
W
t
: Khối lượng cá ở thời điểm t
Tương quan giữa chiều dài và khối lượng :
W = aL
b
Trong đó: W: Khối lượng
L: Chiều dài
a: Hệ số thực nghiệm
b: Hệ số mũ phương trình
Tháng 1
Chiều
27,0±0,47
26,9±0,56
26,9±0,63
26,8±0,58
26,8±0,60
26,9±0,56
Sáng
0,0
26,7±0,67
26,7±0,65
26,7±0,66
26,6±0,67
26,7±0,66
Tháng 2
Chiều
0,0
27,5±0,72
27,6±0,73
27,5±0,68
27,5±0,72
27,6±0,73
Sáng
0,0
25,6±0,86
25,7±0,80
25,7±0,74
25,7±0,77
25,7±0,76
o
C và nhiệt độ trong thời gian t hí nghiệm nằm trong khoảng thích
hợp cho cá, nhưng trong th ời gian thí nghiệm có một v ài ngày trời lạnh làm nhiệt độ
nước xuống thấp nhỏ h ơn 24
O
C nên cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá. Theo
Lê Văn Cát và ctv (2006), thì nhiệt độ là yếu tố quan trọng nh ất tới nuôi trồng thủy
22
sản, nó ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hầu hết các thông số khác đặc tr ưng
cho chất lượng nước như: tốc độ và cân bằng phản ứng hóa học , khả năng bốc hơi
và hòa tan các loại khí, ngoài ra nhiệt độ còn ảnh hưởng đến sinh lý, sinh hóa của
động vật và thực vật thủy sinh, cũng theo tác giả này thì các loài thủy sản vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới sẽ phát triển chậm khi nhiệt độ d ưới 25
O
C và có thể bị chết khi
nhiệt độ dưới 10
O
C hoặc 15
O
C. Sự chênh lệch nhiệt độ trong ng ày không quá 1
O
C,
chênh lệch này phù hợp với đề nghị của Nguyễn Đ ình Trung là: tôm, cá có thể chịu
đựng sự thay đổi nhiệt độ l à 0,2
O
C/phút.
2. pH
Yếu tố pH cũng là yếu tố quan trọng đến thủy sinh vật, pH có thể chỉ thị môi tr ường
tốt hay xấu và mỗi loài cũng có khả năng thích ứng được các khoảng pH khác nhau.
pH cao hay thấp đều ảnh hưởng tới thủy sinh vật , pH ảnh hưởng đến cân bằng các
7,8±0,22
7,8±0,20
7,8±0,14
Sáng
0,0
7,9±0,14
7,9±0,13
7,9±0,19
7,9±0,24
7,8±0,25
Tháng 2
Chiều
0,0
8,0±0,14
8,0±0,13
7,9±0,18
7,9±0,25
7,8±0,24
Sáng
0,0
8,0±0,18
7,9±0,15
7,9±0,14
7,8±0,14
7,8±0,15
Tháng 3
Chiều
0,0
8,0±0,18
7,9±0,15
2
-
chủ yếu là do quá trình phân hủy sinh ra từ
ammonia thành nitrat, nó c ũng là tác nhân gây độc cho động vật thủy sản. NO
2
-
cao
có thể xâm nhập vào cơ thể cá qua mang. Theo Trương Quốc Phú (2006) giá trị
LC
50
-96 giờ đối với loài cá nước ngọt từ 0,66 – 2,00mg/l, nhưng theo Crawford và
Allen thì tính độc của nitrite giảm khi độ mặn tăng.
0.00
0.10
0.20
0.30
0.40
0.50
0.60
10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0 90.0 100. 110. 120.
Thời điểm thu mẫu (ngày)
Hàm lượng NO2 (ppm)
Độ mặn 0%o
Độ măn 5%o
Độ mặn 10%o
Độ mặn 15%o
Độ mặn 20%o
Độ mặn 30%o
Hình 2: Biến động NO
2
4. NO
3
-
NO
3
-
là sản phẩm cuối cùng của quá trình oxy hóa nên trong môi tr ường nước NO
3
-
là hiện diện phổ biến nhất, độc tính của NO
3
-
đối với động vật thủy sản l à rất thấp,
theo Trương Quốc Phú, hàm lượng NO
3
-
thích hợp trong ao nuôi cá là từ 0,1 –
10mg/l.
0.00
0.50
1.00
1.50
2.00
2.50
10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0 90.0 100. 110. 120.
Thời điểm thu mẫu (ngày)
Hàm lượng NO3 (ppm)
Độ mặn 0%o Độ mặn 5%o Độ mặn 10%o
Độ mặn 15%o Độ mặn 20%o Độ mặn 30%o
Hình 3: Biến động NO
+
và được gọi là tổng đạm amôn, trong
đó NH
3
là nhân tố độc ảnh hưởng đến tỉ lệ sống v à sinh trưởng, nhưng có thể xem
NH
4
+
là không có hại đối với động vật thủy sản. Trong quá tr ình thí nghiệm TAN có
được chủ yếu là từ thức ăn và chất bài tiết của cá. Theo Trương Quốc Phú, Nguyễn
Đình Trung, Lê Văn Cát thì tỉ lệ giữa NH
4
+
/NH
3
sẽ tăng khi pH giảm và giảm khi
pH tăng, ngoài ra t ỉ lệ này còn phụ thuộc vào nhiệt độ.
0.00
0.50
1.00
1.50
2.00
2.50
3.00
3.50
4.00
10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0 90.0 100. 110. 120.
T hời điểm thu mẫu (ngày)
TAN (ppm)
Độ mặn 0%o Độ mặn 5%o Độ mặn 10%o