TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ THU HỒNG
THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ TÀU NGŨ SẮC
(Carassius auratus) GIAI ĐOẠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. BÙI MINH TÂM
2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ TÀU NGŨ SẮC
(Carassius auratus) GIAI ĐOẠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THỊ THU HỒNG iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách Bảng v
Danh sách Hình vi
Chương I: Giới thiệu 1
Chương II: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm hình thái 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Hình dáng 3
2.1.3 Màu sắc 4
2.2 Đặc điểm môi trường sống 4
2.3 Đặc điểm sinh sản 5
2.3.1 Phân biệt giới tính 5
2.3.2 Sinh sản 6
1. Bảng theo dõi trọng lượng, chiều dài, tỉ lệ sống thí nghiệm 1 23
2. Bảng theo dõi trọng lượng, chiều dài, tỉ lệ sống thí nghiệm 2 25
3. Kết quả xử lý thống kê DWG, DLG, TLS thí nghiệm 1 29
4. Kết quả xử lý thống kê DWG, DLG, TLS thí nghiệm 2 30
5. Bảng theo dõi nhiệt độ, pH, oxy thí nghiệm 1 32
6. Bảng theo dõi nhiệt độ, pH, oxy thí nghiệm 2 35
v
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1: Cá tàu ngũ sắc 3
Hình 2: Cá tàu sau khi tiêm kích dục tố 5
Hình 3: Bể ương cá tàu ngũ sắc 11
Hình 4: Biểu đồ tỉ lệ sống của thí nghiệm 1 17
Hình 5: Biểu đồ tỉ lệ sống của thí nghiệm 2 20 5
Ngưỡng CO2: không quá 60mg/L.
pH: Trong nước ngọt pH thích hợp với cá tàu là 6,5 - 8,5. Nếu độ pH = 5,5
– 9,5 cá vẫn có thể sống, nhưng tốt nhất không vượt quá 5- 8,5. Cá con cần độ pH
2 – 7,2 là thích hợp (Đức Hiệp, 2000).
2.3 Đặc điểm sinh sản
2.3.1 Phân biệt giới tính
Cá đực có một số đặc điểm sau: màu sắc sặc sỡ hơn con cái, nắp mang có
những nốt sần đẹp, trên ngực và cơ thể có khi cũng có nốt sần, cá tỏ ra bị kích
thích và đuổi theo cá cái và xô đẩy nó, cá đực dùng nốt sần kích thích cá cái.
Cá cái: màu sắc kém sặc sỡ hơn, đến mùa sinh sản cũng có bụng to hẳn ra ở
một bên, cá bơi lội chậm chạp, lỗ sinh dục màu đỏ hồng đến đỏ sẫm và hơi lồi ra. Hình 2: Cá tàu sau khi tiêm kích dục tố
Cũng như nhiều giống cá kiểng khác, Cá Tàu khó phân biệt được giới tính.
Nhìn chung thì cá trống, mái đều có hình dáng như nhau. Đối với cá tàu ngũ sắc
thì khó đoán hơn, cá cái thì nhìn trên xuống bụng hay lệch một bên, miệng nhỏ,
màu sắc kém sặc sỡ hơn, đuôi ít xoè hơn, để chính xác nhất nếu chưa quen nhìn
gai sần màu trắng thì chờ mùa sinh sản, con cá nào rượt cá khác là cá đực, cá nào
bị rượt là cá cái. Tuy nhiên, cá ba đuôi có nhiều giống bụng to, vì thế cá đực bụng
Sự ấp trứng lệ thuộc vào nhiệt độ (21-24°C), xảy ra trong 4 ngày. Nếu nhiệt
độ nước cao hơn thì thời gian ấp sẽ ngắn hơn, chỉ còn 2 ngày rưỡi đến 3 ngày.
Ngược lại, nếu nhiệt độ thấp thì cá phải ấp trong 6-8 ngày. Cá bột nở ra có thể ăn
được tảo và trùn cỏ. Nếu nhìn cá con đều một màu nâu, ta không hình dung được
sự biến đổi về sau để cá có màu sắc của cá bố mẹ. Màu vàng hay đỏ bắt đầu thay
thế màu nâu đồng, điều này chỉ vào khoảng ngày thứ 60 hay 80 và nhiệt độ của
nước không quá 20°C. Về hình dạng, cá con được di truyền từ những đặc tính
hình thức của cá bố mẹ, đã có thể phân biệt được kể từ những ngày đầu của đời
sống của cá con.
Cá con ăn khỏe và lớn nhanh, cá sau 15 ngày tuổi 0,025g; 30 ngày đạt 0,224g;
45 ngày đạt 0,61g và 60 ngày 0,70g. Sau một tháng, có thể đạt kích thước 2-3cm.
Nếu ương nuôi tốt, tỷ lệ sống đạt trung bình 60-70%. Sự trưởng thành sinh dục
chắc chắn là vào năm thứ hai (Bùi Minh Tâm, 2007).
2.4 Đặc điểm dinh dưỡng
2.4.1 Cá bột
- Bể ương cá bột: diện tích 1-4 m
2
, mực nước 40-60cm, mật độ ương 500
con/m
2
.
- Thức ăn và cách cho ăn:
* 10 ngày đầu sau khi nở cho ăn moina.
* 20 ngày sau cho ăn trùng chỉ cắt nhỏ.
* 30 ngày cho ăn trùng chỉ.
* Ngày cho ăn 2 lần sáng 7-8h, chiều 4-5 h (Đức Hiệp, 2000).
2.4.2 Cá con
- Giai đoạn này cá ăn tạp, trong giai đoạn này nếu chọn cho cá thức ăn phù
hợp với mật độ sinh trưởng và sức khỏe của cá, cá sẽ phát triển tốt.
- Thức ăn thích hợp với cá con là giun nước, hồng trần, bọ gậy nhỏ, rêu cỏ
bằng cách mỗi lần cho ăn moina, thì cho vào vài con trùn chỉ cho chúng quen
dần, đến khi chúng chịu ăn thì chuyển dần và thay thế hoàn toàn bằng thức ăn
mới.
2.5.1 Một số đặc điểm của Moina
Moina là phiêu sinh động vật. Chiều dài Moina cái khoảng 400 -1130 µm.
Moina trưởng thành (700 - 1000µm) có kích thước gấn gấp đôi ấu trùng artemia
(500µm), và gần gấp 2-3 lần kích thước trùn bánh xe trưởng thành (rotifer). Tuy
nhiên, Moina mới nở (nhỏ hơn 400µm) gần bằng hay lớn hơn trùng bánh xe
trưởng thành và nhỏ hơn ấu trùng artemia. Hơn nữa, ấu trùng artemia chết rất
nhanh trong nước ngọt nên Moina là thức ăn lý tưởng trong nuôi cá bột. Giá trị
9
dinh dưỡng của Moina phụ thuộc vào độ tuổi, loại thức ăn mà chúng được nuôi.
Dù vậy, lượng protein ở moina chiếm 50% khối lượng khô. Moina trưởng thành
chứa nhiều chất béo hơn Moina non. Lượng chất béo chiếm 20 -27% khối lượng
khô ở Moina trưởng thành và 4 – 6% ở Moina non (R.W.Rottmann & ctv, 2008).
2.5.2 Một số đặc điểm của trùn quế
Trùn quế khi mới nở, trùn chui từ kén dài 1mm, màu trắng, sau 5-7 ngày
chuyển sang màu đỏ dài 1-2 cm, sau 60 ngày đạt 8-10 cm, độ đạm trung bình
khoảng 60-65%, lúc này thu hoạch trùn thịt cho cá ăn là tốt nhất. Thức ăn chính
của trùn là phân bò, trâu, dê, heo, gà, vịt, rơm, rạ (phân gà, phân heo, phân vịt
phải ủ hoai). Trùn quế sấy khô, nghiền nát làm thức ăn cho cá cảnh, chế biến thực
phẩm cho gia súc, gia cầm hoặc cho ăn sống (Trần Nhựt, 2006).
lại 3 lần, và bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên.
3.2.1 Thí nghiệm 1
Khảo sát ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng và tỉ lệ
sống của cá từ bột lên hương (từ cá mới nở đến ngày thứ 15). Bắt đầu cho ăn vào
ngày thứ 3. Bố trí mỗi nghiệm thức với mật độ 200con/ bể
Nghiệm thức 1 (IA): cho cá ăn trứng nước.
Nghiệm thức 2 (IB): cho cá lòng đỏ trứng gà
Nghiệm thức 3 (IC): cho cá ăn thức ăn viên (40% đạm).
3.2.1 Thí nghiệm 2
Khảo sát sự ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng và tỉ lệ
sống của cá từ giai đoạn hương lên giống. Giai đoạn từ bột lên hương cả 3
nghiệm thức đều cho cùng 1 loại thức ăn hiệu quả nhất ở thí nghiệm 1. Đến giai
đoạn từ hương lên giống (bắt đầu ngày thứ 16) thì ở mỗi nghiệm thức bố trí 30
con/ bể và cho ăn như sau:
Nghiệm thức 1 (IIA): cho cá ăn trùn quế cắt nhỏ.
Nghiệm thức 2 (IIB): cho cá ăn thức ăn viên trộn với trùn quế xay.
Nghiệm thức 3 (IIC): cho cá ăn thức ăn viên (40% đạm)
11
Hình 3: Bể ương cá tàu ngũ sắc
3.2.3 Quản lý hệ thống thí nghiệm
Cho ăn: Ngày cho ăn 2 lần sáng 7-8h, chiều 4-5h.
Quản lý hệ thống bể ương: Bể ương được thay nước 2 ngày/ lần vào buổi
sáng, mỗi lần thay 1/3 thể tích bể.
Phương pháp thu mẫu môi trường:
- Nhiệt độ và pH theo dõi 2 lần trong ngày vào buổi sáng và chiều.
- Oxy được theo dõi mỗi buổi sáng.
– t
đ * Tăng trưởng chiều dài tuyệt đối: ( Daily Length Gain)
L
c
– L
đ
DLG (mm/ ngày) =
t
c
– t
đ
Trong đó:
W
đ
, L
đ
: Khối lượng, chiều dài của cá tại thời gian đầu (mg, mm)
W
c
, L
c
: Khối lượng, chiều dài của cá tại thời gian thu (mg, mm)
t
đ
, t
c
14
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tàu ngũ
sắc giai đoạn từ bột lên hương
4.1.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường trong quá trình ương
Nhiệt độ
Qua kết quả Bảng 4.1 cho thấy nhiệt độ giữa các nghiệm thức dao động không
đáng kể nhiệt độ sáng (25,6 – 25,7°C), nhiệt độ chiều (28,2 – 28,5°C), sáng và
chiều (25,5 – 28,5°C) của mỗi các nghiệm thức chênh lệch nhau không cao nhỏ
hơn 3°C và đều nằm trong khoảng thích hợp của cá 20 – 29°C (Đức Hiệp, 2000).
Vì cá là động vật biến nhiệt nên nhiệt độ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt
Trứng gà
25,7±0,55
28,2±0,55
7,4±0,21
7,7±0,19
4,3±0,23
Thức ăn viên
25,6±0,51
28,7±0,6
7,3±0,23
7,7±0,22
4,3±0,23
Ghi chú: ( t°) nhiệt độ
pH
Qua kết quả Bảng 4.1 cho thấy pH trung bình ở các nghiệm thức buổi sáng
(7,3 – 7,4) và buổi chiều (7,6 – 7,7). Vì các nghiệm thức được bố trí trong nhà
ánh sáng mặt trời không chiếu trực tiếp vào, đồng thời nước được thay mỗi ngày
nên pH dao động không nhiều. Với kết quả ghi nhận trên cho thấy pH trong thí
1516
Bảng 4.2: Tăng trưởng trọng lượng thí nghiệm 1
Nghiệm thức Wđ(mg)
Wc(mg)
DWG(mg/ngày)
Trứng nước 4
28,4±1,3
a
1,62±0,09
a
Trứng gà 4
17,9±1,9
b
0,93±0,12
b
Thức ăn viên 4
17,5±1,8
b
0,9±0,12
10,24±0,15
b
0,35±0,01
b
Thức ăn viên 5
9,52±0,57
b
0,3±0,03
b
Các giá trị trên cùng một cột có các ký tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)
Tỉ lệ sống
Kết quả ở Bảng 4.4 cho thấy tỉ lệ sống của cá giữa các nghiệm thức chênh
lệnh rất lớn dao động từ 34 – 80,7%. Trong đó nghiệm thức cho ăn trứng nước có
tỉ lệ sống cao nhất 80,7%, và kế tiếp là nghiệm thức cho ăn trứng gà 69,2%, sau
cùng là nghiệm thức cho ăn thức ăn viên có tỉ lệ sống thấp nhất 34%. Phân tích số
liệu thống kê cho thấy nghiệm thức cho ăn thức ăn viên sai khác với 2 nghiệm
thức cho ăn trứng nước và trứng gà có ý nghĩa thống kê (p<0,05) nhưng giữa 2
17
nghiệm thức cho ăn trứng nước và trứng gà thì sai khác không có ý nghĩa thông
kê (p>0,05).
Bảng 4.4 : Kết quả tỉ lệ sống thí nghiệm 1
Nghiệm thức TLS %
Vậy sau 15 ngày ương cho thấy mức tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá ương
chịu ảnh hưởng chính từ thức ăn sử dụng. Ở nghiệm thức cho cá ăn trứng nước có
mức tăng trưởng và tỷ lệ sống cao, do cá tàu có tập tính bắt mồi sống, trứng nước
có kích cở vừa với miệng cá đồng thời khi cho ăn trứng nước cá năng động hơn,
chủ động bắt mồi hơn và môi trường nước cũng ít dơ hơn. Vì thế, ở giai đoạn từ
bột lên hương cho cá tàu ăn trứng nước là hiệu quả nhất, cá tăng trọng nhanh và
có tỉ lệ sống cao.
4.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tàu ngũ
sắc giai đoạn từ hương lên giống.
4.2.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường trong quá trình ương 18
Nhiệt độ
Trong suốt thời gian thí nghiệm, nhiệt độ buổi sáng trong các nghiệm thức dao
động trong khoảng 25,7 – 25,8°C, chiều dao động 28,5 – 29°C. Sự chênh lệch
giữa nhiệt độ sáng và chiều, nhỏ hơn 4°C (Bảng 4.5) đều nằm trong khoảng thích
hợp của cá ương. Theo Trương Quốc Phú (2006), nhiệt độ thích hợp cho cá, tôm
vùng nhiệt đới là 25 – 35°C và thích hợp nhất là 28 – 30°C.
pH
pH biến động không lớn qua các lần thay đõi, sáng từ 7,3 – 7,4, chiều từ 7,7 –
7,8 (Bảng 4.5). Theo Swingle (1969) được trích bởi Trương Quốc Phú (2006) thì
pH = 6,5 – 9 là thích hợp các loại cá tôm nuôi. Còn theo Nguyễn Hữu Đức (1997)
thì đối với cá giống ngưỡng pH là 3,3-11. Vì vậy pH ở thí nghiệm này nằm trong
khoảng thích hợp cho cá phát triển.
Oxy
Oxy qua các lần theo dõi dao động từ 4,4 - 4,6 mg/L (Bảng 4.5). Do hệ thống
thí nghiệm có lắp sục khí nên hàm lượng oxy tương đối ổn định. Theo Nguyễn
Hữu Đức (1997) thì ngưỡng oxy của cá tàu ở giai đoạn giống là 0,2 mg/L, và tiêu
7,8±0,22
4,6±0,34
Thức ăn viên 25,7±0,51
28,9±0,63
7,3±0,19
7,7±0,2
4,6±0,33
Ghi chú: ( t°) nhiệt độ
4.2.2 Kết quả ương nuôi
Tăng trưởng về trọng lượng
Qua kết quả ở Bảng 4.6 cho thấy mức tăng trọng ở nghiệm thức cho ăn trùn
quế là cao nhất, 12 mg/ngày và kế đến là nghiệm thức thức ăn viên 10,7 mg/ngày,
19
thấp nhất là nghiệm thức cho ăn trùn quế xay trộn thức ăn 10,2 mg/ngày. Qua
phân tích số liệu thống kê thì sự khác biệt giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa
thống kê (p >0,05). Sau 30 ngày trọng lượng của cá dao động từ 229 – 248,3 mg.
Theo Bùi Minh Tâm (2007) trọng lượng cá tàu sau 30 ngày đạt 224 mg. Vậy kết
quả trên tương tự với kết quả nghiên cứu trước đây.
Bảng 4.6: Tăng trưởng trọng lượng thí nghiệm 2
Nghiệm thức Wđ(mg)
ngày có chiều dài trung bình là 21,4 mm, với kết quả thí nghiệm trên thì chiều dài
trung bình dao động từ 19,5 – 21,4 mm. Vậy kết quả này phù hợp với kết quả
nghiên cứu trước đây.
Bảng 4.7: Tăng trưởng chiều dài thí nghiệm 2
Nghiệm thức Lđ (mm)
Lc(mm)
DLG(mm/ngày)
Trùn quế 14,2±0,5
21,4±0,8
0,48±0,05
Trùn quế + Thức ăn 14,1±0,6
19,5±0,3
0,36±0,03
Thức ăn viên 14±0,3
19,6±0,9
0,37±0,07Tỉ lệ sống