Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨCĂN KHÁC NHAU LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ BỐNG TƯỢNG (Oxyeleotris marmoratus) TỪ GIAI ĐOẠN HƯƠNG LÊN GIỐNG" - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN HOÀNG PHÚ
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨCĂN KHÁC NHAU
LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ BỐNG
TƯỢNG (Oxyeleotris marmoratus) TỪ GIAI ĐOẠN HƯƠNG
LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN HOÀNG PHÚ
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨCĂN KHÁC NHAU
LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ BỐNG
TƯỢNG (Oxyeleotris marmoratus) TỪ GIAI ĐOẠN HƯƠNG
LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. BÙI MINH TÂM
2009
1
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin được phép bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình và những
người thân đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cán bộ hướng dẫn Ts. Bùi Minh Tâm đã
động viên, giúp đỡ tận tình và cho tôi những lời khuyên qúi báo trong suốt thời gian
thực hiện đề tài và viết luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý thầy cô giảng dạy của trường Đại
Học Cần Thơ và khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và

2.3.3. Ương cá hương thành cá giống lớn ( 8 – 10cm) 17
2.4. Ảnh hưởng của thức ăn và nhịp cho ăn lên tăng trưởng của cá bống tượng.17
2.4.1. Các loại thức ăn 17
2.4.2. Nhịp cho ăn 18
2.4.3 Điều kiện nuôi 18
Chương III 19
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1. Thời gian và địa điểm 19
3
3.2. Nguồn cá thí nghiệm 19
3.3. Vật liệu nghiên cứu 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1. Bố trí thí nghiệm 19
3.4.2. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn 22
3.4.3. Xử lý số liệu 23
Chương IV 24
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1. Các yếu tố môi trường 24
4.1.1. Biến động của nhiệt độ, pH, oxy hoà tan và NH
4
+
24
4.1.2. Hàm lượng NH
4
+
27
4.2 Thí nghiệm1: ương nuôi cá bống tượng với các loại thức ăn khác nhau 28
4.2.1 Tốc độ tăng trưởng về khối lượng 28
4.2.2 Tốc độ tăng trưởng về chiều dài 28
4.2.3 Tỷ lệ sống 29

từ hương lên giống.
5
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3. 1 : Thành phần dinh dưỡng của thức ăn
Bảng 3. 2: Thành phần dịch cá thủy phân (%VCK)
Bảng 4.1: Biến động nhiệt độ sáng chiều ở các nghiệm thức
Bảng 4.2: Biến động pH theo thời gian
Bảng 4.3: Biến động oxy theo thời gian
Bảng 4.4: Biến động NH
4
+
/NH
3
theo thời gian
Bảng 4.5: Sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng của cá bống tượng sau 60
ngày ương bằng các loại thức ăn khác nhau.
Bảng 4.6: Tỉ lệ sống của cá bống tượng.
Bảng 4.7: Sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng của cá bống tượng sau 50
ngày ương trong giai bằng các loại thức ăn khác nhau.
Bảng 4.8 : Tỉ lệ sống của cá bống tượng khi ương trong giai.
6
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Hình dạng bên ngoài của cá bống tượng ( Oxyeleotris marmoratus).
Hình 4.1: Biến động nhiệt độ theo thời gian
Hình 4.2: Biến động pH theo thời gian
Hình 4.3: Biến động oxy theo thời gian
Hình 4.4: Biến động NH
4
theo thời gian
Hình4.5: Trọng lượng cá gia tăng theo thời gian ương với các loại thức ăn khác

trưởng và tỉ lệ sống của cá bống tượng (Oxyeletris marmoratus) được thực hiện.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Xác định loại thức ăn thích hợp và hiệu quả sử dụng thức ăn đối với sự tăng
trưởng của cá Bống Tượng trong ương nuôi đạt kết quả, góp phần xây dựng quy
trình ương đối tượng này.
8
1.3. Nội dung đề tài
- Ương cá bống tượng bằng các loại thức ăn khác nhau
- Theo dõi tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá.
- Xác định hệ số chuyển hoá thức ăn trong giai đoạn ương từ hương lên giống.
9
Chương II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm sinh học
2.1.1 Đặc điểm phân loại
Cá Bống Tượng (Oxyeleotris marmoratus) được phân loại như sau:
Lớp: Osteichthyes
Lớp phụ: Artinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Eleotridae
Loài: Oxyeleotris marmoratus
Hình 2.1: Hình dạng bên ngoài của cá bống tượng ( Oxyeleotris marmoratus)
Trong thuỷ sản Cá Bống Tượng còn có nhiều tên gọi khác nhau. Ở Trung
Quốc có tên là Soen hock dzi, Thái Lan gọi là plabu, người Campuchia gọi là Soon
– Hock (một địa danh của thuỷ vực gần Biển Hồ). Cá Bống Tượng còn có tên
thương mại là Marbled sleepy Goby (Nguyễn Chung,2007).
Nhiều nước trong khu vực đã nghiên cứu và cho sinh sản nhân tạo thành
công cá Bống Tượng như: Indonesia (1978), Thai Lan và Singapore (1980). Ở Việt
Nam, năm 1985 nhiều cơ quan như viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II; khoa
thuỷ sản trường Đại Học Nông Lâm, Thành Phố Hồ Chí Minh; Đại Học Cần Thơ đã

ở môi trường nước bị nhiễm phèn pH = 5,5, sống được ở nước có nhiệt độ cao tới
41,5
0
C chịu đựng được nhiệt độ lạnh 15
0
C và độ mặn 15
0
/
00
(Nguyễn Chung, 2007).
2.1.4. Tập tính sống
Cá có tập tính sống ở đáy, ban ngày ít hoạt động và thường vùi mình xuống
bùn, ban đêm hoạt động bắt mồi tích cực. Cá ưa ẩn náo nơi cây cỏ rậm ven bờ và
rình bắt mồi, khi gập nguy hiểm cá có thể vùi sâu trong bùn tới 1m sống được nhiều
giờ. Đặc biệt cá có thể sống nhiều ngày không ăn, hoạt động trong điều kiện bị giữ
trong lu, xô có nước không ngập hết thân cá. Khi hàm lượng oxy hoà tan trong nước
thấp cá có hiện tượng phùng mang nổi đầu trên mặt nước. Do cá sống ở tầng đáy
nên mọi biến động chất lượng môi trường nước ở tầng đáy dễ làm cá mất sức, yếu
đi và chậm lớn (Nguyễn Chung, 2007).
11
Môi trường sống thuận lợi cho cá sinh trưởng tốt như nuôi trong môi trường
nước ngọt không bị nhiễm phèn pH thích hợp 6,5 – 7, nhiệt độ 26 – 32
0
C và oxy
trên 3mg/l (Nguyễn Chung, 2007). Nhờ có cơ quan hô hấp phụ, cá có thể chịu được
trong điều kiện oxy thấp và ngay cả chiu rut trong bùn trong nhiều giờ. Cá có thể
sống trong khoảng nhiệt độ 15 – 41,5
0
C. Cơ quan hô hấp phụ chủ yếu là da và tuyến
nhầy trên đầu, giúp cá sử dụng khí trời nhiều giờ liền trong điều kiện ẩm (Nguyễn

Cá cái cỡ 150g/con là có thể thành thục sinh sản, sức sinh sản khá cao. Trái
với quy luật tự nhiên, cá Bống Tượng càng lớn càng ít trứng, cá cỡ 150 – 200g/con
có số lượng trứng nhiều nhất 270.000 trứng/kg cá cái, cỡ 250g/con giảm chỉ còn
76.000 trứng/kg và cỡ 350g/con giảm còn 58.700 trứng/kg.
Cá Bống Tượng sinh sản lần đầu sau 9 – 12 tháng tuổi. Mùa sinh sản tự
nhiên kéo dài từ tháng 3 – 11, tập trung từ tháng 5 – 8, sức sinh sản 150.000 –
200.000 trứng/ kg cá cái (Dương Tấn Lộc, 2002). Cá tự bắt cặp và đẻ trứng. Trứng
có hình quả lê dính chặt vào các hang, hốc đá, bọng cây, các vật hình ống hay gạch
đá có dưới ao.
Sau khi đẻ cá đực canh tổ và ấp cùng cá cái, cá cái bơi quanh tổ trứng dùng
đuôi quạt nước tạo thành dòng chảy cung cấp oxy cho phôi trứng phát triển nở
thành cá bột. Thời gian ấp trứng là 25 – 26 giờ ở nhiệt độ 28 – 30
0
C.
Sau khi nở 1 ngày cá bột có chiều dài 0,38 – 0,4mm, cá chuyển độgn thẳng
đứng rồi từ từ buông mình chìm xuống đáy.
Cá bột 2 ngày tuổi dài 0,4 – 0,45mm, mắt có sắc tố đen, vi ngực xuất hiện, cá
bơi thẳng đứng.
Cá bột 3 ngày tuổi dài 0,5 – 0,6mm, noãn hoàng tiêu hết.
Cá bột 12 ngày tuổi dài 1,5 – 3mm, đã xuát hiện đầy đủ vây.
Cá bột 18 ngày tuổi dài 5 – 8mm, đã hình thành vảy, có hình dạng của cá
trưởng thành.
Cá con 30 ngày tuổi dài khoảng 13mm.
Cá con 45 ngày tuổi dài khoảng 21mm.
Cá con 60 ngày tuổi dài khoảng 30mm.
Cá con 75 ngày tuổi dài khoảng 41mm.
Cá con 90 ngày tuổi dài khoảng 53mm.
Từ cá hương 4 – 5cm cần thêm 4 – 5 tháng cá mới đạt kích cỡ cá giống 100
g/con (Nguyễn Chung, 2007).
Môi trường sống

sinh trùng xâm nhập và nhiễm bệnh chết. Ở giai đoạn cá dưới 12cm, nếu có sự thay
đổi môi trường sống đột ngột cá dễ bị sốc và thường chết hàng loạt.
Khi chọn địa điểm nuôi cá bống tượng nên chọn nơi có nguồn nước tốt, sạch
khong chọn những nơi vượt ngưỡng thích hợp, trừ trường hợp không thể chọn nơi
tốt hơn mới chấp nhận ở những nơi bị nước biển xâm nhập có độ mặn 5 - 6
0
/
00
vài
tháng trong năm.
Môi trường nước có tác động lớn đến hiệu quả nuôi vỗ cá bố mẹ, cho cá đẻ,
ấp trứng, ương dưỡng cá con thành cá giống và nuôi cá thịt. Tốc độ dòng chảy, bổ
sung thay nước mới và đặc biệt khi tăng các chất dinh dưỡng để tăng chất lượng
nước cho cá đều phải được chú trọng quan tâm (Nguyễn Chung, 2007).
2.3. Sản xuất giống cá bống tượng
Ao nuôi vỗ cá bống tượng có diện tích từ 500 – 1000m
2
, nguồn nước trong
ao phải trong sạch, không bị ô nhiễm, đất không bị nhiễm phèn nhiễm mặn. Ao phải
có nguồn cấp thoát nước chủ động. Trước khi thả cá ao cần phải tẩy dọn sạch sẽ, vét
hết bùn đáy ao, trang bằng đáy ao, dùng dây thuóc cá để diệt tạp với lượng 0,5
kg/100
2
. Sau đó tiến hành bón vôi với lượng 5 – 7kg/100m
2
. Ở những vùng bị
nhiễm phèn lượng vôi có thể tăng lên gấp đôi. Sau khi bón vôi nên tiến hành phơi
đáy ao 2 – 3 ngày. Sau khi cải tạo xong, tiến hành lấy nước vào ao. Cống phải bịt
lưới hai đầu và kích thước mắt lưới nhỏ để ngăn cá tạp và địch hại xâm nhập vào ao
cũng như không cho cá thoát ra ngoài.

trứng cần có nhiệt độ thích hợp từ 25 – 28
0
C, oxy hòa tan >5mg/l, pH từ 7 – 7,5 và
không có vi sinh vật hại trứng (động vật phù du nhóm Cyclops, bọ gạo…). Thời
gian nở của trứng từ 34 – 82giờ. Nhìn chung thời gian nở càng cao (trong giới hạn
cho phép) thì thời gian nở càng nhanh. Ngoài ra phương pháp ấp trứng cũng ảnh
hưởng tới thời gian nở. Thời gian nở của phương pháp nước tĩnh bắt đầu từ 36giờ
và kéo dài đến 82giờ trong khi thời gian nở của phương pháp nước chảy và nước
tĩnh có sục khí cũng bắt đầu từ 36giờ nhưng tập trung nhất vào khoảng 48 – 56giờ
sau khi thụ tinh. Qua kinh nghiệm thực tiễn thì ấp trứng theo phương pháp nước
tĩnh có sục khí là tốt nhất vì kích thước cá bột rất nhỏ và rất yếu dễ mẫn cảm với
điều kiện môi trường (theo Ngô Bá Thành (1988) trích bởi Dương Nhựt Long,
2003).
15
Kỹ thuật ương
Có hai cách ương cá bống tượng bột là ương trong ao đất và ương trong bể xi
măng.
2.3.1. Ương trong ao đất
Ao cần phải tẩy dọn sạch sẽ, vét bùn đáy ao, không nên để lớp bùn quá dày,
phơi khô đáy ao sau đó cấp nước vào ao với mức nước 0,8 – 1 m khoảng 2 – 3 ngày
mới thả cá vào ao. Diện tích ao nuôi từ 250 – 1000m
2
khi đưa nước vào ao qua lưới
lọc mịn (0,5 – 0,7mm) tránh cá tạp, cá dữ và các loại động vật thủy sinh gây hại.
Nếu có bọ gạo xuất hiện thì phải diệt ngay trước khi thả cá ( diệt bằng dầu hôi). Sau
đó xả bỏ lớp nước mặt và thả cá ( Bùi Minh Tâm & Lê Như Xuân, 1995).
Mật độ ương có thể dao động từ 500 – 1000 con/m
2
. Nên thả cá bột lúc hết
noãn hoàng cá được thả sáng sớm hoặc chiều mát, nhiệt độ nước 28 – 30

2.3.2. Ương trong bể xi măng
Có thể sử dụng bể xi măng, bể lót bạt nhựa hay bể composite bể cáo diện tích
từ 15 – 30m
2
, có chiều sâu 80 – 100cm, giữ nước trong bể ở mức 60 – 80cm, cứ 3 –
4m
2
có một viên đá bọt sục khí liên tục 24/24 để đảm bảo lượng oxy hòa tan trong
nước. Vệ sinh bể ương và dụng cụ, chà rửa khắp thành và đáy bể bằng chlorine
20ppm, rửa lại bằng nước sạch, phơi nắng từ 6 – 12 tiếng rồi mới cho nước vào bể.
Trước khi cấp nước vào bể ương phải lắng lọc kỹ, dùng chlorine nồng độ
20ppm để xử lý và diệt hết các sinh vật gây hại sống trong nước. Sau 24 giờ nước
có thể dùng được, nên sục khí liên tục để ổn định và duy trì chất lượng nước trong
suốt quá trình ương, chất lượng nước tốt có hàm lượng oxy trên 5mg/l, pH 6.8 – 7,
nhiệt độ 28 -30
0
C, không ô nhiễm. Mọi thay đổi môi trường chất lượng nước ở
khoảng 10 – 15% đều có nguy cơ gây sốc làm cá yếu đi và chết.
Có thể dùng nước giếng để lắng 2 – 3 ngày, xử lý bằng chlorine nhưng phải
đạt chất lượng nước tốt (Nguyễn Chung, 2007).
Mật độ ương trên bể xi măng thường là 1000 – 2000 con/m
2
giai đoạn đầu và
150 – 250 con/m
2
ở giai đoạn sau.
Kỹ thuật ương: có thể ương cá thành hai giai đoạn từ 3 – 10 ngày tuổi và 10
– 60 ngày tuổi.
Cá bột từ 3 – 10 ngày tuổi được ương trong bể xi măng với các loại thức ăn
khác nhau như lòng đỏ trứng (1trứng/2vạn cá), bột đạu nành xay nhuyễn (1 muỗng

2
(Nguyễn Chung, 2007).
2.3.3. Ương cá hương thành cá giống lớn ( 8 – 10cm)
Để cá có kích thước 8 – 10cm ta tiếp tục ương cá thêm 3,5 – 4 tháng. Kỹ
thuật chuẩn bị ao ương như chuẩn bị ao ương cá bột lên cá hương. Mật độ ương từ
75 – 100 con/m
2
. Thức ăn cho cá là cá vụn, tép, ốc… băm nhỏ.
Mỗi ngày cho ăn 2 lần. Thức ăn cho vào sàn đặt ở nơi cố định. Khẩu phần
thức ăn mỗi ngày bằng 7 – 10% trọng lượng cá, thường xuyên kiểm tra tốc độ tăng
trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp (Phạm văn Khánh, 2006).
Nước trong ao ương nên được thay thường xuyên. Nếu không lợi dụng được
thủy triều thì cũng phải thay ít nhất 2 lần trong tuần. Khi cá đạt 8 – 10cm (15 – 30g)
thì chuyển sang nuôi cá lứa hoặc chuyến hằn sang nuôi thịt (Phạm văn Khánh,
2006).
2.4. Ảnh hưởng của thức ăn và nhịp cho ăn lên tăng trưởng của cá bống tượng.
2.4.1. Các loại thức ăn
Theo Bùi Minh Tâm & Lê Như Xuân (1995), khi thí nghiệm cá ở 30 ngày
tuổi cho ăn với các loại thức ăn khác nhau thì trùng chỉ cho thấy kết quả cá 50 ngày
tuổi và cho ăn trùng chỉ kết hợp với thức ăn viên cho tốc độ tăng trưởng cao nhất (từ
1,141g tăng lên 4,586g) sau 60 ngày theo dõi.
18
2.4.2. Nhịp cho ăn
Theo Bùi Minh Tâm & Lê Như Xuân (1995), khi theo dõi nhịp cho ăn của cá
sau 60 ngày thì thấy cá cho ăn cả ngày lẫn đêm cho tốc độ tăng trọng cao hơn so với
cá chỉ cho ăn ngày hoặc chỉ cho ăn đêm.
2.4.3 Điều kiện nuôi
Cá Bống Tượng sống thích hợp và phát triển tốt trong môi trương nước ngọt
không không bị nhiễm phèn với các chỉ tiêu về môi trường:
 Nhiệt độ: thích hợp từ 26 – 32

Thời gian: Đề tài bắt đầu thực hiện từ tháng 12 – 2008 và kết thúc vào cuối
tháng 06 – 2009.
Địa điểm: Trại Cá – Khoa Thủy Sản - Trường Đại Học Cần Thơ.
Đối tượng nghiên cứu: Cá Bống Tượng (Oxyeleotris marmoratus).
3.2. Nguồn cá thí nghiệm
Nguồn cá thí nghiệm được lấy từ trại cá của khoa Thủy Sản – Trường Đại
Học Cần Thơ. Cá Bống Tượng có chiều dài từ 2,5 – 4.5 cm và được ương đến
giống.
3.3. Vật liệu nghiên cứu
Xô nhựa 60L ( 9 xô), 9 giai 1m
2
Hóa chất: Chlorine dùng để khử trùng đáy bể; Formol, muối dùng để khử
trùng thức ăn
Máy đo oxy, pH, nhiệt độ, hệ thống sục khí, cân điện tử, thước,vợt vớt cá,
kính lúp và một số dụng cụ khác.
Thức ăn cho cá bao gồm: Thức ăn tự chế, trùn chỉ, trùn quế, tép.
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Thử nghiệm ương nuôi cá bống tượng từ cá hương lên cá giống với
các loại thức ăn khác nhau.
Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức lập
lại 3 lần.
Nghiệm thức I: Trùn quế
Nghiệm thức II: Thức ăn viên kết hợp với trùn quế xay
Nghiệm thức III: Thức ăn viên
Chăm sóc và quản lí: Thí nghiệm được bố trí trong bể xi măng có sục khí với
mực nước 0.4 m. Ban đầu cá chỉ ăn trùn chỉ, trong quá trình ương cá được cho ăn
trùng quế, thức ăn viên kết hợp với trùn quế xay, thức ăn viên. Cá được cho ăn theo
nhu cầu nhưng với khẩu phần dao động từ 3 – 7 % khối lượng thân (tính theo khối
20

định kỳ 7 ngày/ lần ở mỗi giai và bể vào 8 giờ sáng và 16 giờ chiều trong ngày.
Các chỉ tiêu theo dõi và tính toán
Các chỉ tiêu môi trường: Oxy, pH, nhiệt độ định kỳ 7 ngày/ lần.
21
Tỷ lệ sống (Survival rate, SR)
Số cá thu được
SR (%) = x 100
Số cá thả lúc đầu
Khối lượng cá cân được
Khối lượng trung bình: (g)=
Số cá đem cân
Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specific growth rate, SGR) về khối lượng (% /ngày)
và chiều dài (% /ngày)
Ln P
2
( hay L
2
) – Ln P
1
( hay L
1
)
SGR (% /ngày)= x 100
t
2
– t
1
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (Daily weight Gain, DWG) về khối
lượng (g/ngày) và chiều dài (cm/ngày)
P

2
.
t
1
, t
2
: Thời điểm kiểm tra.
Hệ số tiêu tốn thức ăn (Feed Conversion Ratio, FCR)
Lượng thức ăn sử dụng
FCR=
Trọng lượng của cá gia tăng
3.4.2. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn
Dịch cá thủy phân màu vàng nâu chưa 90% vật chất khô, hàm lượng protein
dao động 62 – 80%. Trong đó, hợp chất phi protein chiếm tỉ lệ cao, dịch cá thủy
phân chứa đầy đủ các amino acid tự do và các peptide nên được sử dụng nhiều
trong thức ăn thủy sản như là một dẫn dụ.
Dịch trùn quế được phối chế bằng cách xay nhuyễn, dùng vải mịn lọc bỏ xát
chỉ lấy nước đặc.
Thức ăn tự chế được mua từ công ty Cargil với hàm lượng đạm khoảng 80%
Bảng 3. 1 : Thành phần dinh dưỡng của thức ăn
Độ khô (%) Protein (%) Lipid (%) Tro (%)
Trùn quế 19,22 61,98 10,48 7,0
Thức ăn viên 11,00 43 8 14
23
Bảng 3. 2: Thành phần dịch cá thủy phân (%VCK)
Thành phần Trung bình Dao động
Vật chất khô 94,0 89,0-96,0
Protein 71,0 62,0-80,0
Chất béo 4,0 3,0-8,2
Tro 13,5 12,0-16,0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status