đánh giá khả năng lọc sinh học của năng tượng (scirpus littoralis) trong hệ thống nuôi tôm sú - Pdf 10


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

TRẦN ĐỊNH HUẤN ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG LỌC SINH HỌC CỦA NĂNG TƯỢNG
(Scirpus littoralis)
TRONG HỆ THỐNG NUÔI TÔM SÚ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG LỌC SINH HỌC CỦA NĂNG TƯỢNG
(Scirpus littoralis)
TRONG HỆ THỐNG NUÔI TÔM SÚ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2009
This is trial version

tôm được cho vào 9 bể trồng năng với cùng một thể tích 150 lít, sau khi được
năng tượng xử lý nước trong bể năng được cho trở lại bể tôm, cứ như thế thí
nghiệm dược tiến hành trong 6 tuần.
Năng tượng trước khi bố trí được cân trọng lượng và đo chiều dài. Sau
khi thí nghiệm kết thúc trọng lượng và chiều dài của năng tượng được cân và
đo lại để xác định tăng trưởng của năng tượng.
Kết quả thí nghiệm cho thấy các chỉ tiêu môi trường nước bể tôm giảm
đáng kể từ hàm lượng có thể gây hại cho tôm xuống trong mức an toàn.
Năng tượng sau khi thu hoạch chiều dài và khối lượng tăng đáng kể.
Tóm lại, dùng năng tượng để xử lý nước ao tôm là rất tốt, vừa cải thiện được
môi trường nước vừa tiết kiệm được chi phí. Tuy nhiên, thí nghiệm chưa xác
định được trồng năng tượng ở mức khối lượng nào là tốt nhất, diện tích kết
hợp với nuôi tôm sú là bao nhiêu.

ii

This is trial version
www.adultpdf.com
MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
PHẦN I: GIỚI THIỆU 1
Mục tiêu đề tài 2
Nội dung của đề tài 2
Thời gian và địa điểm 2
PHẦN II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

3.3 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu 18
3.3.1 Cách thu mẫu 18
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 18 iii
This is trial version
www.adultpdf.com
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Đánh giá khả năng cải thiện môi trường của năng tượng 19
4.1.1 Hàm lượng nitrite 19
4.1.2 Hàm lượng nitrate 20
4.1.3 Hàm lượng lân tổng 21
4.1.4 Hàm lượng tổng đạm 24
4.2 Tăng trưởng của năng tượng 27
4.2.1 Chiều dài 27
4.2.2 Khối lượng 28
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC 31

iv
This is trial version
www.adultpdf.com

DANH SÁCH BẢNG
v

This is trial version
www.adultpdf.com

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Hình thái bên ngoài của tôm sú 3
Hình 2.2: Vòng đời và tập tính sống của tôm sú 5
Hình 2.3: Hình thái của cỏ năng tượng 8
Hình 3.1: Hệ thống thí nghiệm trồng năng tượng 16
Hình 3.2: Ba nghiệm thức trồng năng 17
Hinh 4.1: Hàm lượng nitrate đầu vào và đầu ra của các nghiệm thức ở các đợt
thu mẫu 21
Hình 4.2: Hàm lượng tổng lân đầu vào và đầu ra của các nghiệm thức ở các
đợt thu mẫu 22
Hình 4.3: Hàm lượng tổng lân trong nước đầu vào và nước sau khi cho vào bể
năng tượng (mg) của các nghiệm thức ở các đợt thu mẫu 24
Hình 4.4: Hàm lượng đạm tổng trước và sau khi năng tượng xử lý ở các đợt
thu mẫu 26

khuẩn kháng thuốc gây khó khăn trong việc chữa trị, mặt khác nó còn làm tích
lũy thuốc trong sản phẩm thủy sản. Bên cạnh đó việc nuôi ở mật độ cao dẫn
đến ô nhiễm môi trường, dịch bệnh phát sinh gây thiệt hại cho người nuôi, sản
phẩm thủy sản không đạt yêu cầu an toàn thực phẩm.
Xuất phát từ thực tế trên, các nhà nuôi trồng thủy sản luôn nghiên cứu
tìm ra các mô hình nuôi nhằm mục đích phát triển ngành nuôi trồng thủy sản
một cách bền vững bằng các nghiên cứu nuôi tôm kết hợp như: tôm-rừng,
tôm-rong, tôm-lúa,… nhằm tận dụng khả năng cải thiện môi trường của
chúng, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, hạn chế chi phí,… Vì lý do đó mà đề
tài nghiên cứu “Đánh giá khả năng lọc sinh học của năng tượng (Scirpus
littoralis) trong hệ thống ao nuôi tôm sú” được thực hiện nhằm tìm hiểu khả
năng xử lý nước, mức độ kết hợp của năng tượng trong ao nuôi và những ưu
điểm khác của chúng để mang lại hiệu quả cao cho mô hình nuôi, góp phần
phát triển nghề nuôi trồng thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long một cách
bền vững.
1
This is trial version
www.adultpdf.com

Mục tiêu đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài là: góp phần phát triển mô hình nuôi tôm
kết hợp với thực vật thủy sinh thân thiện với môi trường và bền vững ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long.
Mục tiêu cụ thể của đề tài là: xác định khả năng xử lý nước của năng
tượng ở ba khối lượng khác nhau thông qua việc phân tích chất lượng nước
(đầu vào và đầu ra).
Nội dung của đề tài

This is trial version
www.adultpdf.com

PHẦN II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú ( Penaeus monodon)
2.1.1 Vị trí phân loại
Theo hệ thống phân loại của Holthius (1980) và Barnes (1987).
Ngành : Arthropoda
Ngành phu : Crustacea
Lớp : Malacostraca
Lớp phụ : Eumalacostraca
Bộ : Decapoda
Họ : Penaeidae
Giống : Penaeus
Loài : Penaeus monodon Hình 2.1: Hình thái bên ngoài của tôm sú
2.1.2 Phân bố
Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, từ Ấn Độ Dương qua hướng
Nhật Bản, Đài Loan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu Úc và phía Tây châu
Phi (Racek-1955, Holthuis và Rosa-1965, Moto-1981, 1985). Nhìn chung, tôm

cát và độ sâu 10-20 m (Nguyễn Văn Chung, 2000).
2.1.4 Tập tính ăn và loại thức ăn
Tôm sú là loài ăn tạp, ăn tạp cơ hội, ăn chất vẫn, ăn thịt hay là loài địch
hại của nhau. Thức ăn của tôm sú bao gồm: giáp xác, giun nhiều tơ, nhuyễn
thể, côn trùng, tảo và các mảnh thực vật. Tính ăn của tôm sú thay đổi theo giai
đoạn, ở giai đoạn tôm bột và tôm giống, chúng ăn nhiều các mảnh động-thực
vật bao gồm lab-lab, vi tảo, chất vẩn, thực vật lớn, giun, copepode, moina, ấu
trùng nhuyễn thể và giáp xác. Khi tôm lớn chúng ăn các loài động vật không
xương sống như ruốc, giáp xác chân đều, giun nhiều tơ, nhuyễn thể hay cả cá
nhỏ. Khi tôm thành thục, chúng ăn nhiều nhuyễn thể.
Khi nuôi ở mật độ cao, thiếu thức ăn, thức ăn thiếu dinh dưỡng hay mất
cân bằng trong dinh dưỡng thường xãy ra hiện tượng tôm ăn thịt lẫn nhau.
Tôm ăn suốt ngày đêm, nhưng ăn mạnh vào ban đêm, ăn mạnh vào lúc
triều cao. Tôm thích ăn đáy và ăn ven bờ, khi lột xác, oxy hòa tan thấp, nhiệt
độ quá cao hay quá thấp sẽ làm chúng giảm ăn.
Tôm phát hiện và bắt mồi chủ yếu nhờ vào các cơ quan xúc giác nằm ở
đầu mút của râu, châu râu, phụ bộ miệng và càng. Tôm dùng càng cắt thức ăn
rồi đưa vào miệng, miệng và phụ bộ miệng cũng cắt mồi thành mảnh nhỏ thích
4
This is trial version
www.adultpdf.com

hợp trước khi nuốt. Ngoài ra các enzym tiêu hóa được tiết ra từ ruột giữa sẽ
giúp tiêu hóa thức ăn, các hệ vi sinh vật trong ruột tôm cũng có vai trò quan
trọng trong việc tạo ra các enzyme tiêu hóa.
2.1.5 Vòng đời phát triển của tôm sú
Vòng đời của tôm sú trãi qua một số giai đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu
trùng, ấu niên và trưởng thành.
Quá trình lột xác trãi qua các giai đoạn như: tiền lột xác, lột xác, hậu lột
xác, giữa chu kỳ lột xác với những diễn biến bao gồm
Sự kết dính giữa biểu mô và vỏ tôm bị lỏng lẻo ra-cơ thể nhanh chóng
rút ra khỏi vỏ cũ-cơ thể hấp thụ nước để nở rộng vỏ và lớn nhanh-cơ thể cứng
cáp lại nhờ chất khoáng và chất đạm. Do đó quá trình tăng trưởng của tôm
không liên tục mà có tính gián đoạn.
Quá trình lột xác của tôm chịu ảnh hưởng bởi hormone lột xác được tiết
ra từ cơ quan Y và hormone ức chế lột xác được tiết ra từ cơ quan X. Chu kỳ
lột xác là khoảng thời gian giữa hai lần lột xác kế tiếp nhau, chu kỳ lột xác
ngắn ở giai đoạn tôm con và dài ở giai đoạn tôm trưởng thành. Ngoài ra quá
trình lột xác của tôm chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: nhiệt độ, loài,
dinh dưỡng, môi trường nước.
Tuổi thọ của tôm cái cao hơn tôm đực (trong tự nhiên: cái 2 tuổi, đực
1,5 tuổi).
2.1.7 Yêu cầu chất lượng nước trong nuôi tôm
Theo Trần Ngọc Hải (2008) cho rằng để nuôi tôm đạt hiệu quả cao, các chỉ
tiêu lý hóa của môi trường nước nuôi tôm phải đạt các tiêu chuẩn sau:
- pH: 7,5-8,5.
- nhiệt độ: 25-30
0
C.
- Độ mặn thích hợp: 15-25‰
- Nitrite: < 0,1 mg/L.
- Amon: < 1 mg/L.
- H
2
S không có.
- Độ kiềm: 80-150 mg/L.
- DO: > 3 mg/L.
- Độ trong: 35-40 cm.

trị xuất khẩu. So với lục bình, cây năng tượng có nhiều ưu điểm như sợi dài dễ
thao tác hơn, không thay đổi màu sắc cả trong môi trường điều hòa nhiệt độ.
Mùa thu hoạch tốt nhất là sau khi năng tượng ra hoa (tháng 11-12) kéo dài đến
hết tháng 2, thu trong lúc này, năng tượng sẽ có độ dai rất cao và màu sáng
đẹp. Thu trễ hơn vào mùa khô thì nguyên liệu bị giòn ở phần ngọn và màu
không sáng. Ngoài ra, nếu thu trễ thì năng tượng hấp thụ một lượng muối cao
hơn do đó dễ làm sét rỉ các khung sản phẩm làm bằng sắt. Mỗi ký nguyên liệu
khô có giá từ 1.000 - 1.500 đồng, thấp hơn nguyên liệu lục bình (4.000-5.000
đồng/kg), (Dương Văn Ni, 2006).

7
This is trial version
www.adultpdf.com
Nước 2002 2004 Tăng trưởng
Tấn (%)/năm
Trung Quốc 27.767.251 30.614.968 5,0
Ấn Độ 2.187.189 2.472.335 6,3
Việt Nam 703.041 1.198.617 30,6
Thái Lan 954.567 1.172.866 10,8
Indonesia 914.071 1.045.051 6,9
Bangladesh 786.604 914.752 7,8
Nhật Bản 826.715 776.421 -3,1
Na Uy 545.655 674.979 11,2
Chi lê 550.209 637.993 7,7
Mỹ 497.346 606.549 10,4

Theo số liệu thống kê của Tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp Liên
Hiệp Quốc FAO (2004), sản lượng nuôi thuỷ sản thế giới đạt 59,4 triệu tấn,
thuỷ sản nuôi nước lợ chiếm 5,7% với sản lượng 3,4 triệu tấn. Trong tổng sản
lượng thuỷ sản nuôi nước lợ, sản lượng tôm chiếm 63,1% . Tôm vẫn được coi
là mặt hàng chiến lược, do giá trị mặt hàng này đạt xấp xỉ 19% tổng giá trị
thương mại thuỷ sản quốc tế.
Châu Á hiện là khu vực có nghề nuôi tôm biển phát triển nhất thế giới.
Các quốc gia có nghề nuôi tôm biển phát triển nhanh là Đài Loan, Thái Lan,
Trung Quốc và gần đây là Việt Nam (Bộ thủy sản, 2006). Châu Á tiếp tục dẫn
9
This is trial version
www.adultpdf.com

đầu thế giới về sản lượng tôm nuôi. Năm 2003, sản lượng tôm nuôi của châu
Á là 1,35 triệu tấn, chiếm 86% tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu
Theo Đình Nam (2007) tôm thẻ chân trắng đang chiếm tới 2/3 tổng sản
lượng tôm nuôi toàn thế giới. Ở châu Á, trong giai đoạn từ 2001-2006, tôm sú

triển nhanh chóng cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90. Nuôi tôm trở thành
một ngành quan trọng của Việt Nam. Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4
tỷ USD đã đưa Việt Nam trở thành một trong 10 cường quốc xuất khẩu thủy
10
This is trial version
www.adultpdf.com

sản trên thế giới. Năm 2004 sản lượng tôm nuôi đạt mức 290.797 tấn, đóng
góp 1.028 triệu đô la Mỹ vào kim nghạch xuất khẩu thủy sản (Bộ thủy sản
2005).
Thuận lợi cho sự phát triển nghành thủy sản Việt Nam trên thị trường
thế giới là khi hiệp định thương mại Việt-Mỹ ký kết vào cuối năm 2001 mở ra
triển vọng xuất khẩu thủy sản vào Mỹ, kế đến là khối liên minh Châu Âu (EU)
tiếp tục công nhận nhiều cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện xuất hàng vào
thị trường EU tạo ra cơ hội và thách thức cho thủy sản Việt Nam cũng như
ĐBSCL.
Tôm sú (Penaeus monodon) là loài nuôi quan trọng nhất và chiếm ưu
thế trong các mô hình nuôi thủy sản ven biển Việt Nam hiện nay. Trong năm
2008, tôm sú đóng góp 1,5 tỉ USD, chiếm hơn 33% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu thủy sản. (Bộ Nông Nghiệpvà PTNT, 2008)
Năm 2006, Bộ Thủy sản đã cho phép nuôi bổ sung tôm thẻ chân trắng
tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận nhưng cấm nuôi tôm này ở các
tỉnh ĐBSCL. Trước đề nghị của VASEP và nhu cầu thực tế thị trường, tháng
12/2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục tổ chức một hội
thảo khoa học về con tôm này tại Tp.HCM. Ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư
ký VASEP, cho rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển tôm thẻ chân
trắng nếu nhập tôm giống bố mẹ sạch bệnh và kiểm soát chặt quá trình nhập
khẩu. Khi đó, nông dân sẽ có thêm sự lựa chọn cho ao nuôi của mình, còn
doanh nghiệp có điều kiện đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm từ con tôm
(Đình Nam, 2007).

sạch bệnh, đảm bảo về chất lượng hơn là số lượng, tuy năng suất thấp nhưng
giá cả lại cao. Đặc biệt ở ĐBSCL khái niệm nuôi tôm sinh thái đang được
nhắc đến. Đó là mô hình nuôi tạo ra con tôm sạch bệnh, thân thiện với môi
trường, không sử dụng thuốc và hóa chất như: nuôi tôm kết hợp với rừng ở Cà
Mau, mô hình này đã hình thành vào năm 1978 và đang phát triển trong tương
lai và được xem là mô hình nuôi thủy sản truyền thống của Việt Nam, các mô
hình khác như tôm-lúa ở (Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,…), tôm-năng ở Bạc
Liêu, Cà Mau. Đặc điểm chung của các mô hình này là: mật độ nuôi thấp, tận
dụng nguồn thức ăn tự nhiên, khả năng cải thiện môi trường của đối tượng kết
hợp, lợi dụng diện tích lớn, nuôi thưa, hạn chế sử dụng thuốc và hóa chất.
2.3.4 Xu hướng phát triển nghề nuôi tôm
Ngày nay nhu cầu về chất lượng cuộc sống của con người ngày càng
cao, người ta không những ăn no đủ mà còn phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm. Vì thế tiêu chuẩn nhập khẩu sản phẩm thủy sản ngày một khắt khe hơn
nhằm đáp ứng thị trường tiêu thụ, từ đó việc nuôi thủy sản an tàn được quan
tâm đặc biệt, có một số hình thức nuôi thủy sản an toàn sau đây (Nguyễn Tử
Cường và ctv, 2004):
GAP (Good Aquaculture Practices): Qui phạm thực hành nuôi thủy sản
tốt.
CoC (Code of conduct for responsible aquaculture): Quy tắc ứng xử
nghề cá có trách nhiệm.
BMP (Better Management Practices in Aquaculture): Thực hành nuôi
thủy sản tốt hơn.
12
This is trial version
www.adultpdf.com

BAP (Best Aquaculure Practices): Qui phạm thực hành nuôi thủy sản
tốt nhất.
CoP (Code of Practices for Responsible Shrimp Farming): Qui tắc thực

13
This is trial version
www.adultpdf.com

nitơ vô cơ hòa tan, 38,1% phốt-pho, 66% chlorophyll, 56% chất lơ lửng từ
nguồn của ao nuôi tôm. Bên cạnh đó ta có thêm thu nhập về rong (6 tấn/vụ
nuôi). Như vậy, mô hình này giúp người nuôi tận dụng được diện tích canh
tác, hạn chế chi phí, tránh được ô nhiễm và tăng nguồn thu nhập.
(Nguồn:
article&sid=144)
2.4.2 Nghiên cứu mô hình nuôi tôm kết hợp với vẹm xanh và bào ngư
Để phát triển nghề nuôi thủy sản một cách bền vững các nhà khoa học
thủy sản đã nghiên cứu mô hình nuôi thủy sản kết hợp với thực vật và động
vật hai mảnh vỏ nhằm tạo ra sự cân bằng về mặt môi trường. Cụ thể là mô
hình nuôi khép kín gồm cá, vẹm, rong biển. Trong đó tảo sẽ hấp thu chất dinh
dưỡng từ phân của cá rồi vẹm sẽ lọc tảo để làm thức ăn, rong biển thì hấp thu
phân thải của vẹm, cuối cùng ta dùng vẹm cho cá ăn, tạo nên một chuỗi thức
ăn trong thủy vực, nhờ đó tạo sự cân bằng trong môi trường sống, tạo sự bền
vững lâu dài cho mô hình nuôi (Brzeski và Newkirk, 1997 trong Nguyễn Hữu
Khánh và Thái Ngọc Chiến, 2008).
Mô hình nuôi tôm hùm kết hợp với vẹm xanh, bào ngư và rong sụn đã
được thử nghiệm ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3. Kết quả cho thấy
mô hình nuôi ghép có lợi hơn so với nuôi đơn (chỉ tôm hùm) cả về khía cạnh
môi trường và kinh tế. Các chỉ tiêu về BOD, nitrite, nitrate trong môi trường
nước ở lồng nuôi ghép thấp hơn so với nuôi đơn. Tương tự, hàm lượng nitơ và
phospho tổng số trong nền đáy ở nghiệm thức nuôi ghép cũng thấp hơn so với
nuôi đơn. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ghép cao hơn nuôi đơn, lợi nhuận
thu được tăng 42,44% trong khi chi phí đầu tư chỉ tăng thêm 16,42%, tổng chi
phí sản xuất tăng 39,37% (Nguyễn Hữu Khánh và Thái Ngọc Chiến, 2008).


trong vòng khoảng 2 tháng đến khi đạt trọng lượng 10g/con thì tiến hành bố trí
thí nghiệm. Tôm sú được nuôi riêng trong bể composite 2000 lít . Nguồn tôm
bắt từ trại giống Minh Thuận (Cần Thơ) với các tiêu chuẩn chọn lựa như: đồng
cỡ, màu sắc sáng bóng, phản ứng nhanh khi có tiếng động,
3.1.5 Thức ăn
Dùng thức ăn Tom Boy để nuôi tôm.
15
This is trial version
www.adultpdf.com

3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp
lại 3 lần.
- Nghiệm thức 1: trồng 3 kg năng tượng/bể 0,5 m .
3
- Nghiệm thức 2: trồng 2 kg năng tượng/bể 0,5 m .
3
- Nghiệm thức 3: trồng 1 kg năng tượng/bể 0,5 m .
3


Hình 3.2: Ba nghiệm thức trồng năng
3.2.2 Chăm sóc và quản lý
Cho tôm ăn ngày 4 lần (7h , 11h , 16h , 21h) bằng thức ăn công nghiệp
với liều lượng 5%-10% trọng lượng tôm. Hằng ngày che mưa các bể năng để
tránh nước mưa rơi vào làm sai lệch lượng nước và ảnh hưởng đến chất lượng
nước.

17
This is trial version
www.adultpdf.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status