1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HỒ CHÂU PHƯƠNG QUANG KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRÊ VÀNG LAI
( Clarias macrocephalus x C. gariepinus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRÊ VÀNG LAI
( Clarias macrocephalus x C. gariepinus) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. PHẠM MINH THÀNH
Cần Thơ, 1.2009
iiLỜI CẢM TẠ
Trong khoảng thời gian thực hiện đề tài vừa qua, tuy gặp không ít khó khăn vướng
mắc nhưng với sự giúp đỡ và động viên của gia đình, thầy cô, bạn bè đã giúp tôi
vượt qua tất cả để hoàn thành đề tài.
Do đó, lời đầu tiên tối xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, là chỗ dựa tinh
thần, vật chất trong suốt thời gian thực hiện đề tài và 4 năm học đã qua.
Chân thành cảm ơn thầy Phạm Minh Thành đã hết lòng chỉ dẫn trong việc định
hướng nghiên cứu, bổ trợ kiến thức và đính chính tài liệu. Đồng thời cũng cảm ơn
thầy về những tình cảm tốt đẹp đã dành cho tôi.
Kế đến xin cảm ơn chú Phạm Trọng Sơn - chủ trại giống nơi thực hiện đề tài, bác
Thái Thân – chủ DNTN nuôi trồng thủy sản Phong Linh, bác Đoàn Văn Năm –
chủ trại giống Năm Nu, bác Phan Tòng Thư – chủ trại giống Ba Thư, bác Nguyễn
Minh Hiển – chủ trại giống Mười Lùn, dì Nguyễn Thị Chính đã hổ trợ hết mình về
1.3. Đặc điểm sinh trưởng 4
1.4. Đặc điểm sinh sản 5
2. Kỹ thuật nuôi vỗ 5
2.1. Ao nuôi vỗ 6
2.2. Mùa vụ nuôi vỗ 7
2.3. Mật độ thả nuôi cá bố mẹ 7
2.4. Thức ăn trong quá trình nuôi vỗ 8
2.5. Chăm sóc và quản lý ao nuôi vỗ 8
3. Kỹ thuật sinh sản 9
3.1. Phân biệt đực cái và chọn cá bố mẹ thành thục 9
3.2. Kích thích cá sinh sản 10
3.3. Thụ tinh nhân tạo 11
3.4. Ấp trứng 11
4. Kỹ thuật ương cá bột lên cá giống 12
4.1. Ương ao đất 12
4.2. Ương trong bể xi măng bể bạt 13
Chương III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
1. Nuôi cá bố mẹ 15
1.1. Điều kiện ao nuôi cá bố mẹ 15
1.2. Thả nuôi cá 15
1.3. Chăm sóc và quản lý 16
iv
1.3.1. Chế độ cho ăn 16
1.3.2. Quản lý ao cá 16
2. Kích thích cá sinh sản 17
2.1. Lựa chọn cá than thục 17
2.2. Kích dục tố sử dụng 17
2.3. Phương pháp thụ tinh cho cá 17
3. Ấp trứng 18
4. Sinh trưởng của cá tại ao ương 27
4.1. Tốc độ sinh trưởng của cá 27
4.2. Tỷ lệ sống 27
Chương V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 29
5.1. Kết luận 29
5.2. Đề xuất 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
vi
thống sông ngòi chằng chịt, đa dạng về loại hình thủy vực, đó chính là những điều
kiện hết sức thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Trong những năm vừa qua ngành
thủy sản ở đây đã phát triển mạnh mẽ gia tăng không ngừng cả về diện tích và sản
lượng, về loại hình canh tác. Cùng với tôm sú, cá tra là mặt hàng thủy xuất khẩu
chủ lực. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu 260.000 tấn cá
tra thành phẩm, với khối lượng xuất khẩu như vậy đã tạo ra lượng phế phụ phẩm
rất lớn và nó chính là nguồn thức ăn chính, rẻ tiền thay thế cá biển cho nghề nuôi
cá trê lai thịt. Chính vì lẽ đó mà sự phát triển của con cá tra đã kéo theo sự phát
triển của con cá trê lai. Cá trê lai có những đặc tính nổi trội như: dễ nuôi, khả năng
chịu đựng tốt với môi trường khi nuôi với mật độ cao, ăn tạp tất cả các loại phế
phụ phẩm đông lạnh và nông nghiệp, mau lớn, chất lượng thịt tương đối
ngon….Nên nó đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến, từ nuôi công nghiệp mật độ
cao cho đến tận dụng các mương vườn quanh nhà.
Nghề nuôi cá thịt phát triển đòi hỏi phải có nguồn con giống lớn, chất lượng để
cung ứng. Hơn nữa cá trê là đối tượng truyền thống, đã sinh sản nhân tạo thành
công từ những năm 70-80 của thế kỷ trước, quy trình sinh sản đã cơ bản hoàn
chỉnh nhưng với mỗi tác giả lại có những luận điểm khác nhau trong kỹ thuật sản
xuất. Tuy nhiên, năng suất-chất lượng-hiệu quả kinh tế mới là yếu tố sống còn của
trại giống trong thời buổi kinh tế thị trường.
Đề tài vì vậy được thực hiện.
Mục tiêu: Thu thập them dẫn liệu về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá trê
vàng lai, góp phần làm cơ sở cho việc cải tiến kỹ thuật đang được áp dụng hiện
nay ở ĐBSCL. Mặt khác thông qua đề tài góp phần rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp
trong NTTS.
Nội dung nghiên cứu:
- Theo dõi nuôi cá bố mẹ: theo dõi các chỉ tiêu môi trường, tỷ lệ thành thục.
- Kích thích cá sinh sản: sử dụng HCG, LRH+DOM, LRH+não thùy.
- Ấp trứng: sử dụng phương pháp khử dính và ấp bằng bình Jazz.
- Ương cá con.
1995). Ngoài ra cá trê vàng cũng được tìm thấy trong các con sông lớn và vừa, các
thủy vực nước chảy chậm như: kinh rạch, cánh đồng ngập nước ở sông Mêkong
(Taki, Y., 1978).
Cá trê Phi ( Clarias gariepinus), có nguồn gốc từ châu Phi, được De Krimpe,một
nhà nghiên cứu nuôi cá người Pháp nhập vào Việt Nam vào đầu năm 1975
(Nguyễn Tường Anh, 2004).
TheoTrương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) loài có thể nhận diện bằng
các đặc điểm sau: mấu xương chẩm có dạng tam giác, chiều rộng của mấu xương
chẩm tương đương với chiều cao của nó. Các xương hai bên mấu xương chẩm kéo
dài ra phía sau làm sau mép sau của xương sọ có dạng M, trong khi ở cá trê vàng
3
hai bên xương chẫm không phát triển. Gốc vi đuôi có một vạch màu trắng nằm vắt
ngang.
Cá có râu mũi dài đến tận gốc vây lưng, có 4 đôi râu. Phân bố tự nhiên rộng khắp
châu Phi, từ sông Nile cho đến Tây Phi, từ Angieri cho đến Nam Phi, nó cũng
được tìm thấy ở ở châu Á như: bắc Thỗ Nhĩ Kỳ, Syria, Israel (Gertjan de Graaf and
Hans Janssen,1996).
Sống ở các sông, đầm, hồ lớn ở châu Phi. Đến mùa mưa ngược lên thượng lưu các
vùng ngập nước ở ven sông để sinh sản.
Dựa vào các đặc tính nổi trội về tăng trưởng trên năm 1983 người ta đã tiến hành
lai tạo giữa cá trê Phi đực và cá trê vàng cái tạo ra loài cá trê lai lớn nhanh, thịt
ngon màu sắc hấp dẫn, có thể nuôi 2-3 vụ/năm (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng
Khuyến, 2000).
Thừa kế những đặc điềm di truyền của cả bố mẹ nên cá trê vàng lai F1
(C.macrocephalus x C.gariepinus) có màu vàng xám hoặc nâu vàng xám, da trơn
nhẵn. Đầu dẹp, thân tròn và dẹp về phía đuôi. Bụng có màu vàng nhạt. Cơ thể lốm
đốm nhiều bong cẩm thạch và nhiều chấm trắng nhỏ theo chiều thẳng đứng với
thân cá. U lồi xương chẫm có hình dạng tương tự như chữ M với các cạnh tròn
trong thức ăn từ 20-30%, còn đối với cá thịt từ 10-15% (Đoàn Khắc Độ,2008).
Cá trê có tập tính hay trú ở men bờ và bốn góc ao. Do đó phải rải đều thức ăn ở
bốn mé ao, góc ao và ở giữa ao để cá được ăn đồng đều, tránh hiện tượng chúng
tranh giành thức ăn (Đoàn Khắc Độ,2008).
Khi nuôi thịt có thể nuôi ghép cá trê ( cá trê Phi, cá trê vàng lai, cá trê vàng) với
các loài cá khác như: cá rô phi, chép, trắm cỏ, trôi. Các loài cá này sẽ ăn hết thức
ăn dư thừa trong ao giúp cải thiện môi trường nước (Đoàn Khắc Độ,2008).
1. 3. Đặc điểm sinh trưởng:
Sinh trưởng là sự gia tăng về kích thước, về khối lượng cơ thể sinh vật theo thời
gian, là kết quả của trao đổi chất. Cơ sở vật chất cho sinh trưởng là các chất dinh
dưỡng trong thức ăn mà cá tiếp nhận từ môi trường nước (Phạm Minh Thành và
Nguyễn Văn Kiểm, 2008). Những loài cá khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác
nhau. Cá có kích thước lớn thì tuổi thọ cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, thời gian
sinh trưởng kéo dài hơn những loài có kích thước nhỏ. Trong cùng một loài thì tốc
độ sinh trưởng của cá thay đổi qua các giai đoạn trong một chu kỳ sống.
Theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến (2000), cá trê vàng lớn 1 tuổi, thân dài
20,5cm, nặng 70g. Cỡ cá lớn 2 tuổi, thân dài 35cm, nặng 250g. Cỡ cá lớn nhất đợt
điều tra ở ĐBSCL dài 45cm, nặng 495g. Cá trê vàng chậm lớn, thịt thơm ngon,
hay phá bờ và trèo đi lúc trời mưa.
Tốc độ tăng trưởng của cá trê vàng ở mức trung bình. Ở giai đoạn cá bột lên cá
giống, cá tăng nhanh về chiều dài. Khi đạt kích cỡ từ 15cm trở lên thì trọng lượng
của cá tăng nhanh hơn (Đoàn Khắc Độ,2008).
Cá trê Phi có tốc độ lớn nhanh, 6 tháng đạt bình quân 1kg/con, cơ thể to sản lượng
cao. Thân thường dài 35-50cm, nặng 250-2500g, có con 2 tuổi lớn nhất đạt 4,3kg,
thân dài 63cm. Cá đẻ trong năm 3 tháng tuổi có thể đạt thương phẩm. Thịt mềm,
đang được nuôi nhiều ở châu Phi, Hà Lan, CH Czech, ở Trung Quốc nuôi đạt 20-
40kg/m
2
(Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000).
Theo Đoàn Khắc Độ (2008) thì cá trê vàng lai tăng trọng rất nhanh, nếu nuôi với
Cá trê vàng không thể tự sinh sản, phải tiêm kích dục tố để kích thích sự sinh sản
của chúng. Cá trê vàng đẻ trứng tương đối nhiều, trung bình 30.000-50.000
trứng/1kg cá cái (Đoàn Khắc Độ,2008).
Cũng giống như các loài cá khác, cá trê Phi thành thục sinh dục và sinh sản theo
mùa mưa. Quá trình thành thục sinh dục chịu ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ
và chu kỳ chiếu sáng hàng năm và cuối cùng là đẻ trứng do sự gia tăng mực nước
theo lượng mưa (Gertjan de Graaf and Hans Janssen, 1996)
Đối với cá trê Phi, sinh sản kéo dài từ tháng 4-10, sinh sản tập trung từ tháng 5-8,
sau tháng 10 cá ít sinh sản. Giới hạn nhiệt độ nước cho quá trình sinh sản từ 20-
36
o
C, cá trê Phi được nuôi vỗ tích cực và có nước chảy kích thích thì chu kỳ đẻ
trứng rút ngắn xuống còn từ 15-20 ngày, mỗi năm cá có thể tham gia sinh sản 8-
11 lần (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000).
Trong tự nhiên cá trê chọn nơi có bống tối ở các thủy vực nước nông thuộc sông
hồ, các con suối để làm tổ và đẻ trứng (Gertjan de Graaf and Hans Janssen, 1996).
2. Kỹ thuật nuôi vỗ:
Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất cá giống.
Chất lượng đàn cá sinh sản có tính quyết định đến hiệu quả sản xuất vì tỉ lệ cá
thành thục, số lượng trứng thu được, chất lượng cá bột, có liên quan chặt chẽ đến
kỹ thuật nuôi vỗ (Nguyễn Văn Kiểm,2007). Trong quá trình nuôi vỗ, không những
cho cá ăn đầy đủ cả về chất lẫn về lượng, chăm sóc quản lý tốt mà còn phải tạo
6
một môi trường nhân tạo gần giống với môi trường sống của cá ngoài tự nhiên.
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) các yếu tố bên ngoài tạo nên môi trường cho sự
phát triển của tuyến sinh dục.
Sự thành thục và khả năng sinh sản của cá bố mẹ là kết quả tác động của nhiều yếu
tố thuộc về sinh học và sinh lý. Đáng chú ý hơn là những đặc trưng sinh học cơ
lại bờ ao, sang lấp hang, lỗ mọi. Rải vôi bột xuống đáy ao và bờ ao để diệt trừ
mầm bệnh, liều lượng sử dụng 7-10kg/100m
2
.Phơi nắng đáy ao từ 1-2 ngày. Đối
với những nơi đất có nhiều phèn thì không nên phơi đáy ao nứt nẻ, sẽ dẫn đến xì
phèn. Sau đó dẫn nước vào ao rồi tháo nước ra để lọc ao. Khi ao đã sạch thì cấp
nước vào cho đạt yêu cầu. Lưu ý là nước dẫn vào ao phải qua một lưới chắn để
không cho cá dữ, các loại địch hại và rác rưởi vào ao. Đến đây thì ao đã sẵn sàng
để thả cá bố mẹ.
7
2.2. Mùa vụ nuôi vỗ:
Cơ sở của việc xác định mùa vụ nuôi vỗ, được căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó
mùa vụ sinh sản tự nhiên của đối tượng là quan trọng nhất. Cá có thời gian sinh
sản nhất định trong năm nhằm đảm bảo sự tồn tại, sinh trưởng phát triển của trứng,
phôi, ấu trùng và con non dưới tác động của các yếu tố môi trường.
Các yếu tố sinh thái sinh sản trong tự nhiên có biến đổi có quy luật theo mùa. Đó
là nguyên nhân hình thành đặc điểm sinh học sinh sản theo mùa của cá (Phạm
Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2008).
Theo Phạm Minh Thành (2005) thì hầu hết các loài cá nuôi ở khu vực ĐBSCL đều
bắt đầu nuôi vỗ vào tháng 10,11. Do vậy nên mùa vụ nuôi vỗ cá bố mẹ để sản xuất
giống cá trê vàng lai thường bắt đầu từ tháng 11 âm lịch hàng năm (Đoàn Khắc
Độ,2008). Theo Bạch Thị Quỳnh Mai (2004) mùa vụ sản xuất giống nhân tạo cá
trê vàng lai bắt đầu từ tháng 2 âm lịch, khi cá trê vàng (Clarias macrocephalus)
bắt đầu mang trứng và kéo dài đến hết tháng 9 âm lịch.
2.3. Mật độ thả nuôi cá bố mẹ
Mật độ cá thả là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả nuôi. Có rất
nhiều vấn đề chi phối mật độ cá bố mẹ được thả nuôi. Trong số đó, giữ vai trò chủ
đạo là hàm lượng oxy hòa tan (đối với những loài cá không có cơ quan hô hấp
Thức ăn không chỉ là nguồn vật chất cho sinh trưởng, năng lượng cho sự trao đổi
chất mà còn là nguyên liệu cho sự phát triển của noãn hoàng, tinh sào. Khi môi
trường thiếu thức ăn sự thành thục của cá bị ảnh hưởng xấu như: hệ số thành thục,
tỷ lệ thành thục thấp, đặc biệt mức độ phát triển không đồng đều của noãn bào
cũng như khả năng rối loạn thành thục của cá tăng lên mặc dù các điều kiện sống
của môi trường thuận lợi (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Những cá trong thời kỳ tạo
noãn hoàng nếu bị đói trong thời gian dài thì buồng trứng có thể thoái hóa và tiêu
biến. Chế độ dinh dưỡng tốt có thể làm cho cá phát dục, thành thục và sinh sản
sớm ( Nguyễn Tường Anh, 1999).
Có hai loại thức ăn cho cá đó là thức ăn tự chế biến và thức ăn viên công nghiệp.
Thức ăn tự chế biến thì chi phí rẻ nhưng hàm lượng dinh dưỡng không ổn định,
khó bảo quản. Thức ăn công nghiệp thì có hàm lượng dinh dưỡng, dễ cho ăn, dễ
bảo quản nhưng giá thành đắt. Hầu hết người nuôi cá trê đều sử dụng thức ăn chế
biến để giảm bớt chi phí.
Theo Đoàn Khắc Độ (2008) đề nghị công thức tự chế thức ăn là: cám gạo (75%),
bột cá (24%), premix khoáng và vitamin (1%). Tất cả được trộn đều nấu chin để
nguội vò thành viên và để xuống sàn cho cá ăn. Ngoài ra cũng nên cho cá ăn them
các loại phụ phẩm như: đầu tôm, ruột sò, ruột gà, ruột vịt, cá phân xay
nhuyễn…Thức ăn viên công nghiệp chọn loại có hàm lượng đạm từ 20-22%.
Theo Dương Nhựt Long (2003) thì thành phần thức ăn phải có hàm lượng đạm cao
vì thế lượng bột cá chiếm 30-40%, cám gạo 40%, bột đậu nành 20-30%. Ngoài ra
có thể sử dụng thêm cá phế phẩm lò mổ, nhà máy chế biến thủy sản, cá tạp xay
nhuyễn 1 lần/tuần.
2.5. Chăm sóc và quản lý ao nuôi vỗ
Trong quá trình nuôi vỗ cá trê mỗi ngày cho cá ăn hai lần, khẩu phần ăn đối với
thức ăn tự chế là 5-8% trọng lượng cá trong ao, đối với thức ăn công nghiệp là 2-
3% ( Đoàn Khắc Độ, 2008).
Theo Dương Nhựt Long (2003) thì cá trê rất háu ăn và thời gian tiêu hóa thức ăn
khá nhanh vì thế nên cho cá ăn nhiều lần trong ngày. Lượng thức ăn hàng ngày là
1.5-3% trọng lượng cá nuôi. Theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến (2000) khẩu
Theo Nguyễn Tường Anh (2004) thì tất cả các loài cá trê hiện có ở nước ta, cơ
quan sinh dục ngoài của con đực và con cái có sự khác biệt về hình thái tương đối
rõ ràng. Phần cuối của ống niệu sinh dục của cá đực phía ngoài thân giống như gai
nhọn. Ở cá cái lỗ sinh dục hình tròn.
Theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến (2000), cá trê cái có mấu sinh dục ngắn
và tròn, phần nhô ra phía sau rất nhỏ, thường có màu đỏ nhạt. Lỗ niệu ở phía sau
gai sinh dục. Con đực có mấu dài hình tam giác phía đầu mấu nhọn và nhỏ, phần
nhô ra phía sau rất dài, thường có màu trắng hay màu vàng nhạt, mùa sinh sản có
màu đỏ nhạt, lỗ tiết niệu ở cuối.
Thông thường cá sẽ thành thục và đủ khả năng sinh sản sau 3-4 tháng nuôi vỗ. Khi
cá đã thành thục ta dễ dàng phân biệt được cá đực cá cái dựa vào hình dạng bên
ngoài. Cá đực có gai sinh dục nhọn. Cá cái do mang trứng nên bụng hơi lớn, lỗ
sinh dục có màu hồng nhạt (Đoàn Khắc Độ, 2008). Cá đực thành thục tốt có gai
sinh dục phát triển nổi bật, có tập tính hung hăng. Mỗi khi chạm vào cá đực quẫy
mạnh và nhiều hơn cá khác. Cá cái thành thục tốt có bụng to, mỏng mềm, phần
ngoài lỗ sinh dục hơi cương, có thể tiết ra trứng khi nặng nhẹ ở vùng bụng gần lỗ
sinh dục ( Nguyễn Tường Anh, 2004).
Nếu chưa thành thạo xác định mức độ thành thục của cá cái, người ta có thể lấy
mẫu trứng để khảo sát. Cá cái đã thành thục tốt phải có những hạt trứng đạt kích
thước tới hạn, rời, các mao mạch trên nang trứng nhỏ hoặc không còn thấy được
và quan trọng nhất là có trên 60% hạt trứng đã lệch tâm, tức là nhân noãn bào
không còn nằm ở giữa nữa ( Nguyễn Tường Anh, 2004). Theo Đoàn Khắc Độ
10
(2008) trứng cá trê vàng thành thục có kích cỡ đồng đều, màu vàng nâu, đường
kính khoảng 1-1.2mm. Trứng có tính dính, có thể bám vào bất kì vật thể nào.
3.2. Kích thích cá sinh sản:
Trong sản xuất cá giống để kích thích cá đẻ đồng loạt, tỷ lệ cá đẻ cao nhằm thu
được số lượng trứng lớn thì việc tiêm hormone kích thích cá sinh sản là cần thiết
(Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2008).
(2000) thì thời gian hiệu ứng của thuốc phụ thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ càng
11
xuống thấp thời gian hiệu ứng càng kéo dài ra, thông thường trứng rụng sau khi
tiêm liều quyết định từ 10-15 giờ ở nhiệt độ 27-31
o
C.
Vị trí tiêm tốt nhất là cơ lưng phía trước, trên đường bên, dưới vây lưng của cá.
Thể tích dung dịch thuốc mỗi lần tiêm không quá 1ml (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng
Khuyến, 2000).
Sauk hi tiêm xong giữ cá trong các dụng cụ thau nhựa, bể xi măng…Mực nước
vừa ngập thân cá và đậy kín cẩn thận tránh cá nhảy ra ngoài.
3.3. Thụ tinh nhân tạo:
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2008), thụ tinh nhân tạo là con
người chủ động cho trứng và tinh trùng (tinh dịch) tiếp xúc để tiến hành thụ tinh.
Hình thức này thường thu được tỷ lệ thụ tinh cao do xác suất gặp gỡ của tinh trùng
và trứng cao.
Quá trình thụ tinh nhân tạo được thực hiện theo trình tự: lấy trứng cá cái - mỗ lấy
tinh dịch cá đực - cho trứng thụ tinh - ấp trứng.
Sau khi tiêm cá 16-18 giờ tùy theo nhiệt độ của nước có thể kiểm tra mức độ rụng
trứng của cá để định giờ vuốt trứng. Khi kiểm tra thấy trứng rụng nên chờ 30-45
phút sau (chờ trứng rụng đồng loạt) thì vuốt trứng. Trứng được vuốt vào dụng cụ
khô sạch (Nguyễn Văn Kiểm, 2007).
Đối với cá trê, không thể thu tinh dịch của cá đực bằng phương pháp vuốt bụng
hoặc dùng bơm tiêm, mà phải mổ mới lấy được tinh dịch (Đoàn Khắc Độ, 2008).
Mỗi cá đực thành thục tốt có thể thụ tinh cho 3-5 cá cái. Bắt cá đực mổ lấy hai
buông tinh cắt nhỏ nghiềm trong cối sứ, thêm nước muối sinh lý (3-5ml tùy theo
lượng trứng vuốt ra), đổ dung dịch này vào trứng, đảo đều 1-2 phút để thụ tinh.Sau
đó trộn trứng với dung dịch thụ tinh đã chuẩn bị trước (4g NaCl + 3g Urea + 1l
nước cất) khoảng 30-40 phút, sau đó đem trứng đi ấp (Nguyễn Văn Kiểm, 2007).
1.5% theo tỉ lệ 1:1 trong thời gian 3-4 giây, sau đó rửa bằng nước thường. Làm
như vậy cho đến khi hết dính. Khi ấp trứng bằng phương pháp này phải bố trí sục
khí hoặc cho nước chảy liên tục để tránh trứng chìm xuống đáy. Một bình Weys
thể tích 8 lít có thể ấp được 0.4-0.6kg trứng tương đương với 800.000 trứng. Khi
cá nở xong phải chuyển cá ra các bồn có diện tích lớn hơn
4. Kỹ thuật ương cá bột lên cá giống:
Khi cá bột tiêu thụ hết nguồn dinh dưỡng dự trữ (noãn hoàng) thì phải tiến hành
ương cá bột lên cá giống. Cá bột có thể được ương trong ao đất, trong bể xi măng
hoặc trong bể bạt. Trong mỗi trường hợp thì mật độ nuôi thả, thức ăn và cách
chăm sóc cũng có phần khác nhau. Việc ương nuôi nếu thực hiện đúng biện pháp
kỹ thuật thì sẽ cho ra con giống có chất lượng tốt.
4.1. Ương trong ao đất:
Theo Bạch Thị Quỳnh Mai (2004) thì để tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch cá
giống, cần phải chuẩn bị ao ương theo tiêu chuẩn như sau:
Ao có diện tích từ vài trăm đến 1000m
2
là tốt nhất. Mực nước trong ao từ 1-1.2m.
Đáy ao phải dốc về phía bọng thoát nước.
Nên đào một cái hố tròn trước bọng thoát nước, đường kính khoảng 2-3m, sâu
khoảng 0.5m. Và từ 2 bờ ao, đào một cái rãnh ( rộng khoảng 1-1.5m, sâu khoảng
0.2 – 0.3m về phía hố tròn).
Phải xử lý ao thật kỹ trước khi thả cá bột. Tùy theo ao cũ, ao mới mà có cách xử lý
khác nhau. Đối với ao mới đào rải vôi bột đáy ao, bờ ao liều lượng sử dụng
khoảng 15kg/100m
2
. Ao cũ thì tát cạn, diệt tạp bằng dây thuốc cá liều từ 3-
5kg/1000m
2
, rải vôi với liều khoảng 30kg/100m
2
Phải định kỳ thay nước ao để cải thiện môi trường nước, giúp cá khỏe mạnh và
phát triển tốt. Ngoài ra cần phải có biện pháp phòng bệnh cho cá, cách đơn giản
được nhất là bổ sung thêm vitamin C, premix vào thức ăn hàng ngày (Đoàn Khắc
Độ, 2008).
Trong điều kiện môi trường ao nuôi thuận lợi, đầy đủ thức ăn thì sau 2 tuần cá đạt
kích cỡ 4-6 cm. Lúc này có thể thu hoạch cá giống.
4.2. Ương trong bể xi măng, bể bạt
Bể có diện tích từ 2-20m
2
, độ sâu mực nước khoảng 40-60 cm. Cần xử lý bể thật
kỹ trước khi thả cá, đối với bể mới xây cần ngâm bể từ 10-12 ngày mới sử dụng
được. Với bể cũ thì phải chà rửa sạch sẽ, tạt nước vôi đều trong bể và thành bể rồi
phơi nằng một ngày để diệt khuẩn. Sau đó bơm xả nước vài lần để làm sạch bể
(Đoàn Khắc Độ, 2008)
Đối với bạt thì chuẩn bị như sau, trên nền đất muốn làm bể ương, tiến hành đào
những cái bể nhỏ (kích cỡ khoảng 3x4, 4x6 hoặc 5x5m). Sang bằng rồi đổ cát vào
trải đều. Thiết kế một cái khung gôc với bốn cái cọc đóng chặt ở bốn góc bể để
làm sườn trải bạt. Dùng một tấm bạt dày, không bị lỗ mọt, kích cỡ vừa với khung.
Trải bạt vào khung và nẹp các thanh gỗ cho chắc chắn (Bạch Thị Quỳnh Mai,
2004).
Sau khi đã chuẩn bị xong thì tiến hành bơm nước vào bể. Mực nước trung bình 30-
40cm. Nguồn nước phải được lắng lọc,xử lý đối với nước sông và nước ao, nước
14
máy thì phải bơm vào bể trước 1 ngày giảm bớt Clo, nước giếng bơm vào bể trước
2 ngày.
Theo Dương Nhựt Long (2003) thì có thể ương cá bột trong bể với mật độ 5.000-
10.000 con/m
2
. Sau đó san thưa ra các bể khác khi cá lớn. Theo Đoàn Khắc Độ 15
Chương III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nuôi cá bố mẹ:
1.1. Điều kiện ao nuôi cá bố mẹ:
Đối với nghề nuôi cá nói chung và sản xuất giống thủy sản nói riêng, việc lựa chọn
địa điểm để đào hay xây dựng trại luôn gắn liền với nhu cầu hằng ngày là nguồn
nước. Tốt nhất là ao được liên hệ gần gũi với nguồn nước sông ( càng gần sông
càng tốt), vấn đề này đặc biệt quan trọng với ao nuôi cá bố mẹ, những loài có xuất
xứ từ sông (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2008).
Bên cạnh nguồn nước tốt phục vụ cho sản xuất thì cảnh quan của ao nuôi vỗ cũng
đóng một vai trò khá quan trọng, bờ ao và mặt ao thông thoáng sẽ giúp cho ao tiếp
nhận tốt nguồn ánh sang mặt trời làm gia tăng hàm lượng oxy hòa tan do quang
hợp, kích thích tuyến nội tiết hoạt động thúc đẩy sự thành thục của cá.
Cá bố mẹ được nuôi tại 3 ao có điều kiện như bảng 1.
Bảng 1: Điều kiện ao nuôi cá bố mẹ
Ao số Hình dạng Diện tích (m
2
)
Độ sâu (m) Bùn đáy (m)
1
Chữ nhật 500 1.1 0.30
2
Chữ nhật 300 1.2 0.25
3
1.3 Chăm sóc và quản lý:
1.3.1 Chế độ cho ăn:
Tại cơ sở sản xuất sử dụng thức ăn nuôi cá bố mẹ hiệu UP 26% đạm. Thức ăn
dạng viên có kích thước 4mm. Hàng ngày cho ăn 1 lần vào 8h-9h sang. Khẩu phần
ăn thay đổi theo tháng nuôi. Cụ thể là:
Tháng 11 cho ăn 5% tổng trọng lượng cá trong ao
Tháng 12 cho ăn 4%
Tháng 1 trở đi 3%
Riêng cá đã sinh sản thì được nuôi riêng, cho ăn 5% tổng trọng lượng cá.
1.3.2. Quản lý ao cá:
Công việc quản lý cá chủ yếu là theo dõi hoạt động của cá. Hàng ngày theo dõi
cường độ ăn, dấu hiệu bệnh lý. Đồng thời định kỳ thay nước ao theo chế độ thủy
triều 2 lần/ tháng vào những kỳ con nước lớn ( nước rằm và nước ba mươi).
Lượng nước thay qua ống bọng chiếm 20-30% tổng lượng nước ao. Đàn cá bố mẹ
được chăm sóc quản lý như trên phát triển tốt, cá không có dấu hiệu bệnh lý.
17
2. Kích thích cá sinh sản
2.1. Lựa chọn cá thành thục:
- Đối với cá cái: bụng to, mềm đều, lỗ sinh dục có màu hồng. Khi vuốt bụng thì
chảy ra ít trứng, trứng phải có màu sắc đặc trưng vàng nâu, kích thước các hạt
trứng đồng đều, rời rạc, nhân đã lệch tâm (phân cực).
- Đối với cá đực: bụng thon, rắn chắc, gai sinh dục dài.
2.2. Kích dục tố sử dụng:
Tại cơ sở sản xuất chỉ sử dụng 1 loại kích thích tố là LRH kết hợp với DOM. Tuy
nhiên, trong quá trình thực tập chúng tôi có xin phép cơ sở cho sử dụng thêm HCG
cho việc bố trí thí nghiệm để so sánh vấn đề sử dụng kích thích tố cụ thể trong báo
cáo này. Các nghiệm thức như sau: