TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN DƯƠNG THỊ CẨM LIÊN KHẢO SÁT CÁC MÔ HÌNH
NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus) Ở TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. NGUYỄN THANH LON
G
iiTÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (Anabas testudineus) ở tỉnh Đồng
tháp” được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2009 ở ba huyện Cao Lãnh,
Tháp Mười và Lai Vung tỉnh Đồng Tháp. Đề tài đã phỏng vấn trực tiếp 33 hộ
nuôi cá rô đồng trong ao đất và 33 hộ nuôi cá rô đồng trên ruộng theo mẫu soạn
sẳn với những nội dung về kết cấu mô hình nuôi, khía cạnh kỹ thuật, hiệu quả
kinh tế và nhận thức của người dân v
ề các mô hình này. Qua kết quả khảo sát cho
thấy nghề nuôi cá rô đồng đang được phát triển mạnh ở tỉnh Đồng Tháp. Diện
tích đất trung bình sử dụng ch mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất là 0,51±0,36
ha/hộ và trên ruộng là 1,57±1,89 ha/hộ. Mùa vụ nuôi chủ yếu là mùa lũ từ tháng 4
đến tháng 8 hằng năm. Năng suất bình quân của mô hình nuôi cá rô đồng trong ao
đất là 43.225,3±19.189,4 kg/ha/năm và trên ao ruộng là 23.927,6±8.519,5
kg/ha/năm. Tổng chi phí cho mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất là 741±416
triệu đồng/ha/năm và trên ruộng là 453±216 triệu đồng/ha/n
ăm. Và lợi nhuận
trung bình của mô hình nuôi trong ao và trên ruộng lần lượt là 493±400 triệu
đồng/ha/năm và 246±332 triệu đồng/ha/năm. Khi thực hiện mô hình nuôi cá rô
đồng trong ao đất và và mô hình nuôi cá rô đồng trên ruộng, người nuôi thường
gặp nhiều khó khăn nhất về chi phí và giá cá rô đồng thương phẩm. Cần đề ra các
giải pháp để khắc phục nhằm phát triển nghề nuôi cá rô đồng bền vững về lâu dài
như nâng cao chất lượng con giống, nâng cao trình độ kỹ thuậ
t, nâng cấp hệ thống
2.7.2 Đặc điểm hình thái 7
2.7.3 Đặc điểm phân b
ố 8
2.7.4 Dinh dưỡng 8
2.7.5 Tăng trưởng 9
2.7.6 Sinh sản 9
2.7.7 Kỹ thuật nuôi cá rô đồng 10
2.8 Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá rô đồng 10
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
iv
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 12
3.2 Phương pháp nghiên cứu 12
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 12
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 12
3.2.3 Số mẫu khảo sát 14
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 14
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Tình hình nghề nuôi cá rô đồng ở tỉnh Đồng Tháp 16
4.2 Một số thông tin chung về hộ nuôi cá rô đồng 17
4.2.1 Về trình độ văn hoá của người nuôi 17
4.2.2 Lao động trong mô hình cá rô đồng 18
4.2.3 Kinh nghiệm nuôi cá rô đồng 18
4.3 Khía cạnh kỹ thuật nuôi của mô hình nuôi cá rô đồng 19
4.3.1 Kết cấu ao nuôi 19
4.3.2 Mùa vụ nuôi 20
4.3.4 Khía cạnh kỹ thuật các mô hình nuôi cá rô đồng 21
4.3.5. Chất lượng giống cá rô đồng 25
4.3.6. Thức ăn sử dụng trong các mô hình nuôi 26
vi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1 Diện tích nuôi cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 - 2008 (ha) .16
Bảng 4.2 Sản lượng cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 đến - 2008 (tấn) 17
Bảng 4.3 DT, SL, NS cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2008 (tấn/ha) 17
Bảng 4.4 Số lao động trong mô hình nuôi cá rô đồng 18
Bảng 4.5 Kinh nghiệm nuôi cá rô đồng của nông hộ 19
Bảng 4.6 Cơ cấu và diện tích đất của nông hộ 20
Bảng 4.7 Mùa vụ nuôi cá rô đồng 20
Bảng 4.8 Số lần sên vét ao nuôi 21
Bả
ng 4.9 Các chỉ tiêu thả giống 23
Bảng 4.10. Năng suất cá rô đồng thu được ở hai mô hình nuôi 24
Bảng 4.11. Chế độ thay nước trong mô hình nuôi cá rô đồng 28
Bảng 4.12 Xử lý nước cấp vào ao nuôi 29
Bảng 4.13. Chi phí cố định của các mô hình nuôi cá rô đồng 31
Bảng 4.14. Chi phí biến đổi ở các mô hình nuôi cá rô đồng .32
Bảng 4.15 Tổng chi phí của mô hình nuôi cá rô đồng 33
Bảng 4.16 Chi phí, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của hai mô hình 35
Bảng 4.17 Khía cạnh môi trường 36
viii
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Giới thiệu
Với diện tích mặt nước ngọt hơn 600.000 ha, Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) được xem là vùng có tiềm năng lớn về nuôi thủy sản nước ngọt, đặc
biệt là nghề nuôi cá. Nghề cá nước ngọt ở ĐBSCL trong những năm qua đã có
1
1.2 Mục tiêu của đề tài
Khảo sát hiện trạng các mô hình nuôi cá rô đồng nhằm cung cấp thông tin làm cơ
sở cho việc phát triển nghề nuôi cá rô đồng ở tỉnh Đồng Tháp.
1.3 Nội dung nghiên cứu
− Khảo sát hiện trạng các mô hình nuôi cá rô đồng;
− So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nghiên cứu;
− Nhận thức của người nuôi cá rô đồng tại địa bàn nghiên cứu. 2
CHƯƠNG 2
ựng mặt bằng đòi hỏi kinh phí cao nhưng lại rất phù hợp cho sản
xuất lượng thực.
Tài nguyên rừng: Trước đây ở Đồng Tháp Mười được bao phủ bởi rừng rậm, cây
tràm và coi là đặc thù của Đồng Tháp Mười. Mặt khác, do khai thác không hợp lý
đã làm giảm đến mức báo động và gây nên mất cân sự bằng sinh thái. Ngày nay,
diện tích rừng tràm chỉ còn dưới 10.000 ha nhưng động vật, thực vật rừng rấ
t đa
dạng như: Rắn, rùa, cá, tôm, trăn, cò và đặc biệt là sếu cổ trụi. Theo số liệu thống
3
kê năm 1999, rừng tràm với diện tích là 8.912 ha phân bổ chủ yếu ở huyện Tam
Nông, Tháp Mười, Cao Lãnh còn rừng bạch đàn với diện tích là 144 ha ở huyện
Tân Hồng. Số lượng cây phân tán được tăng dần qua các năm, bình quân mỗi
năm trồng mới khoảng 3 triệu cây, đến 2002 toàn tỉnh đạt khoảng 64 triệu cây
phân tán các loại.
Tài nguyên nước: Đồng Tháp Mười ở đầu nguồn sông Cửu Long nên có nguồn
nước mặt khá dồi dào, ngu
ồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn. Ngoài
ra còn có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ
ra sông Tiền ở Hồng Ngự. Phía Nam còn có sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng,
sông Sa Đéc,… hệ thống kênh rạch chằng chịt.
2.1.3 Khí hậu
Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới toàn tỉnh,
có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến
tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong nă
m là 82,5%, số giờ nắng trung bình
là 6,8 giờ/ngày. Lượng mưa trung bình từ 1.170 đến 1.520 mm, tập trung vào
mùa mưa, chiếm từ 90% đến 95% lượng mưa cả năm. Đặc điểm khí hậu này
tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp (nguồn:
).
2.2 Tình hình nuôi thủy sản ở trên thế giới
cả. Riêng đối với cá rô đồng có đầu ra ổn định, có quy hoạch cho từng vùng nuôi,
tuy nhiên sản lượng còn thấp nên chưa đáng lo ngại về đầu ra. Với giá cả cá hấp
dẫn, việc đào ao nuôi ồ ạt khả nă
ng sẽ ảnh hưởng đến môi trường nước xung
quanh đó là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, các hộ nuôi cần phải có ao lắng lọc để
giữ môi trường chung, đảm bảo vùng nuôi được lâu dài an toàn dịch bệnh (nguồn:
).
2.4 Tình hình nuôi cá rô đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long
Cá rô đồng là loài cá sống trong môi trường nước ngọt ở vùng nhiệt đới và khả
năng thích nghi của chúng đối với môi trường sống rất tốt, đặt biệt là cá có thể hô
hấp bằng khí trời nhờ cơ quan hô hấp phụ, nên có thể tồn tại và phát triển trong
điều kiện môi trường bất lợi ở ngoài tự nhiên (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu
Hương, 1993). Song, cá rô đồng là đối tượng dễ nuôi, có chất lượng thịt thơm
ngon, không có xương dăm và có giá trị thương phẩm cao. Theo thông kê của Sở
Nông Nghiệp tỉnh Cần Thơ năm 1997 thì cá rô đồng đang được chú ý nuôi theo
nhiều hình thức khác nhau như nuôi trong ao, ruộng, bè,… đặc biệt là nuôi thâm
canh trong ao đất. Riêng tỉnh Cần Thơ chỉ mới áp dụng nuôi cá rô đồng vào năm
1997 với diện tích khoảng 4,9 ha, năm 1998 với diện tích là 27,5 ha, năm 2001
với di
ện tích là 150 ha và 6 tháng đầu năm 2002 diện tích giảm còn 86,7 ha. Năm
2002 diện tích nuôi có giảm so với năm 2001 là do các hộ nuôi cá rô đồng không
có lợi nhuận. Theo kết quả nghiên cứu năm 2002 chỉ có khoảng 50% số hộ nông
dân nuôi cá rô đồng không có lợi nhuận vì chi phí thức ăn cho cá quá cao (Tạp
chí khoa học thủy sản, 2006a). Hiện nay, cá rô đồng là một trong những đối
tượng thủy sản quan trọng đã và đang nuôi phổ biến ở các tỉnh vùng ĐBSCL, gần
đây còn phát triển nhiều ở Miền Đông Nam Bộ (Dương Nhựt Long, 2007).
5
2.5 Tình hình nuôi cá rô đồng ở Đồng Tháp
Với địa hình có diện tích mặt nước lớn thì ngành thủy sản ở tỉnh Đồng Tháp được
coi là thế mạnh thứ hai sau ngành trồng trọt. Nghề nuôi thủy sản phát triển rộng
nước trong ao thật tốt để phòng bệnh cho cá, nhất là ở giai đoạn giữa vụ nuôi trở
đi, vì lúc đó số lượng chất thải từ cá và các lớp tảo chết tích tụ dưới đáy ao rấ
t
nhiều. Biểu hiện dễ thấy nhất là khi độ pH lớn hơn 7,0 (pH tốt nhất cho cá rô
đồng là từ 6,5-7,0). Vì vậy trong suốt quá trình nuôi, cần chú ý sử dụng các chất
xử lý nền đáy như ziolite hoặc các loại men vi sinh
Từ những kinh nghiệm của người nuôi cá rô đồng, không chỉ cá rô mà các loại cá
khác cũng vậy, nên cần phải sắp xếp mùa vụ làm sao để tránh xuất ao vào các
tháng 8, 9, 10 âm lịch. Vì đây là thời gian cá tự nhiên được khai thác nhiề
u nên
6
giá cá ở ngoài thị trường không cao. Tốt nhất là nuôi cá trong chính thời gian này,
vừa có nguồn nước tốt, vừa có nguồn thức ăn tự nhiên để bước sang tháng 11 âm
lịch khi đã hết cá tự nhiên, cũng là lúc cá trong ao vừa đúng lứa, thu hoạch lúc
này là tốt nhất vì có giá bán cao. Nghề nuôi cá rô đồng thành công đã góp phần
tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân ở Đồng Tháp Mười (nguồn:
).
2.7 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố
2.7.1 Đặc điểm phân loại
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá rô đồng có hệ
thống phân loại như sau:
Ngành : Vertebrata
Lớp : Osteichthyes
Bộ : Perciformes (cá vược)
Bộ phụ: Anabantoidei
Họ : Anabantidea
Giống : Anabas
Loài : Anabas testudineus (cá rô đồng).
2.7.2 Đặc điểm hình thái
Cá rô đồng có thân hình bầu dục, dẹp bên, cứng chắc, chiều dài chuẩ
ợp để sinh sống (Vương Dĩ Khang, 1962).
Đây là loài cá phân bố khá phổ biến trong hầu hết các thủy vực ở Đồng bằng Bắc
bộ và Đồng bằng Nam bộ nước ta nhưng miền núi gặp rất ít (Mai Đình Yên,
1983).
2.7.4 Dinh dưỡng
Cá rô đồng là loài cá ăn tạp thiên về động vật. Thức ăn của chúng là các loài động
vật không xương sống như: Thủy sinh hay các loài côn trùng bay trên không khí
đến các loài tảo như spyrogyra,… (Trương Th
ủ Khoa và Trần Thị Thu Hương,
8
1993). Ngoài ra, cá còn ăn các loại thức ăn như thóc, tấm, cám gạo, cá tạp,… khi
phân tích thức ăn trong dạ dày cá rô đồng người ta thấy có 19% giáp xác, 3,5%
côn trùng, 6% nhuyễn thể, 9,5% cá, 47% thực vật và 16% vật chất ít tiêu hoá. pH
trong dạ dày cá rô đồng khoảng từ 5,9 đến 6,58 (Phượng, 2002, trích dẫn bởi
Nguyễn Văn Long, 2004).
Cá rô đồng lúc nhỏ ăn thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, khi lớn cá ăn cả động vật
và thực vật. Ngoài ra cá có thể ăn được nhi
ều loại thức ăn khác nhau, từ những
thức ăn cá nguồn gốc động vật tới những thức ăn có nguồn gốc thực vật. Tuy có
phổ thức ăn rộng, nhưng cá rô là loài cá có tốc độ tăng trưởng chậm. Cá rô đồng
ngoài tự nhiên sau một năm tuổi đạt trọng lượng khoảng từ 50 g đến 60 g đối với
cá đực và từ 50 g đến 80 g đối cá cái (Phạm Vă
n Khánh, 1999). Trong ao nuôi có
bổ sung thêm thức ăn (như con ruốc, bột cá, cám,…) sau 3 tháng cá đạt trọng
lượng từ 30 g/con đến 35 g/con; sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60 g/con
đến 100 g/con. Nhưng theo Mangklamana (1986) thì cá rô đồng có tốc độ tăng
trưởng từ 0,5 đến 0,9 g/ngày khi nuôi trong ao đất có bổ sung thức ăn (Phượng,
2002, trích dẫn bởi Nguyễn Văn Long, 2004).
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Thanh Phương
(2002), trong nuôi cá rô mức cho ăn thích hợp nhất đố
trong ao từ 200 m
2
trở lên hoặc trên ruộng có diện tích từ 2.000 m
2
đến 3.000 m
2
độ sâu khoảng từ 1 đến 1,5 m; mật độ nuôi 30 con/m
2
và cho ăn thức ăn tự chế
(cám gạo hoặc tấm 35%, cá tạp, phế phẩm, ốc,… 30%, bánh dầu 15%, rau xanh
20% và khoáng premix, vitamin 1%). Có thể cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp
thì hàm lượng đạm tổng cộng là từ 22% đến 25%, cho ăn từ 2% đến 3% trọng
lượng thân. Mặt khác, có thể cho cá ăn luân phiên cả hai loại thức ăn trên, tháng
đầu cho cá ăn thức ăn viên, từ tháng thứ 2 đến tháng thứ tư cho cá ăn thức ăn t
ự
chế, đến tháng cuối cho cá ăn trở lại thức ăn viên nhằm kích thích cá tăng trọng
nhanh để bán.
Trong quá trình nuôi cá rô đồng phải thường xuyên thay nước cho cá, không để
nước quá dơ, xanh đậm hoặc có mùi hôi. Khi cá bị bệnh phải ngưng cho cá ăn và
thay nước mới, phải thương xuyên kiểm tra bờ, cống bọng, phát hiện địch hại như
rắn, cá lớn vào ăn hại cá và tìm cách diệt chúng (Khánh và Loan, 2004).
Theo trích dẫn của Lê Văn Tính (2003) thì Doolgindachabaporn (1994)
đã thử
nghiệm nuôi cá rô đồng trong ao sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cho cá ăn đạt
năng suất khoảng 100 kg/1.000 m
2
sau 3 tháng nuôi. Theo Báo cáo con tôm số
90/07-2003 thì kết quả nuôi thâm canh cá rô đồng trong ao của ông Đặng Văn Vị
ở Trà Vinh có diện tích 3.600 m
11
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
− Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009.
− Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại các huyện Cao Lãnh,
Tháp Mười, Lai Vung thuộc tỉnh Đồng Tháp.
− Đối tượng nghiên cứu: Mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất và trên
ruộng.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Phiếu phỏng vấn các hộ nuôi cá rô đồng trong ao đất và trên ruộng.
3.2.2 Phương pháp thu thập số
liệu
Số liệu thứ cấp
+ Khối lượng thu hoạch.
+ Kích cỡ thu hoạch.
- Chi phí cố định:
+ Chi phí mua đất.
+ Chi phí thuê đất.
+ Chi phí đào ao.
+ Xây cống, hệ thống cấp nước.
+ Chi phí xây nhà phục vụ sản xuất.
- Chi phí biến đổi:
+ Chi phí sên vét.
+ Chi phí cải tạo ao, vôi.
+ Tổng chi phí con giống.
+ Tổng chi phí thức ăn.
+ Tổng chi phí thuốc và hoá chất.
+ Chi phí kiểm dịch con giống.
13
+ Chi phí khác.
+ Tổng chi phí.
- Tổng thu
+ Sản lượng cá thương phẩm bán ra.
+ Giá cá thương phẩm.
- Hình thức phân phối sản phẩm
- Nhận thức của người nuôi cá rô đồng:
+ Hiệu quả kinh tế của gia đình.
+ Môi trường.
+ Nguồn lợi.
- Những thuận lợi và khó khăn
3.2.3 Số mẫu khảo sát
Qua phương pháp thu mẫu định ngạch theo địa bàn nghiên cứu và trực tiếp phỏng
vấn nông hộ nuôi theo số
15
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình nghề nuôi cá rô đồng ở tỉnh Đồng Tháp
Theo số liệu đã thu thập từ các huyện thì năm 2008 tỉnh Đồng Tháp có 6 huyện
phát triển nghề nuôi cá rô đồng với tổng diện tích khoảng 225 ha, trong đó, huyện
có diện tích nuôi cá rô đồng lớn nhất là huyện Tháp Mười với 185 ha và huyện có
diện tích nuôi cá rô đồng nhỏ nhất là huyện Lấp Vò với 0,12 ha. Riêng huyện
Tháp Mười có diện tích nuôi cá rô đồng trên ruộng là 62 ha, chiếm 33,5% diện
tích nuôi cá rô đồng c
ủa huyện (Chi cục BVNLTS Đồng Tháp, 2008).
Hiện nay, các huyện trong tỉnh đang có xu hướng phát triển phong trào nuôi cá rô
đồng với mức độ ngày càng cao, một số huyện có diện tích nuôi cá rô đồng chiếm
tỷ lệ như: Cao Lãnh (4,47%), Tháp Mười (82,4%), Tam Nông (0,48%), Lai Vung