khả năng sử dụng cám gạo lên men làm thức ăn cho artemia - Pdf 10

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN LÊ HỒNG NGHI KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM GẠO LÊN MEN
LÀM THỨC ĂN CHO ARTEMIA

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM GẠO LÊN MEN
LÀM THỨC ĂN CHO ARTEMIA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
NGUYỄN VĂN HÒA

2009
iLỜI CẢM TẠ iiTÓM TẮT
Đề tài tập trung đánh giá khả năng sử dụng cám gạo ủ men (Saccharomyces
ceverisiae) làm thức ăn cho Artemia. Các hàm lượng (HL) men dùng để ủ cám
gồm: 0,5; 0,7; 1; 1,2; 1,5 và 2 ppm (có hoặc không có bổ sung đường). Kết quả
cho thấy, HL men từ 0,5 – 1ppm khá thích hợp để sử dụng cho việc ủ cám thông
qua độ nở, hiệu quả sử dụng và mùi thơm đặc trưng của cám ủ.
Trong thí nghiệm thứ hai về ảnh hưởng của cám gạo ủ men lên sinh trưởng và phát
triển của quần thể Artemia cho thấy: 1) Cả 6 loại cám ủ men đều có thể sử dụng
làm thức ăn cho Artemia tuy nhiên HL men 0,7- 1 ppm, không đường nên được
chọn để sử dụng vì cho tỷ lệ sống (TLS) cao nhất (52,7-55,8 %), phù hợp nuôi
sinh khối Artemia ở các thể tích lớn (lượng sinh khối thu đạt 23,8-25,1 g sinh khối
tươi/10 L).
Vào ngày nuôi thứ 14, cám ủ men không đường khi sử dụng làm thức ăn cho
Artemia thì cho TLS khá ổn định giữa các lần lặp lại (độ lệch chuẩn biến thiên từ
0,7-5,3), cao hơn (từ 39,7-55,8%) nhưng cho tăng trưởng chậm hơn (từ 5,96-5,99
mm) so với cám ủ men có đường (từ 6,02-6,69 mm). Ngược lại, cám ủ men có
đường thì có TLS biến động giữa các lần lặp lại (độ lệch chuẩn biến thiên từ 3,3-
7,7) và thấp hơn (từ 38,1-46,5 %), tuy nhiên lại có tăng trưởng tốt hơn so với ủ
men thông thường.
iii

MỤC LỤC

MỤC LỤC iii

3.6. Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
3.6.1. Thí nghiệm 1: Xác định hàm lượng (HL) men và đường
thích hợp để ủ cám gạo 16
3.6.2. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của cám gao ủ men lên sinh
trưởng và phát triển của quần thể Artemia 17
3.7. Phương pháp làm thức ăn và cách cho ăn 18
3.8. Chế độ chăm sóc 19
3.9. Phương pháp thu thập số liệu 20
3.9.1. Các yếu tố môi trường 20
iv

3.9.2. Các chỉ tiêu khác 20
3.10. Thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia 21
3.11. Phương pháp phân tích số liệu 21
Phần 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 22
4.1. Thí nghiệm 1: Xác định hàm lượng (HL) men và đường thích
hợp để ủ cám gạo 22
4.1.2. Độ nở thức ăn 22
4.1.2. Hiệu quả sử dụng 23
4.2. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các loại cám ủ lên tỉ lệ sống
của Artemia 24
4.2.1. Điều kiện môi trường 24
4.2.2. Ảnh hưởng của các loại cám ủ lên tỉ lệ sống của Artemia 26
4.2.3. Chiều dài (mm) 27
4.2.4. Mật độ và thành phần quần thể 28
4.2.5. Năng suất sinh khối 33
4.2.6. Sức sinh sản 34
4.2.7. Phương thức sinh sản 35
4.3 Thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia 36
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 37

tuần nuôi 49
Bảng 4.10: Mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở NT III trong
5 tuần nuôi 50
Bảng 4.11: Mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở NT IV
trong 5 tuần nuôi 50
Bảng 4.12: Mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở NT V trong
5 tuần nuôi 50
Bảng 4.13: Mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở NT VI
trong 5 tuần nuôi 50
Bảng 4.14: Mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở NT VII
trong 5 tuần nuôi 51
Bảng 4.15: Khối lượng sinh khối Artemia sau 5 tuần nuôi 33
Bảng 4.16: Sức sinh sản trung bình ± ĐLC của Artemia (số phôi/con cái) 34
Bảng 4.17: Tỷ lệ (%) ± ĐLC con cái mang túi ấp đẻ Nauplii và cyst 531
Bảng 4.18 : Kết quả TLS (%) của Artemia và khối lượng sinh khối (g) của
Artemia sau 14 ngày nuôi 36

vi

Hình 4.9: Biến động mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở
NT III trong 5 tuần nuôi 30
Hình 4.10: Biến động mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở
NT IV trong 5 tuần nuôi 31
Hình 4.11: Biến động mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở
NT V trong 5 tuần nuôi 31
Hình 4.12: Biến động mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở
NT VI trong 5 tuần nuôi 31
Hình 4.13: Biến động mật độ (con/L) và thành phần quần thể Artemia ở
NT VII trong 5 tuần nuôi 32
Hình 4.14: Khối lượng sinh khối Artemia sau 5 tuần nuôi 33
Hình 4.15: Tỷ lệ (%)±ĐLC con cái mang túi ấp đẻ Nauplii và cyst 41
1

Phần 1
GIỚI THIỆU
Trong số những nguồn thức ăn tươi sống được sử dụng trong ngành nuôi trồng
thủy sản thì ấu trùng Artemia được sử dụng rất rộng rãi do những thuận tiện và giá
trị mà chúng mang lại. Không có gì ngạc nhiên khi khả năng đẻ trứng hay còn gọi
là bào nang (cyst) làm cho Artemia trở thành nguồn thức ăn tiện lợi và dồi dào
cho ấu trùng cá (Dhont, 1993). Sau khi thu hoạch và xử lý, trứng ở trạng thái tiềm
sinh có thể được trữ trong nhiều năm và đem ra sử dụng như là “nguồn thức ăn
tươi sống luôn có sẵn”. Sự thuận tiện và đơn giản của việc ấp làm cho Artemia trở
thành nguồn thức ăn tươi sống thuận tiện nhất trong ngành chăn nuôi thủy sản (Ts
Frank Marini - nguồn www.advancedaquarist.com). Ngoài ra, Artemia là loại thức
ăn giàu dinh dưỡng và giàu lượng acid béo không bão hòa (HUFA).
Trong thực tế thức ăn tươi sống có nguồn gốc động vật là loại thức ăn cung cấp
nhiều năng lượng vì nó chứa nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu góp phần nâng cao
tỷ lệ sống của các đối tượng thuỷ sản mà thức ăn chế biến không thể đáp ứng tốt.
Artemia có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, 40-70% protein, 10-30% lipid, nhiều

nghề nuôi Artemia.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của cám gạo ủ men (Saccharomyces cerevisiae) và hiệu
quả sử dụng của nó khi làm thức ăn cho Artemia và thấy được tác dụng của việc
thêm đường trong quá trình ủ cám nhằm kích thích sự phát triển của vi khuẩn, từ
đó đưa ra một công thức ủ cám với hàm lượng men và lượng đường thích hợp
nhằm tăng khả năng sử dụng đối với Artemia.
Nội dung nghiên cứu
o Xác định hàm lượng men (Saccharomyces cerevisiae) và đường tốt nhất để
ủ cám làm thức ăn cho Artemia.
o Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sống, sự phát triển của quần thể,
sức sinh sản và lượng sinh khối thu của Artemia khi sử dụng cám gạo ủ
men với các hàm lượng khác nhau.
3

Phần 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
A. Artemia là gì?
2.1. Đặc điểm phân loại
Theo Nguyễn Văn Hoà và ctv. (2007), Artemia là tên Latin của một loại giáp xác
nhỏ chuyên sống ở những vùng nước mặn có biên độ muối rộng (từ vài %o đến
250 %o như ruộng muối), có tên và vị trí trong hệ thống phân loại như sau:
Ngành: Arthropoda.
Lớp: Crustacea.
Lớp phụ: Branchiopoda.
Bộ: Anostraca.
Họ: Artemiidae.

chúng là do người, chim hoặc là gió tạo ra mà tiêu biểu là loài Artemia
franciscana (đại diện cho loài Artemia Tân thế giới) đã được sử dụng rộng
rãi để thả nuôi ở nhiều ruộng muối trên khắp các lục địa.
Hình 2.1: Bản đồ phân bố Artemia trên thế giới
(nguồn www.Palaeos.com/Invertebrates/Crustacea.html)
2.3. Đặc điểm môi trường sống
Các quần thể Artemia trong tự nhiên phân bố không liên tục mà thành từng vùng
Artemia có thể sinh sống tốt trong nước biển tự nhiên (độ muối 35 %o), nhưng
chúng không thể phát tán ngang qua biển do có quá nhiều loài cạnh tranh và địch
hại (tôm, cá, copepode….). Vì thế Artemia phân bố chủ yếu ở vùng nước có độ
mặn cao (trên 70 %o) để hạn chế kẻ thù. Chúng có thể sống ở độ mặn gần bão hòa
(250 %o). Sự thích nghi của chúng với độ mặn cao theo một cơ chế bao gồm:
Hệ thống điều hòa thẩm thấu tốt.
Khả năng tổng hợp các sắc tố hô hấp cao nhằm thích ứng với tình trạng oxy
thấp ở nơi có độ mặn cao.
Khả năng sản xuất trứng bào xác khi môi trường bất lợi.
S
ự phân bố
Artemia
trên th
ế giới

5
Hình 2.2: Lược đồ sự phát triển của quần thể Artemia trên ruộng muối (theo


Hình 2.4 : Vòng đời của Artemia (theo Sorgeloos et al., 1980)
Trứng bào xác
Con cái mang trứng bào xác
hoặc ấu trùng Nauplii
Bắt cặp
Ấu trùng mới nở
Ấu trùng qua
các giai đoạn lột
xác

Artemia
trưởng thành
7

Ngoài tự nhiên, Artemia đẻ trứng bào xác nổi trên mặt nước và được sóng gió thổi
dạt vào bờ. Các trứng nghỉ này ngưng hoạt động trao đổi chất và ngưng phát triển
khi được giữ khô. Nếu cho vào nước biển hoặc khi điều kiện tự nhiên thuận lợi
(nhiệt độ ấm áp, mưa nhiều độ mặn giảm ), trứng bào xác có hình cầu lõm sẽ hút
nước phồng to. Lúc này, bên trong trứng sự trao đổi chất bắt đầu hoạt động (Vos
và Rosa, 1980). Sau khoảng 20h, màng nở bên ngoài nứt ra và phôi xuất hiện.
Phôi được màng nở bao quanh trong khi phôi đang treo bên dưới vỏ trứng, sự phát
triển của ấu trùng tiếp tục và một thời gian ngắn sau đó màng nở bị phá vỡ và ấu
thể Artemia được phóng thích ra ngoài.

con cái có đôi buồng trứng nằm ở hai bên ống tiêu hoá sau các chân ngực.
Hình 2.8: Artemia cái và đực
(www.novalex.com/kordon/Frozen_Brine_Shrimp index2htm&63
2.5. Đặc điểm môi trường sống và dinh dưỡng
Động vật này có tập tính sống trôi nổi, bơi lội tự do trong môi trường nước mặn,
có đặc tính ăn lọc không chọn lọc (Reeve, 1963) và chúng có thể sử dụng nhiều
loại thức ăn khác nhau (Sorgeloos et al., 1986). Ở giai đoạn ấu trùng chúng có thể
sử dụng thức ăn có kích cỡ 25-30 µm và 40-50 µm khi trưởng thành (Dobbeleir et
al., 1980), và chúng có khả năng lọc các vật chất lơ lửng trong nước (mùn bã hữu
cơ, vi khuẩn, tế bào tảo đơn bào). Ở phạm vi kích thước nhỏ hơn 50µm (Sorgeloos
et al., 1986). Chúng bắt mồi bằng cách dùng chân bơi đưa thức ăn từ dưới lên
miệng (trích dẫn từ Nguyễn Đại Khoa, 1999). Ở ruộng nuôi thức ăn cho Artermia
chủ yếu dựa vào việc bón phân gây màu tảo trực tiếp (trong ao nuôi) hoặc gián
tiếp (ao gây nuôi) (Rothis,1986). Ngoài ra chúng còn sử dụng các phụ phẩm như:
Con cái Con đực

9

bột đậu nành, cám gạo. Đặc biệt động vật này còn có khả năng chịu đựng những
điều kiện khắc nghiệt của môi trường như sự biến động lớn của các yếu tố: nhiệt
độ, hàm lượng oxy, nồng độ muối (Sorgeloos et al., 1980). Ở Việt Nam hiện nay
đang nuôi rộng rãi Artemia thuộc dòng Franciscana FSB (Mỹ), gần như loài này
đã được thuận hoá với môi trường nước ta, chúng có thể phát triển tốt trong điều
kiện:
 Độ mặn: 80-120 %o.
 Nhiệt độ: 22-35
o

thức sinh sản (phương thứ đẻ con = ovovivipaorus, phương thứ đẻ trứng =
ovipaorus) và trung bình mỗi con đẻ khoảng 1500-2500 phôi.
2.7. Quá trình di nhập
Ở Việt Nam Artemia được du nhập từ đầu thập niên 80 dưới dạng trứng bào xác
để làm thức ăn cho tôm càng xanh. Sau đó nguồn trứng này được sử dụng làm
giống nuôi thử nghiệm trong phòng và thả nuôi trong ruộng muối ở Vĩnh Châu,
Bạc Liêu, Cam Ranh, Phan Thiết…(Nguyễn Văn Hoà và ctv, 2007).
Mặc dù là đối tượng rất mới so với các nghề nông nghiệp khác ở vùng Đồng Bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL), nhưng với sự hình thành Trung Tâm Nghiên Cứu và
Phát Triển Artemia – Tôm Trường Đại học Cần Thơ, việc nghiên cứu ứng dụng
sản xuất Artemia ở vùng ĐBSCL được thực hiện một cách liên tục và có hệ thống.
Cùng với sự giúp đỡ, hợp tác về tài chính, kiến thức, kinh nghiệm của các đơn vị
nghiên cứu truyền thống về Artemia trên thế giới, đến khoảng năm 1990 thì Viện
Nghiên Cứu và Phát Triển Artemia – Tôm Đại Học Cần Thơ đã xây dựng và triển
khai ứng dụng “Quy trình kỹ thuật sản xuất Trứng và Sinh Khối Artemia trên
ruộng muối”. Thành công trong nghiên cứu và mở rộng ở nhiều vùng như ruộng
muối huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu. Nghề nuôi Artemia đã trở thành
quen thuộc và đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao (Nguyễn Kim Quang và ctv,
1993).
2.8. Tình hình sản xuất và sử dụng Artemia trên thế giới và Việt Nam
2.8.1 Thế giới
Phần lớn lượng trứng bào xác thu hoạch trên thế giới đều có nguồn gốc từ Great
Salt Lake (90%). Những năm trở lại đây nghề nuôi Artemia trên thế giới đang có
chiều hướng phát triển và mở rộng ra những địa bàn mới, cụ thể là ở khu vực
ruộng muối Brazil, sau những thành công bước đầu, sản lượng trứng bào xác bắt
đầu tụt giảm từ năm 1982 cho đến nay chưa cải thiện được. Ước tính lượng tiêu
thụ bào xác Artemia lên đến hàng nghìn tấn hàng năm (năm 1997, khoảng 6000
trại giống có nhu cầu tiêu thụ 1500 tấn trứng bào xác Artemia hàng năm) (Nguyễn
Văn Hoà và ctv., 2007).
Tuy nhiên, rất khó xác định được chính xác lượng trứng sản xuất do các thông tin

Giống: Saccharomyces
Loài: Saccharomyces ceverisiae

12Giống [Chi] Saccharomyces có khoảng 40 loài (van der Wart, 1970) và các loài
trong giống này được biết nhiều do chúng được
ứng dụng trong làm nổi bánh, bia, rượu,…, chúng
hiện diện nhiều trong sản phẩm có đường, đất,
trái cây chín, phấn hoa,…, còn trong công nghiệp
thực phẩm nấm men có nhiều ứng dụng rộng rãi
như men nổi bánh mì, bánh bao, bánh bò,… bia,
rượu, nước chát, nước trái cây lên men. Nấm men
có hình bầu dục gần tròn, kích thước khoảng 6-8
µm x 5-6 µm, vỏ tế bào cấu tạo bởi carbohydrate,
lipid, protein dầy khoảng 0.5 µm, màng tế bào
chất, tế bào chất, và nhân. Hình 2.10: Saccharomyces ceverisiae
(www.magma.ca/samat/yeast.htm)
Nấm men là nhóm dị dưỡng, nguồn thức ăn chính là đường (sucroz, glucoz,
fructoz…) và các nguyên tố khác, nhiều loài đặc biệt có thể sử dụng được tinh bột.
Nấm men sẽ tổng hợp enzim cần thiết để có thể sử dụng các nguồn cacbon trên và
cuối cùng là sản phẩm rượu và khí cacbonic.
nấm men
C
6
H

ctv., 1985). Đây là một đặc tính ưu việt của nấm men. Khoáng chất trong tế bào
nấm men chứa nhiều nguyên tố vi lượng như Fe, Mn, Ca,…(Nguyễn Lân Dũng và
ctv., 1982).
Nấm men là một sinh vật sống có khả năng tổng hợp các chất dinh dưỡng, tạo cho
thức ăn có mùi vị thon ngon kích thích vật nuôi thèm ăn, ăn nhiều va tiêu hóa tốt.
2.11. Làm giàu thêm đạm cho thực phẩm tinh bột và thức ăn gia súc
Để có thể đạt được nâng suất, ngoài phương pháp cho ăn, cách quản lý chăm sóc
của người nuôi thì thức ăn cho đối tượng nuôi phải có chất lượng tốt. Nâng cao giá
trị dinh dưỡng của nguyên liệu làm thức ăn trước khi chế biến là cách làm vừa đáp
ứng được nhu cầu của đối tượng nuôi vừa đem lại kết quả mong muốn cho người
nuôi.
Do có khả năng phân cắt vật chất cac-bon, nấm là hữu dụng trong việc nâng cao
giá trị dinh dưỡng của các sản phẩm phụ nông-công nghiệp sau chế biến, chẳng
hạn như tinh bột chứa trong chất cặn bã khoai lang (Yang et al.,1993), hoặc bã mía
đường cellulose (Moo-Young et al.,1992). Cho mục đích thêm vào các nguồn đạm
rẽ tiền như (NH4)
2
SO
4
và urea có thể biến đổi thành đạm vì thế làm giàu dinh
dưỡng thêm cho thức ăn.
2.12 Cám gạo
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, với truyền thống văn hóa Lúa Nước. Vì
vậy, sản lượng cám gạo ở Đồng Bằng sông Cửu Long gia tăng đáng kể, ước tính
có khoảng vài trăm ngàn tấn cám gạo trong năm và con số này sẽ còn tiếp tục gia
tăng trong những năm tiếp theo (Niên giám thống kê, 1997). Cám gạo là nguồn
phụ phẩm chính từ lúa gạo được sử dụng cho chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ngoài
ra, cám còn là nguyên liệu làm thức ăn cho tôm cá. Trong quy trình sản xuất thức
ăn cho tôm cá cám gạo được dùng như một nguyên liệu phối chế chủ yếu cung cấp
chất dinh dưỡng và làm giảm giá thành thức ăn do giá cám gạo thấp, đây là một

 Dụng cụ đo: nhiệt độ đo bằng nhiệt kế thuỷ ngân, cây đo độ măn, máy đo
pH.
 Hệ thống sục khí: máy sục khí, đá bọt, van điều chỉnh.
 Kính hiển vi có thước đo kích thước, đèn neon 40 w.
 Cân điện tử, đĩa petri.
 Cốc thuỷ tinh, xô nhựa, vợt, ca.
 Tủ sấy.
 Hóa chất: Formol, Chlorine (bột tẩy), Javel (NaOCl), ThiosulfatNatri
(Na
2
S
2
O
3
), lugol.
 Một số dụng cụ và trang thiết bị khác.
3.2. Nguồn trứng giống Artemia: trứng Artemia Franciscana dòng Vĩnh
Châu.
3.3. Nguồn nước
 Nước ngọt: sử dụng nguồn nước máy.
 Nước mặn có nguồn gốc từ nước ót có nồng độ muối khá cao (100%o) được
pha loãng xuống 80%o với nước ngọt.
3.4. Thức ăn
Thức ăn cho Artemia là cám gạo lên men (với các hàm lượng men khác nhau, có
và không có bổ sung thêm đường).
3.5 Thời gian và địa điểm
Thời gian: 2 tháng (từ tháng 04/2009-06/2009).
Địa điểm: Trại thực nghiệm – Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ.
16



b. Thí nghiệm về hiệu quả sử dụng:
 Cân 5 g cám đã ủ (12 NTx3 lần lặp lại) và cám gạo bình thường (3lần lặp
lại) vào 39 đĩa cân. Sau đó đem các mẫu này để vào lưới 50µm rửa dưới vòi
nước cho tới khi không thấy hạt cám lọt qua lưới nữa (nước trong).
 Cân (W) phần còn lại của cám ở trên lưới và sấy khô ở 60
o
C trong 24 giờ
cân trọng lượng sau sấy (D) để xác định độ ẩm.

 Công thức tính độ ẩm:
Ẩm độ (%)= 100*
T
W
DW



Trong đó:
W (g): trọng lượng ướt
D (g): trọng lượng khô
T (g): trọng lượng đĩa cân
 Công thức tính hiệu quả sử dụng: Hiệu quả sử dụng của cám được tính trên
cơ sở trọng lượng khô của cám tươi (P
cám
) và trọng lượng khô của phần
cám bỏ đi (không qua lọc: P
waste
) theo công thức:
H (%)= 100*


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status