Tài liệu luận văn:Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Cổ phần Xây dựng và Thương mại GCT pot - Pdf 10

Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
1


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại
Cổ phần Xây dựng và Thương mại GCT.”
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
2
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
3


Chương II : Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại GCT
Chương III : Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Cổ phần Xây dựng và Thương mại GCT
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
4
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
XÂY LẮP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ BẢN
I- ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN HẠCH TOÁN
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1. Đặc điểm của sản xuất xây lắp ảnh hưởng đến hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm
1.1. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản
xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền KTQD. Nó làm tăng sức mạnh về
kinh tế, tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội. Một quốc gia có cơ sở hạ tầng vững chắc thì
quốc gia đó mới có điều kiện phát triển. Như vậy, việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giờ
cũng phát triển trước một bước so với các ngành khác.
Cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu được, cho
nên một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quĩ tích luỹ nói riêng với vốn
đầu tư nước ngoài nằm trong xây dựng cơ bản.
Sản phẩm xây lắp là những công trình, hạng mục công trình có đủ điều kiện

Do chu kỳ sản xuất xây dựng các công trình thường kéo dài làm cho vốn bị ứ
đọng, nên các nhà xây dựng luôn phải chú ý đến nhân tố thời gian khi chọn các
phương án.
Quá trình sản xuất xây dựng phức tạp đòi hỏi các nhà tổ chức xây dựng phải có
trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, phải phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức
xây dựng tổng thầu hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ.
Các công trình tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí
hậu, gây khó khăn cho việc thi công và dự trữ vật liệu. Điều này đòi hỏi các nhà tổ
chức xây dựng phải lập tiến độ thi công và áp dụng cơ giới hoá một cách hợp lý.
2. Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp
Do đặc điểm của xây dựng và sản phẩm xây dựng rất riêng nên việc quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Vì vậy trong quá trình
quản lý đầu tư xây dựng phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Phải tạo ra những sản phẩm xây lắp được thị trường chấp nhận cả về giá cả,
chất lượng, đáp ứng được mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất từ các nguồn đầu tư trong và ngoài
nước.
- Xây dựng phải đúng theo qui hoạch được duyệt, thiết kế hợp lý thẩm mỹ, xây
dựng đúng tiến độ, đạt chất lượng cao.
Thực tế trong nhiều năm qua xây dựng cơ bản là một ngành làm thất thoát một
phần không nhỏ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Nguyên nhân cơ bản là do quản lý
vốn đầu tư chưa được chặt chẽ.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phương pháp đấu
thầu, giao nhận thầu xây dựng. Doanh nghiệp muốn trúng thầu một công trình phải
xây dựng một giá thầu hợp lý cho công trình đó dựa trên cơ sở xác định mức đơn giá
xây dựng cơ bản do Nhà nước ban hành trên cơ sở giá thị trường và bản thân doanh
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
7


lắp
Trong nền kinh tế thị trường, mục đích kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp
sản xuất nói chung cũng như các doanh nghiệp xây lắp nói riêng đều là tối đa hoá lợi
nhuận. Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng và luôn được các nhà quản lý quan tâm, chú
trọng. Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành đầy đủ, kịp thời và chính xác
có ý nghĩa đặc biết quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho lãnh đạo để ra các
quyết định quản lý phù hợp.
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có nhiệm vụ ghi chép mọi
sự biến động của chi phí sản xuất và tính giá thành thông qua các kỹ thuật tính toán và
phân tích chi phí sản xuất cho phép doanh nghiệp duy trì được bức tranh thực về hiệu
quả hoạt động hiệu quả kinh doanh. Đây là một vấn đề không thể thiếu được cho
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
9

những quyết định và xử lý các yếu tố đầu vào. Từ số liệu phân tích, các nhà quản trị
phải tìm ra những biện pháp nhằm quản lý, điều hành chi phí theo chiến lược thị
trường.
Giá thành không chỉ là chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và đo lường
hiệu quả kinh doanh trong kỳ mà còn giữ chức năng thông tn và kiểm tra về chi phí.
Bởi vậy, hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản sẽ tạo điều kiện cho việc phân tích, cung cấp
thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp định mức tối ưu trong quản lý chi phí sản xuất
và tính giá thành của doanh nghiệp.
5. Nội dung phân tích
Để cung cấp những thông tin khái quát về tình hình tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm cho nhà quản lý, công việc đầu tiên của nhà phân tích chi phí sản xuất
và tính giá thành là tiến hành đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
sản phẩm.
Bên cạnh đó, theo chế độ kế toán Việt Nam, giá thành sản phẩm xây lắp gồm 4

từng khoản mục
-

Chi phí kế hoạch
từng khoản mục

- Về mặt tỷ trọng:
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
10

2
=
Tỷ trọng từng khoản mục
chi phí thực tế
-

Tỷ trọng từng khoản mục
chi phí kế hoạch
Nếu ∆1, ∆2 < 0 : Doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí
Nếu ∆1, ∆2 > 0 : Doanh nghiệp đã lãng phí chi phí
 Phân tích khoản mục chi phí nguyên vật liệu
Mức tăng giảm khoản mục chi phí nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm
thực hiện so với kế hoạch ảnh hưởng đến sự biến đổi của giá thành sản phẩm được tính
như sau:
Số tuyệt đối:
i
n
i
ii
n

G
0
, G
1
là giá thực tế và kế hoạch của vật tư i
M
1
, m
0
là mức tiêu hao thực tế và kế hoạch vật tư i cho một đơn
vị sản phẩm
Nếu kết quả tính được là số âm (-) chứng tỏ doanh nghiệp đã giảm chi phí vật
tư và lảm giảm giá thành sản phẩm.
Nếu kết quả tính được là số dương (+) thì ngược lại với trường hợp trên.
Nếu kết quả bằng không (0) chứng tỏ tình hình chi phí vật tư của doanh nghiệp
không có ảnh hưởng gì đến sự biến động của giá thành sản phẩm.
 Phân tích khoản mục chi phí nhân công trực tiếp
Trình tự diễn ra như sau:
Bước 1: Đánh giá chung:
Tính chênh lệch
tiền lương tuyệt đối
=
Quỹ lương
thực tế
-

Quỹ lương
kế hoạch
Nếu chênh lệch âm (-) là hụt chi quỹ lương
Nếu chênh lệch dương (+) là vượt chi quỹ lương

∆L = (N
1
- N
0
) x l
0
Nhân tố 2: “Lương bình quân/người”
∆L
2
= N
1
x(l
1
- l
0
)
 Phân tích khoản mục chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung
Chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều loại, có
loại mang tính chất chất biến đổi, có loại cố định, có loại vừa biến đổi vừa cố định. Do
vậy, để đảm bảo tính chính xác các nhận xét, trước khi phân tích cần tiến hành điều
chỉnh các khoản biến phí theo tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch sản xuất.
Tóm lại, việc phân tích tính giá thành sản phẩm xây lắp có thể được thể hiện trên bảng
sau:
BẢNG PHÂN TÍCH GIÁ THÀNH
Tên công trình
Từ đến
Đơn vị tính: Đồng
TT

Khoản mục chi phí

lập, tự chủ, trong sản xuất kinh doanh. Ngày đầu thành lập, Công ty gặp khó khăn
chồng chất, thiếu vốn, thiếu cán bộ quản lý. Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo Công ty
đã từng bước tháo gỡ khó khăn, luôn hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh được
giao, tạo được niềm tin đối với khách hàng về chất lượng sản phẩm cũng như tiến độ
thi công. Đặc biệt trong những năm gần đây, Công ty đã trúng thầu những công trình
lớn, nhỏ ,trị giá nhiều tỷ đồng như: xây dựng đường giao thông, cầu, nhà văn hoá,
bệnh viện, trường học trong và ngoài thành phố.
* Về tài chính:
- Vốn pháp định: 4 tỷ
- Vốn huy động: 21 tỷ đồng
- Có tài khoản: 431101000265 tại ngân hàng NN&PTNT CN Nam Hà nội
Ngân hàng sẵn sàng đáp ứng vốn cho Công ty thi công các công trình có dự án
khả thi.
* Mặt bằng làm việc và sản xuất:
- Mặt bằng làm việc:1.838 m
2
, trụ sở làm việc 2 tầng 400 m
2

- Nhà xưởng và mặt bằng sản xuất: 1.640 m
2

* Thiết bị máy móc phục vụ thi công:
Công ty có đầy đủ thiết bị chuyên dùng để thi công các công trình dân dụng,
công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và các công trình hạ tầng cơ sở.
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
13
* Về lao động:
Công ty có đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật có nhiều kinh nghiệm tổ chức thi công và
lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề, sẵn sàng tổ chức, chỉ đạo thi công các hạng

- Sản xuất khai thác, kinh doanh vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị.
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
14
- Dịch vụ vận tải, hàng hoá đường bộ.
- Đại lý phân phối sản phẩm, ký gửi hàng hoá.
* Quy mô kinh doanh: Công ty thuộc hạng doanh nghiệp vừa và nhỏ
* Đặc điểm về sản phẩm:
- Sản phẩm của Công ty là những công trình, vật kiến trúc , có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm lâu dài.
- Sản phẩm được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu tư từ trước,
do đó, tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ ràng.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất( xe máy thi
công, thiết bị vật tư, người lao động )phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm.
* Đặc điểm về thị trường:
Công ty được phép hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi toàn quốc.
2.1.TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY
DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI GCT
Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại GCT trực thuộc Sở xây dựng Hà
nội là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập. Được hạch toán toàn bộ đầu ra, đầu
vào, lãi, lỗ như một đơn vị hành chính theo luật doanh nghiệp.
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức vừa tập trung vừa
phân tán. Phòng kế toán thực hiện công tác kế toán chung của Công ty, tại các đội xây
lắp các nhân viên nhân viên kinh tế đội có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất trực tiếp
phát sinh nhưng không tính giá thành các công trình, hạng mục công trình ở đội mình,
cuối mỗi tháng tập hợp tất cả các hoá đơn, chứng từ, hợp đồng lao động và bảng dự
toán định mức lên phòng Tài chính- Kế toán của Công ty. Kế toán Công ty tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành, xác định kết quả sản xuất kinh doanh, xác định nghĩa vụ
với Nhà nước và báo cáo lên cấp trên có liên quan. Giữa Công ty và đơn vị trực thuộc
hạch toán theo cơ chế khoán gọn, các đơn vị hạch toán kết quả riêng.
Mô hình bộ máy kế toán tại công ty:
Phòng tài chính kế toán của Công ty có 6 người:
- 1 Kế toán trưởng
- 1 Kế toán tổng hợp kiêm kế toán khấu hao TSCĐ
- 1 Kế toán tiền lương
- 1 Kế toán nguyên vật liệu
- 1 Kế toán thanh toán
- 1 Thủ quỹ
Dưới các đội là các nhân viên kinh tế
Các nhân viên trong phòng kế toán được phân chia trách nhiệm rõ ràng:
 Kế toán trưởng là người chỉ đạo, tổ chức các phần hành kế toán. Kiểm tra giám
đốc toàn bộ các mặt hoạt động kinh tế tài chính tại Công ty, tham mưu cho giám đốc
để có thể đưa ra các quyết định hợp lý.

Nhân viên kinh t
ế

đ

i

Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
16
 Kế toán tổng hợp : Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, tổng hợp các báo
cáo kế toán nộp Công ty và các ban ngành liên quan.
 Kế toán khấu hao TSCĐ:

Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
17
- Phân loại các khoản nợ phải thu, phải trả theo thời gian thanh toán và theo từng
đối tượng để có kế hoạch và biện pháp thanh toán phù hợp
 Nhân viên kinh tế đội: tập hợp chi phí ở các đội và gửi lên phòng kế toán các
chứng từ và báo cáo liên quan.
2.2.TỔ CHỨC BỘ SỔ KẾ TOÁN VÀ HÌNH THỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI GCT
2.2.1.Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán:
- Để tạo cơ sở pháp lý và hạch toán đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, Công ty đã
sử dụng một hệ thống chứng từ tương đối hoàn chỉnh và phù hợp với đặc điểm sản
xuất kinh doanh của đơn vị.
- Hệ thống chứng từ của Công ty gồm 36 chứng từ :Về kế toán lao động tiền lương:
Bảng chấm công, Bảng thanh toán tiền lương, phiếu nghỉ hưởng BHXH, Bảng thanh
toán BHXH, Bảng thanh toán tiền thưởng, Hợp đồng lao động, Biên bản thanh lý hợp
đồng
- Về kế toán nguyên vật liệu: Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho, Biên bản kiểm
nghiệm, thẻ kho
- Về kế toán tiền tệ: Phiếu thu, Phiếu chi, Giấy đề nghị tạm ứng, Giấy xin thanh
toán, Giấy thanh toán tiền tạm ứng, Bảng kiểm kê quỹ, Uỷ nhiệm chi, Giấy lĩnh tiền
mặt.
- Về kế toán TSCĐ: Biên bản giao nhận TSCĐ, Thẻ TSCĐ, Biên bản thanh lý
TSCĐ, Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, Biên bản đánh giá lại
TSCĐ
- Về kế toán mua hàng, thanh toán có: Hoá đơn bán hàng, Hoá đơn GTGT
2.2.2.Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán:
- Công ty áp dụng các tài khoản mà nhà nước quy định theo quyết định
số1864/1998/QĐ-BTC ngày 16/12/1998 của Bộ tài chính.
Hệ thống tài khoản Công ty Xây dựng GCT sử dụng:
Tài khoản loại 1: TK 111 (1111), 112 (1121), 121,128,

- Sổ chi tiết vật liệu
- Thẻ kho
- Thẻ TSCĐ
- Sổ chi phí sản xuất, kinh doanh
- Thẻ tính giá thành sản phẩm dịch vụ
- Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ
- Bảng phân bổ tiền lương và BHXH
- Sổ chi tiết thanh toán
Biểu 2.2:
TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN
THEO HÌNH THỨC NHẬT KÝ CHUNG
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
19

Chứng từ gốc S
ổ nhật ký
đặc biệt
Sổ nhật ký
chung
Sổ, thẻ kế toán
chi tiết

Sổ cái
Bảng tổng hợp
chi tiết

Bảng cân đối

- Cơ quan Thuế
Ngoài cỏc bỏo cỏo tài chớnh ra, cuối mỗi thỏng Công ty cũn phải lập các bỏo
cỏo quản trị. Bỏo cỏo quản trị được lập và gửi cho Giỏm đốc. Hàng thỏng, kế toỏn lập
bỏo cỏo thu, bỏo cỏo chi trong thỏng một cỏch chi tiết cỏc khoản thu, chi hàng ngày.
Thụng qua bỏo cỏo thu, bỏo cỏo chi, kế toỏn tổng hợp sẽ lập bỏo cỏo phõn tớch cỏc
khoản thu, chi.
2.2.5.Đặc điểm tổ chức sản xuất - kinh doanh, đặc điểm quy trình công nghệ sản
xuất sản phẩm của công ty cổ phần Xây dựng thương mại GCT
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học
kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân, Công ty đã không ngừng đổi mới, hiện đại hoá,
góp phần quan trọng vào việc nâng cao nâng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Thời gian sản xuất sản phẩm lâu dài, vốn đầu tư lớn, nhân công thi công công
công trình chủ yếu là lao động phổ thông và công nhân kỹ thuật. Quá trình sản xuất
thường phân tán theo các công trình, ít tập trung tại trụ sở công ty.
Các đơn vị sản xuất chính trong công ty là các đội xây dựng 601, 602 và các đội
đều có mô hình tổ chức sản xuất như sau:
- Đội trưởng các đội xây dựng có trách nhiệm tổ chức thi công các công trình,
phân công công việc cho nhân viên của mình, chịu trách nhiệm trước giám
đốc Công ty, thực hiện các điều khoản hợp đồng đã ký
- Nhân viên kỹ thuật: là các kỹ sư có trình độ, thiết kế các công trình, kiểm tra,
giám sát về kỹ thuật thi công, đảm bảo an toàn và đúng tiến độ thi công.
- Nhân viên kinh tế đội: theo dõi các khoản chi phí phát sinh tại các đội và tập
hợp các chứng từ liên quan tới quá trình sản xuất kinh doanh của đội gửi lên
phòng kế toán của Công ty và tính giá thành của các công trình mà đội đã
thực hiện.
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
21
- Các tổ thi công tiến hành thi công các công trình và báo cáo lên đội trưởng về
tiến độ thi công và hoàn thành trách nhiệm được giao, quản lý các nhân viên
của mình thi công theo đúng kỹ thuật.


Đ

i trư

ng

Nhân viên kinh t
ế

đ

i

Các t


thi công

Đấu thầu và nhận
hợp đồng xây lắp
công trình, hạng
mục công trình
THANH LÝ HỢP
ĐỒNG, BÀN GIAO
CÔNG TRÌNH,
Tổ chức thi
công các công
trình, hạng mục
công trình

Và TM GCT
Xuất phát từ đặc điểm riêng của ngành xây dựng và của các sản phẩm xây lắp là
có qui trình sản xuất phức tạp, thời gian xây dựng lâu dài, sản phẩm sản xuất ra là đơn
chiếc và có qui mô lớn lại cố định tại một thời điểm, nơi sản xuất cũng là nơi tiêu thụ
cho nên để đáp ứng được nhu cầu của công tác quản lý, công tác kế toán đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất được Công ty xác định là từng công trình, hạng mục công trình.
Chi phí sản xuất được tập hợp theo khoản mục giá thành. Hiện nay Công ty tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung
Trong đó chi phí sản xuất chung bao gồm:
+ Chi phí nhân viên quản lý Xí nghiệp
+ Chi phí khấu hao máy móc thiết bị
+ Chi phí dụng cụ sản xuất
+ Chi phí dụng cụ mua ngoài
+ Chi phí bằng tiền khác.
Cuối mỗi quí, dựa trên các sổ chi tiết chi phí của từng tháng trong quí, kế toán
lập bảng tổng hợp chi phí sản xuất của quí làm cơ sở cho việc tính giá thành và lập
báo cáo chi phí sản xuất và tính giá thành mỗi quí.
1.2. Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty
CP xây dựng và TM GCT
Ở Công ty CP XD Và TM GCT đối tượng tính giá thành là khối lượng công
việc có tính dự toán riêng đã hoàn thành của từng công trình hạng mục công trình.
Nghĩa là khối lượng công việc đó có sự xác nhận của chủ đầu tư trong biên bản
nghiệm thu khối lượng xây lắp.
Về phương pháp tính giá thành, Công ty áp dụng phương pháp tính giá thành
theo từng công trình, hạng mục công trình. Mỗi chi phí phát sinh ở công trình nào thì
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp

Giá trị một lần phân bổ =

Giá trị vật liệu luân chuyển
Số lần ước tính sử dụng
Giá trị phân bổ này chỉ bao gồm giá trị vật liệu còn công lắp đặt, tháo dỡ cũng
như giá trị vật liệu khác như đinh, dây buộc thì được thanh toán vào chi phí trong kỳ
của công trình có liên quan.
Báo cáo thưc tập tôt nghiệp
24
Tại Công ty kế toán lựa chọn giá thực tế để theo dõi tình hình luân chuyển vật
liệu, hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và hạch toán chi
tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song.
Đối với vật liệu nhập kho, giá thực tế vật liệu mua vào là giá chưa có thuế
GTGT cộng chi phí vận chuyển, thu mua nếu có.
Đối với vật liệu xuất từ kho của Công ty thì giá thực tế vật liệu xuất dùng được
tính theo phương pháp nhập trước xuất trước.
2.2. Trình tự hạch toán
Trước tiên Phòng kế hoạch kỹ thuật vật tư xí nghiệp căn cứ vào nhiệm vụ sản
xuất của từng công trình, dự toán công trình và các yêu cầu tiến độ thi công, kế hoạch
các đơn vị đưa theo các chỉ tiêu kinh tế sao phù hợp rồi đưa vào thi công cho các đội
công trình và tổ sản xuất. Các đội công trình và tổ sản xuất căn cứ vào nhiệm vụ để thi
công kịp thời. Trong quá trình thi công, những vật tư nào cần sử dụng thì lập kế hoạch
sau đó gửi lên Phòng kỹ thuật vật tư xem xét, xác nhận chuyển sang Phòng kế toán xin
cấp vật tư. Đối với công trình có lượng vật tư tiêu hao lớn thì căn cứ khối lượng hiện
vật thực hiện trong tháng, cán bộ kỹ thuật sẽ bóc tách lượng vật tư tiêu hao theo định
mức để ghi phiếu xuất vật tư cho từng đối tượng sử dụng.
Việc nhập kho tại công trình chỉ mang tính hình thức vì vật liệu được chuyển
tới công trình là được đưa vào sản xuất kịp thời. Vì vậy sau khi lập phiếu nhập kho, kế
toán tiến hành ghi phiếu xuất kho vật liệu xuất dùng hết vật liệu nhập kho cho thi công
xây lắp công trình và ghi thẻ kho (thẻ kho chỉ theo dõi về mặt số lượng).

2.000

339,5

1.697.500

2 Cát vàng m3 5

5

38.800

194.000

3 Xi măng Hoàng
Thạch K40
tấn 10

20

770.00
0

7.700.000

Cộng


285.000

42.857

12.214.280

2 Đá các loại M
3
380.000

95.000

36.100.000

3 Gạch lát M
2
877.920

59.091

51.877.082
Tổng 800.123.652

Biểu 2.3 : Bảng tổng hợp xuất vật tư
 Trường hợp nguyên vật liệu trực tiếp mua về không qua kho mà chuyển thẳng
đến chân công trình, lúc này kế toán căn cứ vào hợp đồng với nhà thầu phụ, hoá đơn
mua và các chứng từ thanh toán có liên quan để ghi hạch toán trực tiếp trên chứng từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status