Tài liệu báo cáo chuyên đề GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG potx - Pdf 10

1
C¸c Chuyªn ®Ò

GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
(Tài liệu hỗ trợ giáo viên THPT Quảng Ninh)
Quảng Ninh, tháng 3 năm 2009
2

Quảng Ninh, tháng 3 năm 2009
3

MỤC LỤC

Lời nói đầu 3
Chuyên đề 1. Khai thác khoáng sản và tác động môi trường
4
Chuyên đề 2. Sử dụng năng lượng tái sinh
27
Chuyên đề 3. Biến đổi khí hậu- nóng lên tòan cầu
60

- Nhu cầu xuất khẩu khoáng sản
Một số khoáng sản được khai thác chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu như: quặng
ilmenit, chì-kẽm, crôm, thiếc, mangan, quặng sắt Sản phẩm xuất khẩu dưới
dạng quặng thô, quặng tinh hoặc đã được chế biến thành kim loại. Nhu cầu xuất
khẩu quặng có xu hướng gia tăng trong đó có than sạch. Chủ yếu xuất khẩu sang
thị trường Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước khác.
- Nhu cầu giải quyết công ăn việc làm
Nước ta lực lượng lao động trẻ, khoẻ, phần lớn là lao động phổ thông, cần có
việc làm đang ngày càng gia tăng. Tài nguyên khoáng sản của nước ta phân bố
trên diện rộng, đa dạng, phong phú về chủng loại và nhu cầu đáp ứng cho thị
trường ngày một tăng, nên một bộ phận lớn lao động còn chưa có việc làm đã
tham gia hoạt động khai thác khoáng sản.
- Các nhu cầu khác
Việc chuyển đổi cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường đã làm
xuất hiện nhiều thành phần kinh tế. Ngoài các doanh nghiệp nhà nước, còn có các
thành phần kinh tế khác. Trong số các doanh nghiệp được thành lập có nhiều
6
doanh nghiệp đăng ký ngành nghề kinh doanh liên quan đến hoạt động khoáng
sản. Một lực lượng khác là các tổ hợp kinh doanh, khai thác khoáng sản hình
thành ở hầu hết các huyện, xã. Lực lượng này chủ yếu tham gia kinh doanh, khai
thác các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (đá, cát, sỏi ), hình
thức khai thác rất linh hoạt, phong phú, theo mùa vụ…, để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng nguyên liệu khoáng sản cho xây dựng tại địa phương.
Vì vậy, hiện nay việc khai thác và chế biến khoáng sản đang được tiến hành
rộng rãi ở các địa phương. Bên cạnh việc đóng góp tích cực vào công cuộc phát
triển của đất nước, các hoạt động này cũng góp phần không nhỏ vào việc gây ô
nhiễm môi trường sống,.tác hại đến sức khoẻ của con người và sự phát triển bền
vững của đất nước.
2. Các hình thức khai thác, chế biến khoáng sản
- Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp

- Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, kéo theo các hậu quả nghiêm
trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên. Việc khai thác
trái phép tài nguyên khoáng sản gây hậu quả lớn đến môi trường, chủ yếu là nạn
khai thác vàng, sử dụng cyanur, hoá chất độc hại để thu hồi vàng đã diễn ra ở
Quảng Nam, Lâm Đồng, Đà Nẵng; khai thác chì, kẽm, thiếc, than ở các tỉnh miền
núi phía Bắc; khai thác quặng ilmenit dọc bờ biển, đã phá hoại các rừng cây chắn
sóng, chắn gió, chắn cát ven biển; khai thác cát, sỏi lòng sông gây xói lở bờ, đê,

Khai thác quặng ở mỏ sắt Trại Cau
(Thái Nguyên)
8
kè, ảnh hưởng các công trình giao thông, gây ô nhiễm nguồn nước; khai thác đá
vật liệu xây dựng phá hoại cảnh quan, môi trường, gây ô nhiễm không khí.

Mỏ đá quý bị tan hoang vì kiểu khai thác
“thổ phỉ”.
(huyện Hoà Vang- Đà Nẵng)
Việc khai thác KS không có quy hoạch cụ
thể gây lãng phí tài nguyên.
( Người dân đổ xô khai thác titan ở
Bình Định)

II. TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN ĐẾN
MÔI TRƯỜNG

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động

Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg, ngoài
ra, các nguyên tố kim loại nặng như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể
rửa lũa hoà tan vào nước. Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác và tuyển quặng
vàng là nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước nông nghiệp.
Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùn sét, một số kim loại
nặng và hợp chất độc như Hg, As, Pb v.v mà nguyên nhân chính là do nước thải,
chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi ra khai trường và khu vực tuyển quặng 10

Bụi từ quặng chì do xí nghiệp chì -kẽm Chợ
Điền ( Bắc Kạn) khai thác

Bể nước sạch của các cô giáo Trường tiểu
học Bản Thi., huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn là
một vũng nước trong hốc đá đen quặng chì,
bùn và rác.

Việc khai thác vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất phân bón và hoá chất
như đá vôi cho nguyên liệu xi măng, đá xây dựng các loại, sét, cát sỏi, apatit, đã
gây những tác động xấu đến môi trường như làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm
nước. Nhìn chung quy trình khai thác đá còn lạc hậu, không có hệ thống thu bụi,
nhiều khí hàm lượng bụi tại nơi làm việc lớn gấp 9 lần với tiêu chuẩn cho phép. Khai thác đá ở Bà Rịa- Vũng

xung quanh vùng mỏ.
Khai thác Bô-xít lộ thiên sẽ tàn phá thảm
động thực vật và gây xói mòn (Đắc Nông)

Đất khai thác bô-xít (để lầm phèn chua) sau
khi hoàn thổ không loại cây nào mọc đư
ợc
ngoài keo tai tượng (Bảo Lộc- Lâm Đồng) 12
Tan hoang cả vùng đồi do khai thác than
(Hoà Bình)

Nguồn nước đang dần cạn kiệt
vì khai thác than ( Hoà Bình) Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm độ
che phủ do rừng cây bị chặt hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm. Hoạt động khai thác
khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng do
các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi. Một số loài thực
vật bị giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác. Khai thác khoáng sản đã làm thu hẹp đáng
kể diện tích đất nông, lâm nghiệp và ảnh hưởng

thể bị bồi lấp do sạt lở, xói mòn của đất đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất
mặt. Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung
lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận. Khi có mưa lớn
thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác
hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn đá,
gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội.

15
Đất đai bị “ móc ruột” biến dạng
( huyện Trảng Bom _ Đồng Nai”)

Ruộng vườn của người dân biến thành hố
bom, ao hồ
( huyện Trảng Bom _ Đồng Nai”) Bã xít thải tại khai trường mỏ Cao Sơn
( Quảng Ninh )
Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai trường bị
hạ thấp, ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bãi thải tâng cao. Những
thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện thuỷ văn, các yếu tố của dòng
chảy trong khu mỏ như: thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận tốc dòng
chảy mặt, chế độ thuỷ văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng, v.v Sự
tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tưới tiêu
có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, dung tích chứa nước, biến đổi chất lượng
nguồn nước .


III. KHAI THÁC THAN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI
THÁC THAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở QUẢNG NINH

Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, có nhiều loại
đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước
không có được như: than, cao lanh, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi…

90% trữ lượng
than của cả nước thuộc về tỉnh Quảng Ninh. Đây chính là đặc điểm hình thành
vùng công nghiệp khai thác than từ rất sớm. Vùng khai thác than, chế biến, tiêu
thụ than có phạm vi rất lớn, trải dài từ Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Hạ Long
và Cẩm Phả
.
Tuy nhiên, hoạt động khai thác than luôn có những diễn biến phức
tạp, gây tác động xấu đến nhiều lĩnh vực.Một lò than thổ phỉ mới phát hiện
tại phường Cao Xanh - TP Hạ Long

M
ột điểm khai thác than "thổ phỉ"
(Quảng Ninh )

Khai thác than trái phép ở KM6, thị xã
Cẩm Phả (Quảng Ninh)


Để có sản lượng nhảy vọt, vượt công suất thiết kế, nhiều đơn vị đã chạy đua lộ
thiên hoá dù đã được quy hoạch là khai thác theo công nghệ hầm lò. Trong khi đó,
công nghệ khai thác lộ thiên được đánh giá là gây tác hại rất lớn về ô nhiễm môi
trường, hạn chế độ sâu khai thác. Đến thời điểm này, nhiều mỏ lộ thiên đã âm quá
giới hạn cho phép là -300m (so với mặt biển), nhưng vẫn tiếp tục khoan thăm dò
khai thác, bất chấp những tác hại về cấu tạo địa chất, làm tiền đề cho những thảm
họa khác như lở đất, nhiễm mặn và biến đổi sinh thái. Hiện nay trong khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả có khoảng 30 mỏ than lớn nhỏ
đang hoạt động, bình quân khoảng 2.000ha, có 1 mỏ với tổng diện tích là 175km
2
,
chiếm 28,7% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm
Phả. Trong giai đoạn 1970 - 1997, các hoạt động khai thác than ở Hòn Gai, Cẩm
Phả đã làm mất khoảng 2.900ha đất rừng các loại (trung bình mỗi năm mất 100 -
110ha) , trong đó khoảng 2.000ha bị mất do mở vỉa, đổ đất đá thải. Độ che phủ
rừng tự nhiên từ 33,7% năm 1970 giảm xuống 6,7% (1985) và 4,7% (1997)
(Bảng 3).

19

Bảng 3. Biến động độ che phủ rừng khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả
Đơn vị: %
Nguồn: Trần Yêm, Luận án Tiến sĩ, 2000
Tại khu vực Cẩm Phả, trước năm 1975 việc khai trường được mở rộng chủ yếu
về phía tây - nam (khoảng 100ha) và phía tây (25ha). Sau 1975 việc khai trường
và bãi thải phát triển về phía bắc khoảng 435ha, phía tây - bắc 265ha và phía đông
75ha (Bảng 4).
Bảng 4. Diện tích khai trường, bãi thải và diện tích đổ thải ra vùng biển Cẩm

- Số người bị ảnh hưởng do khai thác than khoảng 3 triệu.
- Tác nhân gây ô nhiễm là than đá và các hạt bụi siêu nhỏ.
- Nguồn gây ô nhiễm là do các mỏ than và phương tiện cơ giới.
Ở Lâm Phần, quần áo ướt sẽ bám đầy bụi than trước khi khô.
Thành phố Lâm phần được mệnh
danh là "đô thị màu nhọ nồi" thuộc
tỉnh Sơn Tây,
trung tâm của ngành khai thác than đá
ở Trung Quốc. Hàng nghìn mỏ than,
cả hợp pháp và không hợp pháp, xuất
hiện nhan nhản trên những ngọn đồi
quanh thành phố, nên bầu không khí
nơi đây luôn dày đặc khói và muội đen
do hoạt động sử dụng than gây ra.
Tại Lâm Phần, không thể phơi quần áo ngoài trời vì nó sẽ biến thành màu
muội than trước khi khô. Cục bảo vệ môi trường Trung Quốc thừa nhận Lâm Phần
có chất lượng không khí thấp nhất cả nước.

2. Sukinda (Ấn Độ)
- Số người bị tác động do khai thác than khoảng 2,6 triệu.
- Tác nhân gây ô nhiễm là Crom và các kim loại nặng khác.
- Nguồn gây ô nhiễm là do các hoạt động khai thác và xử lý quặng.
Crom là kim loại nặng được sử dụng để sản xuất thép không rỉ và thuộc da. Nó
có thể gây ung thư nếu hít hoặc đưa nó vào cơ thể bằng đường miệng. Sukinda là
thành phố có những mỏ quặng crom lộ thiên lớn nhất thế giới. Có tới 60% nước
Một góc thành phố Lâm Phần.21
sinh hoạt ở đây chứa crom hóa trị 6 với nồng độ lớn hơn hai lần so với các tiêu

đến môi trường sống.
- Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
II. NỘI DUNG
Một số người dân tại Sukinda lấy nước ở một
giếng, nơi nước ngầm bị nhiễm độc nặng.22
1. Hiện trạng khai thác khoáng sản ở nước ta
- Nhu cầu khai thác khoáng sản ở nước ta hiện nay.
- Các hình thức khai thác, chế biến khoáng sản ở nước ta và sức ép đối với
môi trường.
2. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường
- Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta (trong đó có
Quảng Ninh):
+ Ô nhiễm môi trường không khí và nước.
+ Ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên.
3. Khai thác than và ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến môi trường ở
Quảng Ninh:
- Khai thác than ở Quảng Ninh.
- Ảnh hưởng của khai thác than ở Quảng Ninh.

Khi dạy nội dung trên giáo viên cần lưu ý:
- Quảng Ninh là nơi chiếm tới 90% trữ lượng than của cả nước.Hoạt động
khai thác than có thể nói là một trong những hoạt động kinh tế chủ yếu của tỉnh và
đã có những ảnh hưởng xấu đến môi trường. Vì vậy, trong bài viết này có một
phần đề cập đến vấn đề khai thác than và ảnh hưởng của hoạt động khai thác than
đến môi trường ở Quảng Ninh.
- Những nội dung trên được trình bày bằng cả kênh chữ và kênh hình. Các hình
ảnh ở đây có tính chất minh hoạ cho một số ý được trình bày ở phần kênh chữ.

sát trực tiếp, mà chỉ có thể nhận biết được trên cơ sở các phương tiện trực quan.
Phương tiện trực quan (PTTQ) trong dạy học Địa lí khá đa dạng, song các
tranh ảnh; băng, đĩa hình có nội dung về MT giúp HS có thể dễ dàng nhận biết
được những vấn đề của MT như hiện tượng ô nhiễm không khí, nguồn nước ; hiện
tượng xói mòn, sạt lở đất
Bản chất của PP sử dụng tranh ảnh, băng, đĩa hình là PP hướng dẫn HS quan
sát, phân tích các hình ảnh để lĩnh hội kiến thức. Khi hướng dẫn HS quan sát,
trước hết GV cần xác định mục đích, yêu cầu quan sát ; sau đó yêu cầu HS xác
định xem bức tranh/ đoạn băng đó thể hiện hiện tượng gì, vấn đề gì và ở đâu, mô
tả hiện tượng ; cuối cùng GV gợi ý HS nêu nguyên nhân và hậu quả của hiện
tượng.
-
Phương pháp thảo luận
Bản chất của PP thảo luận là tổ chức cho HS thảo luận theo lớp hoặc nhóm về
các vấn đề MT có liên quan đến nội dung bài học. PP này tạo cho HS cơ hội trình
bày ý kiến, suy nghĩ của mình và để nghe ý kiến của các bạn trong lớp về một vấn
đề nào đó. PP thảo luận thường được sử dụng khi GV muốn biết ý kiến và kinh
nghiệm của HS trước một vấn đề đặt ra. Qua thảo luận, GV có thể đánh giá được
sự hiểu biết, thái độ, cảm xúc của HS, khuyến khích HS hình thành chính kiến có
cơ sở của mình đối với vấn đề đang thảo luận.

24
Cũng như một số PP khác, khi sử dụng PP thảo luận, trước hết GV cần xác
định rõ ràng mục tiêu thảo luận, sau đó nêu vấn đề/ câu hỏi thảo luận.
Hình thức thảo luận có thể là thảo luận cả lớp hoặc nhóm. Nếu là thảo luận
nhóm thì trước hết phải chia nhóm, bố trí chỗ ngồi cho các nhóm; sau đó GV giao
nhiệm vụ cho các nhóm., các nhóm có thể thảo luận cùng một vấn đề hoặc mỗi
nhóm thảo luận một vấn đề tuỳ thuộc vào nội dung bài học.

Sau khi HS thảo luận, GV tóm tắt các ý kiến thảo luận và chốt lại các ý chính.

dạng, vẻ đẹp của tự nhiên; đồng thời qua đó thấy được hiện trạng cũng như một số
vấn đề của MT, nguyên nhân và hậu quả của sự suy giảm, suy thoái và ô nhiễm
MT.
Phương pháp này có thể tiến hành dưới các hình thức:
+ Tổ chức cho HS đi tham quan, học tập ở các khu bảo tồn thiên nhiên, danh
lam thắng cảnh
+ Tổ chức cho các nhóm HS điều tra, khảo sát tình hình MT ở địa phương và
viết báo cáo ( kết quả khảo sát, phương án cải thiện MT)

Việc tổ chức cho các nhóm HS điều tra, khảo sát có thể tiến hành giao cho HS
thực hiện các dự án nhỏ, phù hợp với điều kiện của nhà trường và với trình độ của
HS.
- Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó HS thực hiện một nhiệm
vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập
kế hoạch và thực hiện. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả thực hiện
dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được
Ví dụ : Dự án ‘Tìm hiểu vấn đề môi trường ở địa phương’
Bước 1 : Xác định chủ đề
Mỗi nhóm có thể chọn một trong những vấn đề tiêu biểu cho MT ở địa
phương như : ô nhiễm nước, không khí ; suy giảm tài nguyên khoáng sản
Bước 2 : Xây dựng đề cương
+ Hiện trạng môi trường ở địa phương
+ Nguyên nhân và hậu quả
+ Giải pháp khắc phục
Bước 3 : Xác định thời gian và phương pháp tiến hành

+ Thời gian thực hiện dự án : 1 tuần ( hoặc 2 tuần, 1 tháng )
+ Phương pháp tiến hành : Khảo sát thực địa ; phân tích tài liệu địa lí địa
phương, các báo cáo của cơ quan có thẩm quyền ; phỏng vấn người dân địa
phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status