đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán thăng long. thực trạng và giải pháp - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TTCK
CTCK
ĐHĐCĐ
HĐQT
TGĐ
VĐT
PR
R&D
TSC
SSI
BVSC
BSC
VCBS
VIETINBANKSC
AGRISECO
Thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Vốn đầu tư
Quan hệ công chúng
Nghiên cứu và phát triển.
Công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long
Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt
Công ty TNHH chứng khoán ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam
Công ty TNHH chứng khoán ngân hàng ngoại

49
Biểu đồ 2.13: VĐT cho hoạt động R&D của TSC giai đoạn 2005 – 2008 51
Biểu đồ 2.14: Tỷ trọng VĐT cho hoạt động R&D trong tổng VĐT của
TSC giai đoạn 2005 – 2008 ……………………………………………….
52
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
Bảng 2.17: Vốn đầu tư cho hoạt động PR, marketing của TSC giai đoạn
2005 – 2008 ………………………………………………………………
53
Biểu đồ 2.16: VĐT cho hoạt động PR, marketing trong tổng VĐT của
TSC giai đoạn 2005 – 2008 ………………………………………………
54
Bảng 2.17: So sánh vốn điều lệ và tổng tài sản của một số CTCK ……… 56
Bảng 2.18: Thị phần giao dịch của một số CTCK giai đoạn 2005 – 2008 57
Bảng 2.19: Dịch vụ bỏa lãnh phát hành của một số CTCK tính đến tháng
6/2007 ……………………………………………………………………
59
Bảng 2.20: Cơ cấu trình độ nguồn nhân lực của TSC giai đoạn 2006 –
2008 ………………………………………………………………………
63
Bảng 2.21: Tổng hợp mạng lưới hoạt động của một số CTCK năm 2008 64
Bảng 2.22: Doanh thu và lợi nhuận sau thuế của một số CTCK giai đoạn
2007 – 2008 ………………………………………………………………
69
Bảng 2.23: Lợi nhuận sau thuế của một số CTCK năm 2008 …………… 69
Bảng 2.24: Tốc độ tăng số lượng tài khoản và giá trị giao dịch tại TSC
giai đoạn 2003 – 2008 ……………………………………………………
70

Thăng Long để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ths. Phan Thu Hiền, Bộ môn kinh tế đầu
tư, khoa kinh tế đầu tư – Đại học Kinh Tế Quốc Dân đã trực tiếp hướng dẫn em
hoàn thành bài viết này, cũng như toàn thể các thầy cô giáo trong trường Đại học
Kinh Tế Quốc Dân đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu. Đồng thời, em
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
cũng xin cảm ơn các anh chị làm việc tại công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long
đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại công ty.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ ĐẦU TƯ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.
1.1. Những vấn đề lý luận chung về công ty chứng khoán.
1.1.1. Khái niệm.
Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
chứng khoán thông qua việc thực hiện một hoặc một vài dịch vụ chứng khoán
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
chính là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng
khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
1.1.2. Vai trò.
Các công ty chứng khoán là một tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ có các
CTCK mà các doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách nhanh chóng và hiệu
quả thông qua việc phát hành chứng khoán, các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức có
thể tham gia vào thị trường dễ dàng và thuận lợi.
Nhìn chung, các CTCK có một số vai trò chính sau:
Thứ nhất, huy động vốn. Thị trường chứng khoán là một trong những kênh
huy động vốn trung và dài hạn hữu hiệu. Một công cụ hiệu quả để thực hiện chức

doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng chịu
đựng các biến động của TTCK. Mặt khác, với thế mạnh về chuyên môn và vốn,
ngân hàng có thể tận dụng để kinh doanh chứng khoán một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ một số hạn chế như: Do có thế mạnh về
tài chính, chuyên môn nên ngân hàng thương mại tham gia kinh doanh chứng khoán
có thể gây lũng đoạn thị trường, trong trường hợp quản lý nhà nước về lĩnh vực
chứng khoán và quản trị điều hành thị trường còn yếu. Thêm vào đó, do tham gia
nhiều lĩnh vực nên làm giảm tính chuyên môn hóa, khả năng thích ứng và linh hoạt
kém. Trong trường hợp TTCK có nhiều rủi ro, ngân hàng có xu hướng bảo thủ rút
khỏi TTCK để tập trung kinh doanh tiền tệ.
1.1.3.2. Mô hình chuyên doanh chứng khoán.
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty
độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận; các ngân hàng
không được tham gia kinh doanh chưng khoán.
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng: giảm rủi ro cho
hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán kinh doanh chuyên
môn hóa, thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán
1.1.4. Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán.
1.1.4.1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
công ty chứng khoán làm đại diện, trung gian mua bán chứng khoán cho khách
hàng để hưởng hoa hồng, phí dịch vụ. Mức phí này sẽ được tính bằng một tỷ lệ
phần trăm nhất định so với giá trị hợp đồng giao dịch.
Trong nghiệp vụ này, các CTCK chỉ được đề xuất thời điểm mua bán chứng
khoán để khách hàng tham khảo và thực hiện các giao dịch theo lệnh của khách
hàng. Do đó, khách hàng chính là người chịu trách nhiệm về kết quả của các giao
dịch này.

hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối
chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành
để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa phân phối hết và giúp bình ổn giá
chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành.
Việc bảo lãnh phát hành thường đươc thực hiện theo một trong các hình
thức:
- Bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn: là phương thức mà tổ chức
bảo lãnh cam kết với tổ chức phát hành sẽ mua hết lượng chứng khoán với một mức
giá thỏa thuận và phân phối lại cho công chúng tại mức giá chào bán ra công chúng.
- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức mà tổ chức bảo lãnh chỉ
đóng vai trò đại lý phát hành cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh chỉ cam kết
sẽ cố gắng để bán được nhiều nhất chứng khoán ra thị trường theo mức giá xác
định. Số chứng khoán không bán hết sẽ được trả lại cho tổ chức phát hành, tổ chức
bảo lãnh nhận được hoa hồng bảo lãnh trên số chứng khoán bán được hoặc trên số
vốn huy động được.
1
Luật chứng khoán năm 2006
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
- Bảo lãnh tất cả hoặc không: là phương thức tổ chức phát hành chỉ thị cho tổ
chức bảo lãnh phát hành phải bán trọn đợt phát hành, nếu không bán được hết họ sẽ
hủy bỏ đợt phát hành đó. Với phương thức này, tổ chức bảo lãnh phải hết sức cố
gắng nếu họ không muốn bị thiệt hại về kinh tế (mất phí bảo lãnh …) và giảm sút
về uy tín ( do đợt phát hành bị hủy bỏ)
- Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa: là phương thức trung gian pha
trộn giữa cam kết chắc chắn và cố gắng cao nhất. Tổ chức phát hành yêu cầu tổ
chức bảo lãnh bán tối thiểu một lượng chứng khoán nhất định và cố gắng hết sức để
bán tối đa lượng chứng khoán phát hành. Nếu lượng chứng khoán bán ra thấp hơn
lượng tối thiểu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ, tổ chức bảo lãnh không nhận

thế của công ty so với các công ty khác trong cùng một ngành, trong việc thỏa mãn
tốt nhất các nhu cầu của khách hàng nhằm tăng thị phần hay gia tăng lợi nhuận.
Như đã nói ở trên, không thể cân, đo một cách chính xác được năng lực cạnh
tranh của một công ty. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể đánh giá một cách định tính
thông qua một số chỉ tiêu như lợi nhuận, thị phần, số lượng khách hàng … Việc
đánh giá này cần phải đặt trong một mặt bằng tương xứng.
Một thực tế cho thấy răng, không có ai hay cái gì là hoàn hảo tuyệt đối.
CTCK cũng vậy, nó cũng có điểm mạnh và điểm yếu của mình. Do đó, một công ty
cần phải nắm bắt được những điểm mạnh của mình và cố gắng tập trung phát huy
thế mạnh đó, đồng thời hạn chế những điểm yếu. Có như vậy mới có thể cạnh tranh
với các đối thủ khác trên thị trường.
1.2.2. Một số nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty chứng
khoán.
1.2.2.1. Nhân tố khách quan
 Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội trong nước và ngoài nước.
Thị trường chứng khoán nói chung và các công ty chứng khoán nói riêng
được coi là một bộ phận trong cơ thể nền kinh tế nói chung. Do đó, một khi cơ thể
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
đó không khỏe thì các bộ phận trong nó cũng sẽ không thể hoạt động bình thường
được. Thực tế cho thấy rằng, trong giai đoạn vừa qua, nền kinh tế thế giới rơi vào
một cuộc khủng hoảng trầm trọng đã kéo theo sự sụt giảm đáng kể của thị trường
thế giới nói chung và thị trường trong nước nói riêng. Ở Việt Nam thời gian qua đã
có khá nhiều công ty làm ăn thua lỗ, bị phá sản, buộc phải sát nhập hoặc bị mua lại.
Trong tình hình đó, chỉ có những công ty có tiềm lực, có năng lực cạnh tranh vững
mạnh thì mới có thể trụ vững.
Cũng tương tự như vậy đối với tình hình chính trị. Nếu như chiến tranh thê
giới xảy ra thì chắc chắn nền kinh tế không thể phát triển bình thường được. Một hệ
quả tất yếu là các bộ phận cấu thành nên nó cũng sẽ không thể khỏe mạnh được.

 Đối thủ cạnh tranh.
Các đối thủ là một nhân tố không thể thiếu trong bất kỳ lĩnh vực nào. Không
có đối thủ thì sẽ không có cạnh tranh, không có cạnh tranh thì sẽ không có động lực
để các công ty phát triển. Khi trên thị trường xuất hiện một công ty mới thì chắc
chắn sẽ thu hút sự quan tâm, chú ý của các công ty đã có. Họ sẽ tìm mọi cách để tìm
ra được điểm khác biệt giữa họ và công ty mới này, từ đó không ngừng đầu tư để
phát huy điểm mạnh của mình. Chính sự xuất hiện của đối thủ mới này đã kích
thích khả năng tiềm ẩn của các công ty khác phát triẻn. Càng có nhiều đối thủ thì
mức độ cạnh tranh càng gay gắt và càng đòi hỏi các công ty phải không ngừng nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình, nếu không sẽ bị đào thải khỏi thị trường.
1.2.2.2. Nhân tố chủ quan
 Tiềm lực tài chính
Vốn chính là nền tảng cho mọi hoạt động trong công ty. Không có vốn thì sẽ
không có công ty, không có cơ sở vật chất kỹ thuật, không có đội ngũ nhân sự. Mà
không có những yếu tố này thì một công ty cũng không thể hoạt động được. Nếu
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
một công ty có tiềm lực tài chính vững mạnh thì sẽ có điều kiện để đầu tư vào cơ sở
hạ tầng, mua sắm thiết bị công nghệ hiện đại hay đào tạo được đội ngũ nhân sự
trình độ cao. Những yếu tố này tạo nên tính cạnh tranh giữa các công ty. Tuy nhiên,
không phải công ty nào có tiềm lực tài chính vững mạnh cũng có năng lực cạnh
tranh cao. Bởi nếu nguồn vốn đó không được sử dụng hợp lý thì cũng không thể
phát huy được hiệu quả, gây lãng phí.
 Uy tín và kinh nghiệm hoạt động.
Uy tín và kinh nghiệm không phải là một khả năng bẩm sinh, vừa sinh ra đã
có. Mà phải trải qua thời gian cùng với quá trình rèn luyện, đúc kết mới có được.
Uy tín được xây dựng một phần dựa trên nền tảng của kinh nghiệm. Do đó, một
công ty mới thành lập sẽ chưa thể tạo lập uy tín của mình trên thị trường ngay được,
mà phải xuất phát từ thực lực cùng với những kiến thức và kinh nghiệm đã tích lũy

hiểu thị trường hay đội ngũ nhân viên phân tích, tư vấn giàu kinh nghiệm chính là
một lợi thế trong việc thu hút khách hàng cũng như tạo nên uy tín cho công ty. Từ
đó, góp phần làm tăng khả năng cạnh trạnh của công ty trên thị trường.
 Cơ sở vật chất và khoa học công nghệ.
Một ngôi nhà nếu như không có cái móng vững chắc thì sẽ không thể đứng
vững trước gió lớn. Công ty chính là một ngôi nhà chung và cơ sở vật chất chính là
nền móng ban đầu của ngôi nhà đó. Vì vậy, nếu cơ sở vật chất không vững thì công
ty cũng sẽ rất dễ đổ vỡ. Một CTCK muốn thành lập cũng phải đáp ứng những yêu
cầu nhất định về cơ sở vật chát kỹ thuật
2
chẳng hạn như về diện tích, về lượng vốn
đầu tư cho nó Tuy nhiên, cũng không phải cơ sở vật chất càng to, đẹp thì công ty
hoạt động càng hiệu quả. Nó chỉ là một phần, bởi lẽ, đây chỉ là cái vỏ, cái quan
trọng là ruột bên trong. Đó là đội ngũ nhân sự, đó là các thiết bị, phần mềm công
nghệ … Đây thực sự là một yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh giữa các công ty chứng
khoán. Bởi lẽ, kinh doanh chứng khoán là một ngành nghề đặc biệt, nó đòi hỏi
nguồn thông tin có độ chính xác cao để đưa ra những phân tích, nhận định đúng
đắn. Những thông tin, phân tích, nhận định đưa ra càng chính xác thì càng tạo được
2
Luật chứng khoán năm 2006
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
lòng tin đối với các nhà đầu tư. Từ đó, tạo nên uy tín cho công ty. Điều này, chỉ có
thể thực hiện được nếu có hệ thống phần mềm công nghệ hiện đại. Một công ty đáp
ứng được những yêu cầu về cơ sở vật chất cũng như có một hệ thống phần mềm
công nghệ hiện đại sẽ thực sự tạo ra được tính cạnh tranh với các đối thủ khác.
 Giá phí sản phẩm - dịch vụ
Đây chính là yếu tố mà khách hàng quan tâm khi tìm đến các CTCK và cũng
là nguồn thu của các CTCK. Mỗi một CTCK có một mức giá phí khác nhau tùy

nghề sản xuất thủ công thì không đòi hỏi trình độ người lao động phải cao nhưng lại
đòi hỏi sự khéo léo. Còn trong ngành nghề kinh doanh chứng khoán, một ngành
nghề kinh doanh đặc biệt, sản phẩm của các CTCK chủ yếu là các sản phẩm dịch vụ
tiện ích đòi hỏi hàm lượng chất xám lớn. Chính vì thế mà yêu cầu về trình độ và
chất lượng nguồn nhân lực cũng cao hơn. Ngoài yêu cầu về trình độ kiến thức thì
còn đòi hỏi phải có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tìm kiếm khách hàng, khả năng phân
tích, óc phán đoán nhanh nhạy … Tập hợp những yếu tố này tạo nên một đội ngũ
nhân viên chuyên nghiệp, tạo ra những sản phẩm có chất lượng, thỏa mãn được nhu
cầu ngày càng cao của khách hàng.Đây chính là một trong những nhân tố tạo nên
lợi thế cạnh tranh giữa các CTCK
 Mức độ hiện đại của cơ sở vật chất, phần mềm công nghệ.
Khi gặp một người lần đầu thì cái chúng ta nhìn thấy trước tiên chính là diện
mạo bên ngoài của họ. Cơ sở vật chất chính là diện mạo bên ngoài của các công ty.
Một công ty có cơ sở vật chất khang trang, rộng rãi, đẹp đẽ chắc chắn sẽ được đánh
giá cao hơn, thu hút được sự chú ý của nhiều khách hàng hơn so với các công ty có
cơ sở vật chất nhỏ hẹp. Giống như một bông hoa đẹp, rực rỡ nhiều màu sắc chắc
chắn sẽ thu hút được nhiều loài ong, bướm. Nhưng nếu bông hoa này không có
nhiều mật ngọt thì chúng cũng sẽ nhanh chóng bỏ đi. Các công ty cũng vậy, nếu
như chỉ có cái vỏ mà không có cái chất bên trong thì cũng không thể tạo ra được
những sản phẩm có chất lượng và giữ chân được khách hàng. Đó chính là hệ thống
máy móc thiết bị, bảng điện tử, phần mềm công nghệ hỗ trợ tìm kiếm, phân tích
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
thông tin Đây là những công cụ hỗ trợ tích cực cho cả đội ngũ nhân viên trong
công ty lẫn các khách hàng. Bởi lẽ, đầu tư chứng khoán phụ thuộc rất nhiều vào các
luồng thông tin trên thị trường. Mà thông tin thường rất đa dạng và có từ nhiều
nguồn nên cần phải được sàng lọc một cách cẩn thận trước khi sử dụng. Hệ thống
các thiết bị, phần mềm càng hiện đại thì việc tìm kiếm, sàng lọc thông tin càng dễ
dàng, phân tích thông tin càng chính xác. Điều này sẽ giúp đưa ra những nhận định

cao năng lực cạnh tranh của công ty. Ngược lại, một công ty làm ăn thua lỗ triền
miên, doanh thu không đủ bù đắp chi phí bỏ ra thì sẽ không còn động lực để tiếp tục
hoạt động, chất lượng sản phẩm dịch vụ kém và chắc chắn năng lực cạnh tranh sẽ
không còn.
 Số lượng khách hàng.
Khách hàng chính là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của bất kỳ
doanh nghiệp nào và cũng là động lực thúc đẩy các công ty nâng cao năng lực cạnh
tranh. Trên thị trường, các CTCK luôn tìm cách thu hút khách hàng thông qua giá
phí và chất lượng các dịch vụ tiện ích hỗ trợ khách hàng. Một CTCK có thể thu hút
được khách hàng của các công ty khác, gia tăng số lượng khách hàng của công ty
mình chứng tỏ công ty đó có năng lực cạnh tranh cao. Số lượng khách hàng càng
lơn thì càng chứng tỏ lợi thế cạnh tranh của công ty trong việc thu hút khách hàng.
1.3. Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán.
1.3.1. Đầu tư vào cơ sở vật chất, máy móc thiết bị công nghệ.
Muốn tạo ra được sản phẩm thì trước hết phải có nhà xưởng, máy móc.
Trong CTCK thì nhà xưởng chính là các trụ sở, phòng giao dịch và máy móc chính
là hệ thống các máy vi tính, bảng điện tử và đặc biệt là các phần mềm công nghệ.
Đầu tư vào cơ sở vật chất trong các CTCK chính là hoạt động đầu tư mở rộng và
phát triển mạng lưới hoạt động ở khắp nơi. Một mạng lưới hoạt động rộng khắp sẽ
góp phần tạo lập thêm thị trường, tăng số lượng khách hàng, từ đó gia tăng thị phần
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
của công ty. Còn đầu tư vào máy móc thiết bị chính là việc mua sắm những thiết bị
hiện đại, những phần mềm công nghệ tiên tiến, góp phần phục vụ đắc lực cho hoạt
động giao dịch, tìm kiếm và phân tích thông tin. Từ đó, nâng cao chất lượng sản
phẩm để cạnh tranh trên thị trường.
1.3.2. Đầu tư vào nguồn nhân lực.
Nhân lực chính là nhân tố vận hành hoạt động của một công ty. Một đội ngũ
nhân lực có trình độ cao, chuyên nghiệp sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt,

1.4. Tác động của đầu tư đến nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng
khoán.
Nhân lực và hệ thống máy móc, thiết bị, công nghệ chính là những nhân tố
không thể thiếu trong việc tạo ra các sản phẩm dịch vụ của bất kỳ một loại hình
doanh nghiệp nào. Ngoài ra, việc xây dựng thương hiệu, hình ảnh công ty thông qua
các hoạt động PR, marketing cũng hết sức cần thiết. Tất cả các hoạt động đầu tư cho
nguồn nhân lực, máy móc thiết bị, công nghệ hay đầu tư cho hoạt động PR,
marketing đều tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm dịch vụ cũng như thị
phần hoạt động của một CTCK. Từ đó, tác động đến năng lực cạnh tranh của công
ty đó.
1.4.1. Hoạt động môi giới chứng khoán.
Từ việc đầu tư cho hoạt động PR, marketing sẽ góp phần tạo nên thương
hiệu, hình ảnh của công ty. Kết hợp với đội ngũ nhân viên môi giới được đào tạo
bài bản cả về kiến thức chuyên môn cũng như các kỹ năng giao tiếp, thuyết phục
khách hàng và hệ thống phần mềm hỗ trợ giao dịch hiện đại như phần mềm nhập
lệnh,khớp lệnh … sẽ góp phần làm tăng chất lượng dịch vụ môi giới, thu hút thêm
nhiều khách hàng, làm tăng số lượng tài khoản cũng như giá trị giao dịch. Do đó, thị
phần của công ty sẽ tăng lên.
1.4.2. Hoạt động tự doanh.
Tự doanh chính là hoạt động đem lại nguồn thu chính cho các CTCK. Nhân
tố quan trọng quyết định hiệu quả của hoạt động này chính là nguồn nhân lực, đặc
biệt là đội ngũ lãnh đạo. Do đó, việc đầu tư cho đội ngũ nhân sự tham gia vào hoạt
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
động này là rất quan trọng. Với sự hỗ trợ của các phần mềm công nghệ và các kênh
tìm kiếm thông tin cùng bộ phận phân tích được đào tạo chuyên nghiệp sẽ góp phần
hỗ trợ tích cực cho ban lãnh đạo công ty trong việc ra các quyết định đầu tư đúng
đắn. Từ đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của công ty. Lợi nhuận cao sẽ có
điều kiện để tăng cường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.

hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam với vốn điều lệ hiện nay khoảng trên
2000 tỷ đồng, tông tài sản là trên 31.000 tỷ đồng và 65 điểm giao dịch trên toàn
quốc. Mục đích thành lập TSC của ngân hàng Quân đội là phát triển kinh doanh
chứng khoán, cung cấp bộ sản phẩm ngân hàng – chứng khoán cho các khách hàng
của ngân hàng Quân đội, đồng thời thu hút thêm khách hàng đầu tư chứng khoán sử
dụng các dịch vụ của ngân hàng Quân đội
TSC là một trong năm công ty chứng khoán đầu tiên được thành lập tại Việt
Nam, với vốn điều lệ ban đầu là 9 tỷ đồng. Từ khi thành lập đến nay, TSC luôn giữ
vững vị thế là một trong năm CTCK hàng đầu tại Việt Nam và thực hiện đầy đủ các
nghiệp vụ chứng khoán theo quy định của ủy ban chứng khoán Nhà nước. TSC
không chỉ là địa chỉ tin cậy đối với các nhà đầu tư cá nhân khi tham gia vào TTCK,
mà còn được biết đến với tư cách là một đơn vị cung cấp các dịch vụ tư vấn cổ phần
hóa chuyên nghiệp cho nhiều doanh nghiệp lớn như:viglacera, vinavico, viettronics
Tân Bình, …Không những thế, TSC còn được nhận một số danh hiệu như: thành
viên giao dịch tiêu biểu giai đoạn 2005 – 2007 của sàn giao dịch Hà Nội, danh hiệu
thương hiệu cạnh tranh 2007, danh hiệu tập thể lao dộng vững mạnh toàn diện 2007
Để có được những thành tích đó, kể từ khi thành lập đến nay, công ty đã phải
trải qua một quá trình vận động không ngừng cả về chất và lượng. Công ty đã liên
tục tăng vốn điều lệ và mở thêm các chi nhánh và phòng giao dịch. Cụ thể:
- Tháng 5/2000: được thành lập bởi ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
với vốn điều lệ 9 tỷ đồng và các nghiệp vụ: môi giới, tư vấn, lưu ký chứng khoán.
Trụ sở chính đặt tại 14C – Lý Nam Đế - Hoàn Kiếm – Hà Nội.
- Tháng 3/2003: khai trương chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa đầu tư
- Tháng 8./2003: tăng vốn điều lệ lên là 43 tỷ đồng và trở thành công ty
chứng khoán với đầy đủ các nghiệp vụ theo luật định: môi giới, tự doanh, tu vấn,
bảo lãnh phát hành chứng khoán.
- Tháng 5/2006: tăng vốn điều lệ lên là 80 tỷ đồng, đồng thời tăng số lượng

tự doanh chứng khoán.
Nguyễn Thị Hường Lớp: Kinh tế đầu tư 47D
25
Hội đồng quản trị
Ban quản lý rủi ro
và kiểm soát nội bộ
Ban tổng giám đốc Ban pháp chế
Hội sở Chi nhánh
Khối đầu

Khối tư
vấn doanh
nghiệp
Khối KH
nước ngoài
và tổ chức
Khối tài
chính
Khối hành
chính nhân
sự
Trung
tâm
CNTT
Khối
marketing
Khối môi
giới
Khối
phân tích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status