Hoàng Phủ Ngọc Tường và bút kí:
" Ai đã đặt tên cho dòng sông" A- TÁC GIẢ
Hoàng Phủ Ngọc Tường (sinh 9 tháng 9 năm 1937- ) là hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam (1978).
Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh tại thành phố Huế, nhưng quê gốc ở làng Bích
Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Ở Huế, ông học học hết bậc trung học.
Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Đại học Sư phạm Sài Gòn.
Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế.
Năm 1960-1966, dạy tại trường Quốc Học Huế.
Năm 1966-1975, ông thoát ly lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến
chống Mỹ bằng hoạt động văn nghệ.
Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên-Huế, Chủ tịch
Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.
Hiện nay ông đang sống ở Huế.
Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, cùng
đợt với vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.
[1]
Tác phẩm
Thể loại bút ký:
Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (1972).
Rất nhiều ánh lửa (1979, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980)
Ai đã đặt tên cho dòng sông (1984)
Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984)
Hoa trái quanh tôi (1995)
Huế, di tích và con người (1996)
chơi". Quả thật, anh là một người ham sống đến mê mải, sống và đi, đi để được sống,
với đất nước, với nhân dân, với con người, đi say mê và say mê viết về họ
[4]
Nhà thơ Hoàng Cát:
Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký văn học của riêng
mình. Thế mạnh của ông là tri thức văn học, triết học, lịch sử, địa lý sâu và rộng, gần
như đụng đến vấn đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành thoải
mái ngòi bút được
[5]
Nhà thơ Ngô Minh:
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở
nước ta vài chục năm nay. Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở
tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc, quyến rũ. Đó
là những trang viết tài hoa, tài tử, tài tình Thực ra, bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
chính là những áng thơ văn xuôi cuốn hút người đọc thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường là
vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm, những day dứt triết học, từ sâu thẳm thời gian, sâu
thẳm đất đai vọng lên trong tâm khảm người đọc. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho
rằng thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường thấm đẫm "triết học về cái chết thơ anh buồn mỗi
nỗi buồn đứt ruột Đấy là thơ của cõi âm" Đó là một nhận xét xác đáng
[6]
.
Trên Website vnexpress:
Dường như trong suốt cuộc đời mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị ám ảnh bởi
hoa. Điều đó, dù cuộc đời lận đận những ngày tù cộng với những năm tháng bôn ba
khắc nghiệt của chiến tranh vẫn không tước đoạt nổi của ông Ông viết rất nhiều về
hoa và đặc biệt, ông bị ám ảnh bởi sắc diện phù dung.
[7]
.
rừng), Dòng sông hiện lên với 'khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường
cong thật mềm'.Lưu vực êm ả, thanh bình, vui tươi_giữa những bãi bờ xanh biếc ,
nhiều màu sắc trầm mặc, triết lí.
Những lăng tẩm với 'giấc ngủ nghìn năm của vua chúa đựoc phong kín trong
lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm lan tỏa
khắp cả một vùng thượng lưu'.
Vói những quan sát tinh tế, ngôn ngữ giàu hình tượng, so sánh, ẩn dụ , sông
Hương trong dư vang Trường Sơn, dòng sông mềm như tấm lụa'. 'Những dãy đồi sừng
sững như thành quách, với những đỉnh cao đột khởi :Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo',
những ngọn đồi đã tạo ra nững mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời 'sớm
xanh, trưa vàng ,chiều tím' rất lạ và đặc trưng như người Huề từng nhận xét.
Sự thay đổi tính cách của người con gái sông Hương đưa ta đi từ ngạc nhiên
này đến ngạc nhiên khác, một cô gái Digan,man dại và phóng khoáng đã trở nên dịu
dàng, e lệ, như 'người con gái đẹp được người tình mong đợi đến đánh thức', 'người
mẹ phù sa của cả một vùng văn hóa xứ sở'.
Thoảng đâu đó, mơ hồ mà vang vọng trong tâm thức Huế là tiếng chuông chùa
Thiên Mụ ngân nga, tiến gà từ xóm làng trung du bát ngát,
Theo vancap3.co.cc
_____________________________________
Tình cảm về người con gái mang tên dòng sông cứ miên man chảy trong
tôi khi đọc bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Và entry này như một niềm chia
sẻ với em
Ai đó đã từng viết “ Đất nước có nhiều dòng sông nhưng chỉ có một dòng sông
để thương, để nhớ như đời người có nhiều cuộc tình nhưng chỉ có một cuộc tình để
mãi mãi mang theo”. Vâng, “một dòng sông để thương, để nhớ” của mỗi người rất
khác nhau. Nếu tên tuổi Văn Cao gắn liền với sông Lô hùng tráng; nếu Hoàng Cầm là
nỗi nhớ của ta khi ngang qua “Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh”; nếu Hoài Vũ
mãi là nhà thơ của con sông Vàm Cỏ đêm ngày thao thiết chở phù sa, thì Hoàng Phủ
Ngọc Tường đã song hành cùng sông Hương đi vào trái tim người đọc với “Ai đã đặt
tên cho dòng sông?.”
đến khi giáp mặt với thành phố, đường cong ấy làm cho nàng “mềm hẳn đi, như một
tiếng "vâng" không nói ra của tình yêu”- Cái phút ban đầu để đến với “người tình” của
sông Hương như thế đấy! Nàng đã tự làm mới mình để hiến tặng những gì đẹp nhất
cho người yêu.
Sông Hương - dòng sông thuộc về một thành phố duy nhất - đã rời cuộc sống
hoang dã của rừng để đến với Huế và chỉ Huế mà thôi, nàng như “sông Xen của Paris,
sông Ðanuýp của Buđapet…” chảy trong lòng thành phố yêu quý của mình nhưng
khác ở chỗ nàng đẹp một cách huyền hồ như đang che khuôn mặt diễm kiều bằng tấm
voan sương khói, nàng trôi lặng lẽ với nghìn ánh hoa đăng vào hội rằm tháng 7 bồng
bềnh chao nhẹ trên mặt nước như vương vấn một nỗi lòng . Tôi chợt nhớ đến một câu
nói “có những dòng tình cảm, rất sâu nên rất đỗi lặng lờ”, dòng chảy êm đềm của sông
Hương hay chính là tình yêu sâu lắng mà nàng dâng tặng cho thành phố Huế? Vẻ đẹp
của sông Hương còn là vẻ đẹp của một nền văn hóa, vẻ đẹp của người tài nữ đánh đàn
lúc đêm khuya ,toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh sôi trên mặt sông này
và hơn thế khắp lưu vực sông còn vang vọng những điệu hò dân dã, những điệu hò
thấm đẫm tấm chung tình, thấm đẫm lời thề của sông Hương trước phút chia tay với
Huế mà trôi về biển cả. Nhưng chẳng phải bao giờ sông Hương cũng là người con gái
đằm thắm ,dịu dàng, mềm mại trong lòng Huế, đã có một thời sông Hương “mang tên
là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam”
của Tổ quốc, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân, “dòng sông của thời gian ngân
vang", của lịch sử viết giữa màu cỏ xanh, lá biếc…
Sông Hương được nhìn như một người con gái đến với tình yêu, dâng tặng
những vẻ đẹp mà mình có được cho người yêu, đắm mình trong tình yêu để khám phá
và hoàn thiện bản thân. Từ một dòng sông hoang dại, bí ẩn, nàng đã trở thành một
sông Hương rất mực dịu dàng, rất mực tài hoa, rất mực kiên cường, rất mực hy sinh…
Cho nên, từ khi có được sông Hương, Huế - chàng Kim của nàng- cũng có
nhiều thay đổi. Từ hoang sơ với “cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” hay kiêu hãnh âm
u với những lăng tẩm đền đài đồ sộ, đã hóa thành vẻ đẹp cổ kính mà thơ mộng, khiến
người con của Huế dù đến Pari, Buđapét hay Leningrad vẫn đau đáu nhớ về một thành
phố với nguyên dạng đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Huế càng lung linh hơn khi sông
- Hình tượng dòng Hương qua cảm nhận độc đáo của nhà văn.
- Hình tượng nhân vật tôi nhạy cảm, giàu suy nghiệm.
- Phong cách tùy bút Hoàng Phủ Ngọc Tường.
KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Khái quát:
a. Tác giả:
+ Tiểu sử
- Sinh ra, nhiều năm sống và hoạt động cách mạng, công tác tại Huế > gắn bó
với đất và người nơi đây, am hiểu sâu sắc cội nguồn và linh hồn văn hóa xứ sở.
+ Con người:
- Trí thức yêu nước.
- Vốn hiểu biết sâu rông trên nhiều lĩnh vực.
+ Sáng tác:
- Sở trường: bút kí, tùy bút.
- Phong cách nghệ thuật:
• Sự kết hợp nhuần nhuyễn
o Giữa chất trí tuệ và chất trữ tình.
o Nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều trên nền tảng hiểu biết sâu rộng về triết
học, văn hoá, lịch sử…
• Hành văn: hướng nội (hướng vào bên trong, vào thế giới nội tâm nhiều trăn
trở, thâm trầm, sâu lắng), súc tích, mê đắm, tài hoa.
b. Tác phẩm
+ Xuất xứ:
- Viết tại Huế, 1981.
- In trong tập sách cùng tên > lấy tác phẩm làm nhan đề cho một tập bút kí > vị
trí văn học sử: tác phẩm bút kí tiêu biểu của nhà văn.
+ Bố cục:
- Đoạn 1 (từ đầu - dưới chân núi Kim Phụng): Sông Hương nhìn từ nguồn cội.
- Đoạn 2 (tiếp – quê hương xứ sở): Sông Hương trong mối quan hệ với kinh
thành Huế.
ngột” > linh hoạt, rạo rực sức trẻ và sự khao khát.
- Qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo: “mềm như tấm lụa”
- Qua những dãy đồi tây nam thành phố: ánh lên “những mảng phản quang
nhiều màu sắc” “ sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”
- Qua lăng tẩm đền đài: “vẻ đẹp trầm mặc nhất” “như triết lí, như cổ thi” > so
sánh độc đáo, giàu sức gợi > tả mặt nước phẳng lặng và không gian bờ bãi u tịnh bằng
liên tưởng tới triết học, thơ cổ > nổi bật vẻ thâm nghiêm, bao nhiêu thăng trầm lịch sử,
bao nhiêu dời đổi của các triều đại đã tạo thành trầm tích văn hóa lặn vào vẻ đẹp ngàn
năm không suy xuyển của dòng nước > thấp thoáng hình ảnh một “cái tôi” giàu suy
tư.
- Khi gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ: tươi tắn và trẻ trung
Nhận xét:
• Sông Hương chảy qua nhiều địa danh khác nhau, mỗi địa danh mà chỉ nhắc
thôi ngưòi ta đã thấy bao tầng sâu văn hiến > nhiều dáng vẻ Sông Hương được khám
phá ở nhiều góc nhìn.
• Diện mạo: vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng.
• Bút pháp: kể và tả, sự liệt kê được thơ hoá bằng thụ cảm tài hoa, tinh tế.
+ Sông Hương khi chảy vào thành phố:
- Giữa những biền bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long: Vui tươi hẳn lên > tâm
trạng của một người đi xa “tìm đúng đường về”, nao nức bồi hồi giữa bờ bãi than
thuộc của quê hương.
- Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên: uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn
Hến > làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình
yêu > so sánh lạ, dùng tiếng “vâng” vốn trừu tượng, e ấp, ngập ngừng, ý vị, thiêng
liêng trên bờ môi cô gái đang yêu để tả hình dáng mềm mại nơi cánh cung của dòng
sông > cái nhìn tình từ, thống nhất, đem lại cho người đọc những khoái cảm thẩm mĩ
độc đáo.
- Liên tưởng và suy tư của nghệ sĩ:
• So sánh sông Hương với sông Xen của Paris, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét >
những tên sông đã trở thành linh hồn của thủ đô các nước, thành biểu tượng văn hóa
+ Nỗi lưu luyến khi rời khỏi kinh thành:
- Rời khỏi kinh thành, chếch về hướng chính bắc.
- Sực nhớ điều gì chưa kịp nói > đột ngột đổi dòng dể gặp lại thành phố lần
cuối
- Liên tưởng:
• Rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người ở đây > nỗi vương vấn, chút
lẳng lơ kín đáo của tình yêu
• So sánh: sông Hương, kinh thành Huế - nàng Kiều, Kim Trọng > Tấm lòng
người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở
ð Có 3 so sánh bắc cầu: sông Hương trong khúc ngoặt chia tay kinh thành Huế
-Thúy Kiều trong đêm tình tự gửi lời nguyện thề cùng Kim Trọng – người Châu Hóa
mãi thủy chung với xóm làng > từ dòng chảy khác lạ của dòng sông liên tưởng tới mối
tình kín đáo, e ấp, trước sau như nhất của Kim – Kiều, so sánh với tình yêu quê hương
xứ sở của người Huế > mượn tình cảm riêng để khái quát mối tình chung, làm cho
tình yêu đất, yêu nước không chung chung, to tát mà mềm mại, ý vị, tinh tế, mà đằm
thắm, thiêng liêng, sâu sắc.
c. Đoạn 3: Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử. với cuộc đời và thi ca
+ Trong mối quan hệ với lịch sử:
- Điểm lại dấu ấn dòng sông trong lịch sử dân tộc: thế kỉ XV ở “Dư địa chí”
của Nguyễn Trãi, thế kỉ XVIII qua chiến thắng của anh hùng Nguyễn Huệ, thế kí XIX
với máu của các cuộc khởi nghĩa, đi vào thời đại của cách mạng tháng Tám bằng
những chiến công rung chuyển > tham gia, trải nghiệm cùng những bước thăng trầm
của lịch sử dân tộc.
- Khái quát: Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử
thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm
một chiến công, để rồi nó trở vè với cuộc sống bình thường, làm một người con
gái dịu dàng của đất nước.
ð Nếu như ở đoạn 1 và 2, sông Hương được cảm nhận chủ yếu trên bề rộng của
không gian địa lí với những liên tưởng độc đáo thì ở đoạn này, sông Hương được bố
cục theo chiều sâu của lịch sử. Nó ghi dấu những chiến công, lặng khóc cho những hi
CỦNG CỐ KIẾN THỨC
Đề 1: Phân tích hình tượng sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”
Đề 2: Cảm nhận về cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua “Ai đã đặt tên cho
dòng sông”.
Gợi ý giải đề:
Đề 1:
+ Khái quát:
- Vị trí : hình tượng trung tâm, thể hiện những nét độc đáo về nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm.
- Mô tả tổng quát: Sông Hương qua cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường
hiện lên như một “cô gái Di-gan”: mãnh liệt, mê đắm nhưng không kém phần dịu
dàng, tình tứ, ý nhị.
+ Phân tích:
- Vẻ đẹp của Sông Hương ở thượng nguồn.
- Vẻ đẹp của Sông Hương khi chảy qua kinh thành Huế.
- Vẻ đẹp Sông Hương qua những áng thơ văn.
- Vẻ đẹp hùng tráng trong lịch sử.
+ Đánh giá:
- Khám phá ra một Sông Hương độc đáo, đa sắc.
- Cơ sở:
• Quan sát tinh tế, sự suy ngẫm > đặt Sông Hương trong nhiều chiều (không
gian địa lí, thời gian lịch sử, tâm hồn thi ca, chiều sâu văn hóa, tâm linh…)
• Tài hoa, khả năng liên tưởng và vốn từ vựng phong phú.
- Qua miêu tả sông Hương thể hiện phong cách tùy bút Hoàng Phủ Ngọc
Tường.
Đề 2: Cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường
+ Uyên bác (kiến thức về lịch sử, địa lí, văn hóa…)
+ Tinh tế, tài hoa (cảm nhận những khía cạnh khuất lấp của con sông: nét
hoang dại…; ngôn so sánh độc đáo, ngôn từ phong phú gợi cảm…)
+ Giàu trí tưởng tượng, lãng mạn, bay bổng (tưởng tượng hành trình tìm về cố
tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều “tỡm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca
và âm nhạc”. Có thể thấy đó là một tư thế và tâm thế rất thích hợp với việc bộc lộ
những rung động của tình yêu- một thứ tình yêu rất sâu và rất đắm say của nhà văn
với con sông xứ Huế.
1.2. Cảm hứng và cảm xúc:
+Cảm hứng: niềm say sưa tìm kiếm và khẳng định vẻ đẹp riêng, sức cuốn hút,
quyến rũ riêng của con sông xứ Huế ở các phương diện không gian và thời gian, lịch
sử và văn hoá. Cả bài tuỳ bút dường như là cuộc hành trình tìm kiếm cho câu hỏi đầy
khắc khoải “Ai đã đặt tên cho dòng sông”Và cuộc tìm kiếm, lý giải cái tên của dòng
sông đã trở thành cuộc tìm kiếm đầy hào hứng và say mê không chỉ vẻ đẹp của diện
mạo hình hài mà còn là độ lắng sâu của tâm hồn và rung động. Con sông xứ Huế hiện
lên trong cuộc tim kiếm của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không chỉ là con sông địa lý
mà là một sinh thể, một con người “sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều” vừa xinh
đẹp, vừa tài hoa, vừa thăng trầm chìm nổi cùng lịch sử lại vừa đằm thắm lắng sâu với
nền văn hoá riêng của nó.
+ Cảm xúc: vô cùng phong phú. Có khi nó đựơc bộc lộ trực tiếp với các trạng
thái nội tâm: vừa thích thú, vừa lơ đãng , miên man trong vẻ đẹp của dòng sông đang
đổi sắc không ngừng, nhớ da diết điệu chảy lặng lờ của con sông khi ngang qua thành
phố, cái điệu chảy như một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế trong trăm nghìn
ánh hoa đăng; thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày hoặc trên sân khấu bởi hiểu
sâu sắc rằng nền âm nhạc Huế được sinh thành trên mặt nước sông Hương, là linh hồn
của con sông nên chỉ là chính nó vang lên trong đêm giữa tiếng rơi bán âm của nước
từ những mái chèo khuya. Có khi cảm xúc yêu thương da diết với xứ Huế lại đượcbộc
lộ gián tiếp trong cuộc hành trình lặng lẽ với rất nhiều những tìm kiếm và phát hiện:
Cái “tôi” tác giả khi thì chứng kiến một nghệ nhân già sau nửa thế kỷ chơi nhạc đã
chợt nhận ra khúc nhạc Huế trong những trang Kiều “Trong như tiếng hạc bay qua.
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”, khi bất ngờ và ngỡ ngàng nhận ra điểm tương
đồng giữa con sông và con người ở “nỗi vương vấn và chút lẳng lơ kín đáo của tình
yêu”; có khi lại cũng vì yêu Huế mà đọc văn kiện của Liên Hiệp quốc về Huế bằng sự
rung động thẩm mỹ của tâm hồn để “thấy hiện bóng khuôn mặt quyến rũ và tươi trẻ
nhìn, cách nghĩ và những cảm nhận của con người về nó. ý thức về điều này nên
trong khi tìm hiểu về sông nhà văn cũng rất công phu tìm hiểu về cuộc sống và con
người bên dòng sông ấy. Nghĩa là con sông đã được đặt trong mối quan hệ gắn bó mật
thiết với con người. Trong mối liên hệ ấy, sông đã được soi ngắm từ nhiều góc độ,
thời gian và không gian, văn hoá và lịch sử, sinh hoạt và phong tục, đời sống sinh hoạt
và thế giới tinh thần…Và trong quá trình tìm hiểu “Ai dó đặt tên cho dũng sụng”,
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bộc lộ mình không chỉ là một cái tôi giàu hiểu biết, ham
tìm hiểu mà còn là một cái tôi rất mực tinh tường và vô cùng sâu sắc trong những