LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Thực trạng và giải pháp nhằm
đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng
tại huyện Yên Dũng – tỉnh Bắc Giang
.”
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá tình CNH-HĐH đất nước, nhu cầu sử dụng đất đai
cho các mục đích mở mang phát triển đô thị, xây dựng các khu công nghiệp, khu
du lịch - dịch vụ, khu dân cư, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công
trình khác phục vụ cho sự phát triển kinh tế –xã hội cũng như đảm bảo quốc phòng,
- Điều tra thu thập số liệu.
- Thống kê toán học.
- Phân tích so sánh.
- Phân tích tổng hợp.
Kết cấu nội dung của báo cáo chuyên đề:
Ngoài lời mở đầu, kết luận chung, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt và
tài liệu tham khảo, chuyên đề có kết cấu nội dung như sau:
Chương I: Cơ sở khoa học về giải phóng mặt bằng.
Chương II: Thực trạng về công tác giải phóng mặt bằng tại huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Chương III: Giải pháp nhằm đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng tại
huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
1.1. Khái niệm và đặc điểm của GPMB:
1.1.1. Khái niệm:
lại phải tìm một công việc khác cho thích hợp với nơi ở mới.
1.2. Sự cần thiết của công tác GPMB:
Khi nhà nước ra quyết định thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc
phòng lợi ích công cộng thì Nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho người dân.
Theo luật Đất đai năm 1993, điều 1 " Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước thống nhất quản lý”.
Theo điều 5 của nghị định 22/CP ngày 24/4/1998 "Khi Nhà nước thu hồi đất
để sử dụng vào các mục đích quy định tại điều 1 của nghị định này, tuỳ từng trường
hợp cụ thể, người có đất bị thu hồi được đền bù bằng tiền, nhà ở hoặc bằng đất."
Như vậy trong các văn bản pháp luật đã quy định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý và Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình,
các nhân sử dụng ổn định lâu lâu dài. Do đó khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất để
phục vụ lợi ích quốc gia lợi ích công cộng thì Nhà nước phải bồi thường thiệt hại
cho người dân vì đất đai ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sinh hoạt của người dân
ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của họ. Theo điều 27 của Luật Đất đai thì "Trong
trường hợp thật cần thiết Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì
người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ. Việc bồi thường hoặc hỗ trợ được
thực hiện theo quy định của Chính phủ".
Đất đai nhà ở là một tài sản vô cùng quý giá quan trọng nó có một vị trí đặc
biệt quan trọng gắn liền với cuộc sống của con người. Không những thế nó đánh
dấu mốc giới của lãnh thổ là tài sản của quốc gia. Đất đai vừa là sản phẩm của tự
nhiên vừa là sản phẩm của lao động. Là điều kiện tồn tại của bất kỳ một sinh vật
nào sống trên trái đất, trải qua nhiều thời gian cùng với sự chuyển mình của nền
kinh tế thì đất đai trở thành một tài sản vô cùng quan trọng. Đất đai Việt Nam chủ yếu là đât sản xuất nông nghiệp nhưng theo thời gian và
xu thế chung của thế giới. Xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày càng cao cộng
với nó là xu thế đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ thì nhu cầu về đất đai trở nên ngày
lại của dân cư ngày càng tăng việc sửa chữa nâng cấp các tuyến đường hay làm
tuyến đường mới là rất quan trọng, nó sẽ giải quyết trước mắt được nhu cầu vận
chuyển đi lại của xã hội.
Nhu cầu vui chơi giải trí của đại bộ phận các tầng lớp xã hội đang tăng cao
điều đó cần phải mở rộng các khu vui chơi là nhu cầu cấp thiết không chỉ trước mắt
mà cả lâu dài như: Xây dựng các trung tâm thể thao, câu lạc bộ văn hoá để phục vụ
cho các nhu cầu trên
Để đáp ứng được các nhu cầu đang trở thành mối bức xúc mà toàn xã hội đang
quan tâm thì việc giải phóng mặt bằng là một tất yếu khách quan. Đây là một biện
pháp quan trọng để thúc đẩy việc xây dựng các công trình phục vụ cho phát triển xã
hội cũng như quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ ở các đô thị trong cả nước.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác giải phóng mặt bằng:
1.3.1. Giá cả đất đai:
- Một khu đất ban đầu có thể giá trị không quá lớn nhưng khi có thông tin về
việc quy hoạch cho rằng khu đất sẽ có giá sẽ làm cho giá đất hoàn toàn thay đổi và
làm thay đổi toàn bộ kế hoạch giải phóng mặt bắng. Đó là yếu tố tâm lí của con
người và rất khó để nhận biết và xác định giá trị.
-Cung cầu đất trên thị trường là một nhân tố có ảnh hưởng lớn đến giá đất. Nếu
cung đất mà lớn hơn cầu về đất đai, thì giá cả đất đai có xu hướng giảm xuống; còn
nếu cầu về đất lớn hơn cung về đất thì giá cả có xu hướng tăng lên. Trong thực tế
hiện nay, giá đất thường có xu hướng tăng lên đặc biệt là ở các đô thị, giá đất tăng
lên rất cao có nơi giá đất lên tới 15-23cây/m
2
do diện tích đất đai có hạn mà cầu về
đất đai tăng lên rất nhiều so với cung đất.
-Giá cả đất đai phụ thuộc vào hai nhân tố là mức địa tô thu được trên mảnh đất
hàng năm (địa tô chênh lệch I do độ phì nhiêu của đất mang lại và địa tô chênh lệch
II do khả năng đầu tư cải tạo trên từng mảnh đất của nhà kinh doanh tạo ra ). Giá
đất còn phụ thuộc vào tỷ suất lợi tức tiền gửi ở ngân hàng tính theo năm.
rộng rãi; mức độ tác động của Nhà nước vào quan hệ đất đai như thế nào; sự gọn nhẹ của công tác hành chính; sự điều tiết vi mô của Nhà nước và đường lối lãnh đạo
của Đảng là một động lực làm nâng cao hay hạ thấp giá trị của đất, làm cho giá đất
lên cao hay xuống thấp; biến động lớn hay là ổn định.
1.3.6. Những quy định của pháp luật:
-Những quy định pháp luật hiện hành luôn là yếu tố ảnh hưởng khá lớn đến
công tác giải phóng mặt bằng, có thể tại 1 thời điểm trước đó các tiêu chí áp dụng
cho việc giải phóng mặt bằng cho 1 khu vực cụ thể là hợp lí nhưng ở 1 thời điểm
khác hoặc 1 khu vực đăc biệt khác tiêu chí đánh giá đó lại ko hợp lí và không phù
hợp với quy định của pháp luật. Bởi vậy cần nghiên cứu chi tiết về các văn bản quy
phạm pháp luật tại thời điểm hiện hành để áp dụng sao cho hợp lí nhất.
1.3.6. Trình độ đội ngũ thực hiện công tác giải phóng mặt bằng:
1 nhân tố khả chủ quan trong công tác giải phóng mặt bằng đó chính là trình
độ của đội ngũ quản lí và thực hiên công tác giải phóng mặt bằng.Việc giải phóng
diễn ra 1 cách nhanh chóng và thuận lợi hay không phụ thuộc vào năng lực vận
động cũng như thực hiện của cá nhân những người quản lí.
1.4. Các bước thực hiện giải phóng mặt bằng và đền bù thiệt hại:
Bước 1: Thống nhất thực hiện công tác bồi thường.
- Chủ đầu tư liên hệ Tổ chức thực hiện công tác Bồi thường để ký kết hợp
đồng kinh tế về việc bồi thường, GPMB (Ban Bồi thường các dự án hoặc Ban Bồi
thường huyện Yên Dũng).
- Các loại giấy tờ phải có trước khi ký kết hợp đồng: văn bản chấp thuận địa
điểm, chủ trương đầu tư và giấy chứng nhận đầu tư (có trong hồ sơ dự án đầu tư);
trích lục bản đồ địa chính khu đất; bàn giao mốc giới thực địa.
Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi.
- Chủ đầu tư liên phòng tài nguyên môi trường huyện Yên Dũng để trích lục
bản đồ địa chính khu đất thu hồi; trích sao hồ sơ địa chính; lập danh sách các thửa
đất bị thu hồi (số hiệu thửa, tên người sử dụng, diện tích thửa, mục đích sử dụng)
- Sau 20 ngày có quyết định thu hồi đất, phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Yên Dũng có trách nhiệm trình UBND huyện ra quyết định thu hồi đất cho
từng thửa đất
- Trong thời gian không quá 05 ngày kể từ ngày nhận được tờ trình của cơ
quan Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện có trách nhiệm ký quyết định thu hồi
đất.
Bước 7: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định thu hồi đất.
- Sau khi Tổ chức thực hiện bồi thường nhận được quyết định thu hồi đất của
từng thửa đất thì tiến hành niêm yết công khai quyết định thu hồi đất
- Tổ chức thực hiện bồi thường tiếp nhận ý kiến đóng góp, giải quyết thắc
mắc; tập hợp những khiếu nại về quyết định thu hồi đất đề nghị phòng Tài nguyên
và Môi trường Yên Dũng làm thủ tục đề nghị UBND huyện điều chỉnh quyết định
thu hồi đất
- Chủ đầu tư phải làm thủ tục giao đất, thuê đất (do phòng Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn cụ thể).
Bước 8: Kê khai, kiểm kê tài sản thiệt hại và xác định nguồn gốc đất đai.
- Tổ chức thực hiện bồi thường ra thông báo về kế hoạch thực hiện công tác kê
khai, kiểm kê gửi chủ đầu tư, UBND huyện, UBND cấp xã có đất bị thu hồi và
thông báo cho các hộ dân trong vùng dự án biết để thưc hiện kiểm kê.
- UBND cấp xã ra quyết định thành lập tổ tham gia công tác bồi thường thuộc
dự án
- Nội dung kiểm kê: phát tờ khai theo mẫu, lập biên bản kiểm kê. Làm việc với
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu
hồi để xác định nguồn gốc sử dụng đất; xác định các trường hợp được bồi thường,
được hỗ trợ, được tái định cư .
Bước 9: Lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình cấp thẩm quyền
thẩm định.
Trong thời gian 20 ngày kể từ ngày chi trả tiền Tổ chức thực hiện bồi thường
phối hợp với UBND xã giải quyết những thắc mắc phát sinh và tiến hành giải phóng
mặt bằng (đốn chặt cây cối hoa màu, tháo dỡ nhà cửa và các công trình khác).
Bước 14: Lập biên bản bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư tại thực địa.
Tổ chức thực hiện bồi thường mời chủ đầu tư, đại diện UBND huyện, xã đến
tại thực địa để lập biên bản bàn giao mặt bằng Dự án cho chủ đầu tư.
Bước 15: Cưỡng chế thu hồi đất (nếu có).
- Đã quá 30 ngày, kể từ thời điểm phải bàn giao đất quy định tại bước 13 mà
người có đất bị thu hồi không bàn giao đất thì Tổ chức thực hiện bồi thường lập thủ
tục cưỡng chế thu hồi đất.
- Sau khi có đề nghị của Tổ chức thực hiện bồi thường, Ủy ban nhân dân cấp
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ra quyết định cưỡng chế.
- Giao quyết định cưỡng chế và niêm yết công khai quyết định cưỡng chế tại
trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Sau 15 ngày, kể từ ngày giao quyết định cưỡng chế mà người bị cưỡng chế
không bàn giao đất thì UBND cấp huyện chỉ đạo, tổ chức lực lượng cưỡng chế thu
hồi đất theo quy định của pháp luật.
Bước 16: Thanh quyết toán các khoản chi phí.
Tổ chức thực hiện bồi thường phối hợp với chủ đầu tư rà soát toàn bộ số liệu
chi trả để làm biên bản thanh quyết toán dự án.
1.5 . Những quy định của pháp luật về giải phóng mặt bằng:
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về hỗ trợ, tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn
thi hành Nghị Định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về Quy định bổ
sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai…
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG VÀ
ĐỀN BÙ THIỆT HẠI TẠI HUYỆN YÊN DŨNG
TỈNH BẮC GIANG
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Yên Dũng – Bắc
Giang:
2.1.1. Vị trí địa lí :
Huyện Yên Dũng nằm ở phía nam tỉnh Bắc Giang , Yên Dũng có núi Nham
Biền chạy theo hướng Đông-Tây. Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh với ranh giới là
sông Cầu, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương với ranh giới là sông Lục Đầu, phía Bắc
giáp huyện Lục Nam và phía Tây giáp thành phố Bắc Giang. Phần lớn diện tích là
đồi núi Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh)
là chia cắt mạnh, phức tạp chênh lệch về độ cao lớn. Nhiều vùng đất đai còn tốt, đặc
biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên. Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn
quả, cây công nghiệp như vải thiều, cam, chanh, na, hồng, đậu tương, chè ; chăn
nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản.
Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh)
là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng rộng, hẹp tùy theo từng khu vực. Vùng trung du có
khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp,
chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác.
2.1.2. Diện tích, dân cư, giao thông:
Huyện Yên Dũng có diện tích 213km
2
và dân số là 163.000 người (năm 2004).
Huyện ly là thị trấn Neo cách thành phố Bắc Giang khoảng 15km về hướng đông
nam. Chảy xuyên qua huyện Yên Dũng là con sông Thương uốn lượn cung cấp phù
sa cho các xã Tân Tiến, Xuân Phú, Tân Liễu, Tiến Dũng, Chí Yên, Lão Hộ. Tỉnh
Bắc Giang nối tiếng với ba con sông lớn chạy xuyên qua tỉnh là sông Lục Nam sông
Thương, và sông Cầu. Cả ba con sông này đều chảy qua huyện Yên Dũng và hội tụ
chế biến lâm sản và nuôi trồng thuỷ sản.
- Tài nguyên rừng
-Đến hết năm 2005 Bắc Giang có 129.164 ha đất lâm nghiệp đã có rừng, và gần
30.000 ha đất núi đồi có thể phát triển lâm nghiệp. Trữ lượng gỗ có khoảng 3,5 tr.m
3
, tre nứa khoảng gần 500 triệu cây. Ngoài tác dụng tàn che, cung cấp gỗ, củi,
dược liệu, nguồn sinh thuỷ, rừng Bắc Giang còn có nhiều sông, suối, hồ đập, cây
rừng nguyên sinh phong phú tạo cảnh quan, môi sinh đẹp và hấp dẫn.
-Tài nguyên khoáng sản
-Đến hết năm 2005 Bắc Giang đã phát hiện và đăng ký được 63 mỏ với 15 loại
khoáng sản khác nhau bao gồm : than, kim loại, khoáng chất công nghiệp, khoáng
sản, vật liệu xây dựng. Phần lớn các khoáng sản này đã được đánh giá trữ lượng
hoặc xác định tiềm năng dự báo.
-Tuy không có nhiều mỏ khoáng sản lớn nhưng lại có một số loại là nguồn
nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp của tỉnh như mỏ than đá ở Yên
Thế, Lục Ngạn, Sơn Động có trữ lượng khoảng hơn 114 triệu tấn, gồm các loại
than: antraxit, than gầy, than bùn. Trong đó mỏ than Đồng Rì có trữ lượng lớn
(107,3 triệu tấn) phục vụ phát triển quy mô công nghiệp trung ương. Quặng sắt ước
khoảng 0,5 triệu tấn ở Yên Thế. Ngoài ra gần 100 nghìn tấn quặng đồng ở Lục
Ngạn, Sơn Động; 3 triệu tấn cao lanh ở Yên Dũng. Khoáng sản sét cũng có tiềm
năng lớn, sử dụng làm gạch ngói, với 16 mỏ và điểm mỏ, tổng trữ lượng khoảng
360 triệu m
3
, chủ yếu ở các huyện: Việt Yên, Lạng Giang, Lục Nam, Yên Thế, Hiệp
Hoà. Trong đó có 100 m
3
sét làm gạch chịu lửa ở Tân Yên, Việt Yên; sỏi, cuội kết ở
Dũng về quy hoạch giải phóng mặt bằng:
Chủ yếu dựa vào các quy phạm pháp luật được quy định tại luật đất đai
2003 và các văn bản pháp luật liên quan như:
Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày
27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định hướng
dẫn thi hành Luật Đất đai;
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về hỗ trợ, tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất, Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004
của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị Định số 197/2004/NĐ-CP của Chính
phủ; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về Quy định bổ
sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Quyết định số 06/2005/QĐ-UB ngày 31/01/2005 của UBND tỉnh Bắc giang
V/v Ban hành Quy định chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất áp dụng thống nhất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; Hướng dẫn số 01/HDLN
ngày 11/5/2005 của Liên ngành Sở Tài chính, sở Tài nguyên và Môi trường, Sở
Xây dựng về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 06/2005/QĐ-UB của UBND tỉnh
Bắc Giang; Quyết định số 70/2007/QĐ-UBND ngày 21/8/2007 của UBND tỉnh
Bắc Giang V/v sửa đổi, bổ sung đơn giá BT thiệt hại tài sản là nhà cửa, vật kiến
trúc; Hướng dẫn số:952/HDLN ngày 12/9/2007 của liên sở Tài chính-Xây dựng thực
hiện quyết địng số 70/2007/QĐ-NBND ngày 21/8/2007;
Quyết định số 85/2006/QĐ-UBND ngày 22/12/2006 của UBND tỉnh Bắc Giang về
việc Ban hành bảng mức giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang;
Hướng dẫn số 01/HDLN-TC-TN&MT ngày 27/12/2006 của Sở Tài chính, sở
TN&MT V/v thực hiện Quyết định số 85/2006/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc
Giang;
đầu tư khó khăn, người dân bị thu hồi đất đòi hỏi mức đền bù cao.
- Việc áp dụng cơ chế, chính sách của một số ngành vào thực tiễn trên
địa bàn còn chậm và lúng túng, đặc biệt ở thời điểm chính sách Nhà nước
có điều chỉnh, thay đổi, gây thắc mắc khiếu kiện của người sử dụng đất bị
thu hồi.
- Chính sách giao đất, bán nhà ở tái định cư chưa có sự thống nhất trên
địa bàn và khu vực dẫn đến nghi ngờ thắc mắc trong nhân dân.
- Các dự án sử dụng vốn vay và vốn ngoài ngân sách đã áp dụng các
mức hỗ trợ thêm trên cùng địa bàn gây không ít khó khăn cho việc giải
thích và tổ chức thực hiện.
- Việc đền bù thiệt hại về đất ở theo giá thị trường tại thời điểm đền bù
rất khó thực hiện, vì mức giá này luôn thay đổi và trên thực tế không có số
liệu thống kê cập nhật. Khi lập phương án đền bù mức giá này dựa trên các
số liệu điều tra không chính xác nên khó thống nhất. Mức giá thị trường
này có thể tăng đột ngột do các yếu tố quy hoạch (nhất là các tuyến đường
chính, khả năng sinh lợi cao), có chênh lệch rất lớn so với mức giá trị tại
thời điểm lập phương án đền bù thiệt hại, gây khó khăn cho việc đền bù GPMB, việc đền bù thiệt hại về đất ở theo giá thị trường tại thời điểm đền
bù sẽ rất phức tạp do phải thay đổi liên tục.
- Nhiều dự án yêu cầu của một số hộ dân mang tính mặc cả, mức giá
đền bù đắt, phải điều chỉnh liên tục. Vì vậy, cần phải có khung giá đất để
tính đền bù thiệt hại do Nhà nước ban hành.
- Chính sách đền bù GPMB chưa được đặt ra đối với trường hợp có
diện tích còn lại sau GPMB quá nhỏ hoặc hình dạng không phù hợp với
kiến trúc đô thị do công tác quy hoạch chưa đồng bộ giưã GPMB với chỉnh
trang sau GPMB làm xuất hiện nhiều công trình mất mỹ quan, không đảm
bảo an toàn trên các tuyến phố mới được xây dựng.
- Trên địa bàn huyện có nhiều dự án có quy mô sử dụng đất lớn, phải
công trình;
- Thời gian giải phóng mặt bằng xây dựng phải đáp ứng tiến độ thực hiện của
dự án đầu tư xây dựng công trình đã được phê duyệt.
- Chính phủ quy định nguyên tắc, phương pháp và khung giá đền bù tài sản khi
giải phóng mặt bằng xây dựng làm cơ sở cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định giá
đền bù của địa phương mình.
- Tổ chức, cá nhân có tài sản trong phạm vi mặt bằng xây dựng, đã được giải
quyết đền bù theo đúng quy định mà không thực hiện thì bị cưỡng chế và chịu hoàn
toàn chi phí cho việc cưỡng chế.
- Người nào cố ý làm sai quy định về đền bù tài sản khi giải phóng mặt bằng xây
dựng để vụ lợi hoặc gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì tùy theo mức
độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Tình hình sử dụng đất và các dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa
bàn huyện Yên Dũng:
2.2.2.1.Tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Dũng những năm vừa
qua: Trong những năm vừa qua có số lượng không nhiều các dự án đầu tư được
thực hiện trên địa bàn huyện Yên Dũng,chủ yếu là quy hoạch để chuyển đổi mục
đích sử dụng đất,Bồi thường để lấy đất đắp đê và bồi thường để xây dựng các dự án
khu công nghiệp.Quy hoạch các vùng đất nông nghiệp phục vụ cho việc đắp đê cụ
thể như : Thu hồi đất tổng thể Cụm công nghiệp Vân Trung tại xã Nội Hoàng, huyện
Yên Dũng để lập phương án Bồi thường giải phóng mặt bằng và giao đất cho Trung tâm
phát triển quỹ đất quản lý theo quy hoạch.
Thực trạng về giải phóng mặt bằng tại huyện Yên Dũng những năm vừa qua:
- Thu hồi: 749.347,2 m
2
đất nông nghiệp của 644 hộ gia đình, cá nhân đang sử
Đất nông nghiệp hạng 4 đã được giao trên địa bàn Xã Phấn Sơn:268.698,6 m
2.
Đất nông nghiệp hạng 5 đã được giao trên địa bàn Xã Nội Hoàng:107.714,1 m
2.
Đất nông nghiệp hạng 6 đã được giao trên địa bàn Xã Tân An:10.580,0 m
2 Giao cho Tập đoàn Hồng Hải 86,7 ha đất, chỉ đạo bảo vệ tốt thi công san lấp
mặt bằng khu công nghiệp Vân Trung tại xã Nội Hoàng.
Đến nay đã có 94 tổ chức, cá nhân được chấp thuận đầu tư vào địa bàn với
tổng số vốn đăng ký trên 2.000 tỷ đồng và 37,59 triệu USD.
Nhà ở tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng để thực hiện các
dự án phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện Yên Dũng theo số liệu
điều tra sơ bộ của các dự án đầu tư lớn trên địa bàn huyện đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt hoặc đang trình phê duyệt là:
- Dự án khu công nghiệp Đình Trám và phía nam đường vành đai 3:
1.200 hộ (huyện Tân Yên). Tổng diện tích 25 ha
- Dự án thoát nước liên xã huyện (5 tuyến tả hữu sông Thương ) :
1.300 hộ
- Dự án đường liên thôn liên xã: 360 hộ Từ xã Tân liễu đến xã Đồng
Sơn. Kéo dài 10km
- Để triển khai thực hiện các dự án trong điểm trên trong các năm tới,
huyện Yên Dũng cần chuẩn bị quỹ nhà ở, đất ở tái định cư để di chuyển
5.463 hộ dân trong diện phải GPMB (gồm 1.629 hộ là đất canh tác, 3.504
hộ là đất ở).
- Khu vực giải phóng phục vụ cho xây dựng Cụm công nghiệp: 1.629
bằng.
2.2.2.2 .Vai trò của giá đất trong việc giải phóng mặt bằng:
Khi tiến hành quá trình giải phóng mặt bằng đồng nghĩa với việc nhà nước đã
thu hồi phương tiện sản xuất của người dân bởi vậy muốn quá trình quy hoạch diễn
ra 1 cách thuận lợi phải đạt được thỏa thuận giữa nhà nước và người dân bị thu hồi
đất 1 cách hợp lí về giá cả loại đất bị thu hồi.
Trong quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng gặp rất nhiều khó khăn như vấn
đề thuyết phục dân di dời, phổ biến nội dung cụ thể của dự án, lập khu tái định cư
mới dành cho người dân, đặc biệt là vấn đề xác định mức giá đền bù thiệt hại như
thế nào đang là một nội dung quan trọng quyết định sự thành công của công việc
giải phóng mặt bằng.
Giá đất để tính đền bù thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh
tế giữa Nhà nước với người bị thu hồi đất với người được giao đất (chủ dự án ). Giá
đất để tính đền bù thiệt hại phải vừa đảm bảo được lợi ích cá nhân của người bị thu
hồi đất, vừa đảm bảo lợi ích của chủ dự án và lợi ích chung của Nhà nước. xác định
mức giá đền bù giải phóng mặt bằng phải phù hợp với giá thực tế của giá chuyển
nhượng đất đai. Việc xác định được mức giá đền bù hợp lí sẽ thúc đẩy quá trình giải
phóng mặt bằng sớm hơn, dự án được đưa vào thực hiện sớm hơn, người dân ủng
hộ và nhanh chóng di dời trả lại mặt bằng cho Nhà nước. Từ đó, hấp dẫn được các
chủ đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, các
khu nhà ở hệ thống giao thông … và có thể giảm bớt được những thiệt hại do quá
trình chậm trễ trong khâu giải phóng mặt bằng; góp phần thúc đẩy kí kết các hợp