TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Hồ Chí Minh
I. Tìm hiểu chung
1. Hoàn cảnh lịch sử
- Ở miền Nam, thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh (thay mặt quân Đồng
minh vào giải giáp quân Nhật) đang tiến vào Đông Dương còn ở phía Bắc, bọn Tàu
Tưởng và tay sai, đã trực sẵn ở biên giới. Bọn phản động tìm cách ngóc đầu dậy hòng
lật đổ chính quyền cách mạng.
- "Mâu thuẫn giữa Anh- Mỹ- Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh và Mỹ nhân
nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương" (nhận định của Đảng trong Hội
nghị toàn quốc ngày 15 tháng 8 năm 1945).
- Thời gian này, hội nghị Tê-hê-răng và Xanh Frăng-xcô đưa ra giao ước : các
nước thắng trận được trở lại cai trị các nước đã từng là thuộc địa, còn các nước là
thuộc đìa của phe Phát xít thì quân Đồng minh sẽ đến giải giáp và giao quyền tự trị
cho nước đó. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược lần thứ hai của mình, Pháp đã tung ra
trước dư luận quốc tế : Pháp có quyền quay trở lại Đông Dương.
2. Đối tượng, mục đích
a) Đối tượng
+ Toàn thể quốc dân đồng bào .
+ Toàn thế giới. Trước hết là bọn đế quốc (Anh- Pháp- Mỹ), đặc biệt là Pháp,
kẻ đang lăm le trở lại xâm lược. Sự khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc cũng
đồng thời là một cuộc đấu tranh chính trị nhằm bác bỏ luận điệu của bọn xâm lược.
b) Mục đích
+ Công bố nền độc lập tự do của dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam mới.
+ Cương quyết bác bỏ luận điệu và âm mưu xâm lược trở lại của các thế lực
thực dân đế quốc.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Bố cục
Có thể chi làm 2 phần :
a) Phần 1 : từ đầu đến “chứ không phải từ tay Pháp” - Cơ sở pháp lí và cơ sở
Chủ tịch trong lòng dân thế giới- NXB Sự thật Hà Nội, 1979).
+ Như vậy, có thể xem luận điểm được "suy rộng ra" của Hồ Chí Minh là phát
súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các nước thuộc địa, báo hiệu sự sụp đổ
của chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX.
2.2- Về cơ sở thực tế
a) Hồ Chí Minh đã đưa ra những dẫn chứng thực tế không thể chối cãi để
vạch tội theo lối bác bẻ ngụy luận của thực dân Pháp.
+ Thứ nhất, thực dân Pháp kể công "khai hóa", Bác đã lên án chúng trên mọi
phương diện (chính trị, kinh tế, văn hóa). Thủ tiêu mọi quyền chính đáng, tắm máu
các phong trào yêu nước, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc, bần cùng hóa, gây ra
nạn đói khủng khiếp hơn hai triệu người chết đói,… Tất cả những việc mang danh
“khai hóa” của thực dân Pháp trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
+ Thứ hai, thực dân Pháp kể công "bảo hộ", Bác nêu rõ : chúng không những
không bảo hộ được mà "trong vòng 5 năm đã bán nước ta hai lần cho Nhật". Không
những thế, khi bị phát xít Nhật đảo chính, chính đoàn thể yêu nước, cách mạng của
nhân dân Việt Nam ( Việt minh) đã cứu giúp nhiều người Pháp, bảo vệ cả tính mạng
và tài sản của họ.
+ Thứ ba, thực dân Pháp luôn tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của Pháp,
Pháp có quyền trở lại Đông Dương. Bác vạch rõ: "Sự thật là từ mùa thu 1940, nước ta
đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải là thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng
Đồng minh, nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa" là từ tay phát xít Nhật.
Tất cả cách đưa dẫn chứng theo phép liệt kê trên đều lập luận kiểu “gậy ông
đập lưng ông”. Từng “gậy” rắn chắc, mạnh mẽ, dứt khoát, không thể chối cãi, không
chống đỡ được.
b) Chủ đích là, bác bỏ mọi sự dính líu của Pháp ở Việt Nam. Khẳng định
Việt minh, tổ chức yêu nước – cách mạng của Việt Nam là một lực lượng của phe
Đồng minh đánh đuổi phát xít Nhật để giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.
3. Đọc- hiểu nội dung phần thứ hai
3.1- Mở đầu phần tuyên ngôn
không thể tuyên bố về sự độc lập. Đó là tuyên bố không chịu sự lệ thuộc và xoá bỏ
mọi đặc quyền của Pháp.
- Thứ hai, lời tuyên bố vô cùng tinh tế, sâu sắc và chặt chẽ. Xóa bỏ là xóa bỏ
các quan hệ thực dân với Pháp, không xóa bỏ quan hệ tốt đẹp, không từ chối quan hệ
hữu nghị. Lại viết, “xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam”,
không phải kí với nước Việt Nam. Kí "về" là kí có tính chất áp đặt, ép buộc, gồm cả
những hiệp ước kí với nước ngoài về Việt Nam. Khác hẳn kí "với" là kí trên tinh thần
bình đẳng, hợp tác.
Thứ ba, lời tuyên bố sử dụng phép lặp và một trường từ vựng có tính chất mạnh
: "thoát li hẳn", "xóa bỏ hết", "xóa bỏ tất cả" thể hiện lập trường kiên định, thái độ dứt
khoát, vấn đề đặt ra không thêt khoan nhượng. Có những hàm ý tinh tế nhưng rõ ràng
: “Pháp” là chính phủ Pháp ở chính quốc, thực dân Pháp ở Việt Nam, không phải nhân
dân Pháp. Hay luôn luôn viết “nước” Việt Nam, nghĩa là nhấn mạnh tính thống nhất
đất nước. Mặc nhiên phủ nhận sự chia cắt nước ta thành 3 kì của thực dân Pháp.
c) Tuyên bố cuối cùng là tuyên bố về quyền tự do, độc lập và sự ra đời của
nước Việt Nam tự do độc lập.
Để dến tuyên bố này, tác giả đã dẫn giải ba sự thật không thể chối cãi và một
nguyên tắc. Đó là sự thật, dân tộc Việt Nam đã đấu tranh trường kì với thực dân Pháp
để có tự do, độc lập ; dân tộc Việt Nam đã đứng về phe Đồng Minh chống phát xít ;
Việt Nam đã là nước tự do độc lập. Nguyên tắc đưa ra là nguyên tắc về quyền bình
đẳng của các dân tộc. Một nguyên tắc được thế giới trong đó có các nước Đồng minh
thừa cơ “đục nước béo cò” (Tàu Tưởng), đang âm mưu giúp thực dân Pháp trở lại xâm
lược và cai trị nước ta (Anh, Mĩ) thông qua. Đây chính là cơ sở vững chắc để tuyên bố
độc lập. Vì đảm bảo tính pháp lí, đạo lí, thực tế và phù hợp với công ước quốc tế.
d) Về phương diện diễn đạt, đều là câu khẳng định, thiên về các từ “nóng”
(quyết, phải, không thể không, toàn thể, tất cả, ), khi điệp từ ngữ (gan góc, dân
tộc, ), khi song hành cú pháp (Một dân tộc đã, dân tộc đó phải được, ), khi mạnh
mẽ, khi mềm mại, uyển chuyển (Chúng tôi tin rằng, ) đã tạo nên âm hưởng hào hùng,
đanh thép , trang trọng của một đoản khúc anh hùng ca nhưng vẫn nồng nàn, tha thiết.
4. Nghệ thuật chính luận trong Tuyên ngôn độc lập
Hoa.
2- Một áng văn chính luận xuất sắc. Tác phẩm là tiếng nói của một trí tuệ lớn
lao, cũng là của một trái tim nồng nàn yêu nước, thương nòi .
3- Tác phẩm sẽ trường tồn không chỉ vị giá trị lịch sử mà còn vì sự lay động
mãi mãi trái tim con người.