Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
Song Thành
Tạp chí Triết học
08:57' PM -
Thứ năm,
24/05/2007
Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là sự vận dụng thuần thục
phương pháp biện chứng duy vật macxít
Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về phương pháp. Nhưng trong
thực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng
tạo và nhuần nhuyễn các nguyên lý của phép biện chứng duy vật macxít kết
hợp với các yếu tố biện chứng của triết học phương Đông qua đó tạo nên
một hệ thống phương pháp riêng của mình, rất macxít mà cũng rất Hồ Chí
Minh, không trộn lẫn được. Vì vậy, có thể nói, có phương pháp biện chứng
của Hồ Chí Minh, phương pháp đó vẫn là phương pháp biện chứng của chủ
nghĩa Mác - Lênin nhưng đã được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam để xử lý thành công những vấn đề do thực tiễn cách
mạng Việt Nam đặt ra, nó in đậm màu sắc Việt Nam - Hồ Chí Minh và bằng
cái riêng đã làm phong phú thêm cái chung.
Vậy nội dung và đặc điểm của phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là gì?
Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng
và cái chung.
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, đó là quan điểm cốt lõi nhất của nhận
thức luận macxít và cũng là nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.
Theo quan điểm của C.Mác: "ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được
thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy".
Nói cách khác, lý luận chỉ được coi là đúng đắn khi nó đáp ứng được nhu
cầu thực tiễn của mỗi dân tộc.
Hồ Chí Minh cũng quan niệm: "Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong
kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét so sánh thật kỹ lượng, rõ
mặt đối lập.
Theo quan điểm macxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là
hiện tượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và đấu tranh để đi tới
chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động
và phát triển.
Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn. Người viết: "Cái
gì cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh có tử, có
quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu thuẫn sẵn có trong
mọi sự vật".
Mâu thuẫn có nhiều loại với bản chất khác nhau: có mâu thuẫn bên trong và
bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không
đối kháng. Vì vậy, phân tích mâu thuẫn là điều kiện để nhận thức đúng sự
vật. Hồ Chí Minh chính là một bậc thầy trong nhận thức, phát hiện và xử lý
mâu thuẫn.
Trong đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp có nhận thức, phát hiện đúng
mâu thuẫn mới xác định rõ kẻ thù và bạn đồng minh, mới đề ra được chiến
lược, sách lược, bước đi đúng đắn cho mỗi giai đoạn của cách mạng.
Vận dụng phép biện chứng duy vật vào phân tích xã hội thuộc địa, nửa
phong kiến Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra hai mâu
thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn vốn có của xã hội phong kiến là mâu thuẫn
giữa nông dân và địa chủ phong kiến và hai là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân
tộc Việt Nam với bọn thực dân xâm lược Pháp, từ đó Hồ Chí Minh xác định
nhân dân Việt Nam có hai kẻ thù chính là đế quốc và phong kiên tay sai,
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ cơ bản là
chống đế quốc giành lại độc lập cho dân tộc và chống phong kiên đem lại
ruộng đất cho dân cày.
Tuy xác định xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ
bản, nhưng trong việc xử lý mâu thuẫn, Hồ Chí Minh không coi hai mâu
thuẫn đó ngang nhau, phải tiến hành song song, đồng thời. Theo Hồ Chí
mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng.
Quân đội Tưởng vào miền Bắc có ba thế lực: cánh Lư Hán thuộc Đệ nhất
chiến khu Vân Nam, cánh Tiêu Văn thuộc Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, cánh
Chu Phúc Thành thuộc quân khu Trung ương Trùng Khánh. Chúng giống
nhau về mục tiêu "diệt cộng, cầm Hồ" để dựng lên chính phủ tay sai, phục
vụ cho mưu đồ lâu dài của chúng, nhưng mâu thuẫn với nhau về lợi ích cá
nhân. Biết Lư Hán vốn có tư thù sâu sắc với Tưởng Giới Thạch và cả với
Pháp (vì đã bị Pháp tịch thu mấy chuyến hàng lớn trên tuyến đường sắt Hải
Phòng Côn Minh), Hồ Chí Minh đã chủ động tới thăm chúng nhằm tranh thủ
Lư Hán, đồng thời, nhượng bộ cho vợ chồng Tiêu Văn một số đặc quyền
kinh tế để cô lập cánh Chu Phúc Thành Nhờ đó, chúng ta buộc họ phải
thay đổi thái độ đối với Chính phủ Hồ Chí Minh, đã sử dụng được lực lượng
quân đội Tưởng làm bình phong, ngăn chặn quân đội Pháp đang lăm le ra
miền Bắc.
Trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Pháp cũng chia thành hai phe: cánh
diều hâu chủ chiến, đứng đầu là Cao ủy Đông Dương Đácgiăngliơ
(D'argenlieu), cánh tương đối hiểu biết, muốn hoà hoãn, tiêu biểu là đại
tướng Lơcléc (Leclerc), tổng chỉ huy quân đội viễn chinh. Hồ Chí Minh đã
viết thư gửi Lơcléc: "Ngài là một đại quân nhân và là một nhà ái quốc. Ngài
đã chiến thắng và chiến thắng anh dũng kẻ xâm lăng nước ngài Lừng danh
với những chiến công, ngài lại đi đánh một dân tộc chỉ muốn độc lập, thống
nhất quốc gia và một nước chỉ muốn hợp tác như anh em với nước ngài
sao?".
Lòng tụ trọng bị tổn thương, ít lâu sau Lơcléc từ chức Tổng chỉ huy, xin
chuyển về Pháp, mở đầu cho sự liên tục thay đổi Tổng chỉ huy quân đội
Pháp ở Đông Dương.
Đánh giá sách lược của Hồ Chí Minh
Trong giai đoạn này, đồng chí Lê Duẩn đã viết: "Những biện pháp cực kỳ
sáng suốt đã ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời
của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về
Phép biện chứng duy vật macxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn và
thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biên và vạn
biên trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong
triết học phương Đông và Việt Nam. Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc
biên cương ở phương Nam, có dặn lại nhiếp chính Ỷ Lan một câu: "Vạn
biến như lôi, nhất tâm thiền định", ý nói cứ lấy nhất tâm bất biến (là một
lòng lo giữ việc nước) thì có thể đối phó với vạn biên (dù có dữ dội như sấm
sét).
Vậy ta hiểu "dĩ bất biến ứng vạn biến" mà Hồ Chí Minh nói đến là gì? Theo
cách nói của triết học, có thể hiểu "bất biên" là quy luật, vì chỉ có quy luật
(tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn "vạn
biến" là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa
vào quy luật mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện
tượng có thể tìm ra quy luật tương ứng.
Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát
triển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông
nhất, đứng im là tương đối. Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có
phần coi nhẹ, thậm chí bỏ qua cái "bất biến" (tức là cái thống nhất, đứng im
vốn là điều kiện tồn tại của sự vật).
Trong vũ trụ và trong cuộc sống xã hội vốn tồn tại phạm trù "bất biến". Hoá
học được xây đựng trên cơ sở định luật bảo toàn trọng lượng. Công thức có
thể biến hoá, nhưng trị số thì không đổi. Năng lượng học dựa trên định luật
bảo toàn năng lượng. Toán học có những hằng số, hằng đẳng thức không
đổi. Về mặt xã hội, các chế độ xã hội đều có nhiều thay đổi, nhưng trong xã
hội nào người ta cũng vẫn cần đến ăn, mặc, ở tức là vẫn phải có sản xuất
và phân phối, nghĩa là sự khác nhau, như C.Mác nói, chỉ là về cách thức sản
xuất và cách thức phân phối, còn bản thân sản xuất và phân phối thì xã hội
nào cũng vẫn phải có. Cũng có thể gọi đó là các hằng số xã hội. Hồ Chí
Minh tiếp thu phép biện chứng macxít, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của
tư duy biện chứng phương Đông. Người thường bắt đầu từ cái bất biến để đi
trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Về bản chất, đó là phương
pháp biện chứng duy vật macxít được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, có
sự kết hợp với tư duy biện chứng phương Đông, in đậm dấu ấn phương
Đông và Việt Nam, nổi bật lên trong đó là sự kết hợp tính cương nghị về
nguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để
khắc phục cái tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp, nhằm mục tiêu đại đoàn kết
dân tộc, phân hoá và cô lập kẻ thù chính, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc
để từng bước đi lên CHXH. Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh cũng do
đó mà có vai trò rất to lớn đối với công cuộc đổi mới của chúng ta, đặc biệt
trong bối cảnh quốc tế đang chuyển biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay.
Tư tưởng về con người, bộ phận cơ bản của tư tưởng triết học Hồ Chí
Minh
Thấm nhuần quan điểm cải tạo thế giới của triết học Mác, vấn đề được Hồ
Chí Minh đặc biệt quan tâm là vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng
con người. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người
chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, mà là con người hiện thực, cụ thể, sinh
động, trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi
nơi, không phân biệt dân tộc và màu da.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có thể tóm tắt lại trong ba nội dung cơ
bản:
Con người là vôn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ
không phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chúng ta phải yêu dân,
quý dân, trọng dân, vì "có dân là có tất cả". Người nói: "Trong bầu trời
không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng
đoàn kết của nhân dân". Do đó, "trong xã hội không có gì tất đẹp, vẻ vang
bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân".
Từ đó, ta thấy nổi lên ở Hồ Chí Minh một tấm lòng yêu thương vô hạn đối
với con người, một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người,
một ý chí kiên quyết đấu tranh để giải phóng con người khỏi áp bức, bất
Nhưng muốn khai thông động lực thì phải khắc phục trở lực kìm hãm sự
phát triển của con người, trong đó "căn bệnh mẹ" cực kỳ nguy hiểm là chủ
nghĩa cá nhân phải được phê phán mạnh mẽ, kiên quyết tẩy trừ
Tư tưởng về chiến lược "trăm năm trồng người"
Từ quan điểm về con người đến quan điểm về chiến lược "trồng người" là
một bước phát triển hợp logic của tư tưởng triết học Rồ Chí Minh. Để thực
hiện chiến lược kinh tế - xã hội thì chiến lược con người phải đi trước một
bước. Từ rất sớm, Người đã nêu ra một luận điểm nổi tiếng: "Muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người XHCN". Do đó,
"vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng
người". "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng
và rất cần thiết" (Di chúc).
Quan điểm "trồng người" của Hồ Chí Minh rất toàn diện và phong phú, ở
mỗi thời kỳ cách mạng, Người nêu ra những yêu cầu khác nhau. Bước vào
thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nhấn mạnh đến các yêu cầu sau
đây:
Có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham ô,
lãng phí, quan liêu, có ý thức làm chủ và tinh thần tập thể.
Có ý chí học hỏi, không ngừng vươn lên làm chủ những thành tựu văn hoá,
khoa học - kỹ thuật, những hiểu biết mới của thời đại.
Có tinh thần tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, nhạy bén với cái mới, biết vận
dụng nó vào thực tế công tác để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người là một hệ
thống chặt chẽ, phong phú, vừa khoa học, vừa cách mạng, là một bộ phận
hợp thành của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào
việc làm phong phú triết học về con người của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng cứu dân, cứu nước, tìm một con đường
phát triển mới để canh tân đất nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến nhiều học
thuyết Đông - Tây, trên hết là chủ nghĩa Mác - Lênin, đã học hỏi, tiếp thu,
dung hợp, tích hợp, hình thành cho mình một thế giới quan duy vật và