Tài liệu Luận văn Chứng khoán và Thị trường chứng khoán tại Việt Nam potx - Pdf 10

Luận văn
Chứng khoán và Thị trường
chứng khoán tại Việt Nam
1
Lời mở đầu
Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của thế giới, sự vươn lên không
ngừng của các nước trong khu vực về tất cả các lĩnh vực mà đặc biệt là sự
phát triển như vũ bão về kinh tế, chính trị, xã hội. Điều đó đặt nước ta vào
một vị thế vô cùng quan trọng, bởi vì nước ta nằm ở vị trí cực kỳ nhạy cảm,
nhạy cảm cả về vị trí chiến lược quân sự cũng như kinh tế trong khu vực.
Chính vì thế mà Đảng và nhà nước đã nhận thấy rõ công việc của mình là
phải lãnh đạo, định hướng phát triển cho nền kinh tế đất nước sao cho thật
tốt, để tiến vào kỷ nguyên mới với thành công mới rực rỡ. Để đạt được điều
đó Đảng, nhà nước đã đưa ra nhiệm vụ và mục tiêu phải tiến hành "Công
nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất nước".
Để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thành công, tăng trưởng
kinh tế bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực
cần phải có nguồn vốn lớn. Mà để có nguồn vốn lớn cần phát triển thị
trường chứng khoán. Tuy nhiên, việc phát triển thị trường chứng khoán ở
Việt Nam gặp không ít khó khăn về kinh tế nhưng cũng chính nó lại có thể
trở thành vật cản cho nền kinh tế ấy.
Chính vì thế, mà hơn bao giờ hết chúng ta cần phải chuẩn bị một cách
kỹ càng cả về kiến thức cơ bản và các kinh nghiệm của các nước khác trên
thế giới về cơ cấu quản lý và kiểm soát hoạt động của thị trường chứng
khoán. Có như vậy thì thị trường chứng khoán mới không trở thành vật cản
của nền kinh tế.
Trong phạm vi bài tiểu luận này các vấn đề được đề cập đến gôm:
- Chứng khoán và Thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán tại Việt Nam
- Những giải pháp đẩy mạnh sự phát triển thị trường chứng khoán tại Việt
nam .

phiếu thường. Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bỏ
phiếu bầu ra hội đồng quản trị. Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ phiếu
ưu đãi được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu thường.
2.2. Trái phiếu:
Trái phiếu là chứng khoán nợ, người phát hành trái phiếu phải trả lãi
và hoàn trả gốc cho những người sở hữu trái phiếu vào lúc đáo hạn.
Trái phiếu có thể phân theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào chủ thể phát hành, trái phiếu gồm hai loại chính là: trái
phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương (do chính phủ và chính
quyền địa phương phát hành) và trái phiếu công ty (do công ty phát hành).
- Căn cứ vào tính chất chuyển đổi, trái phiếu được chia thành loại có
khả năng chuyển đổi (chuyển đổi thành cổ phiếu) và loại không có khả
năng chuyển.
- Căn cứ vào cách thức trả lãi, trái phiếu được chia thành các loại sau:
+ Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu được thanh toán cố
định theo định kỳ.
+ Trái phiếu với lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu
được thay đổi theo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi
biểu giá, chẳng hạn như giá bán lẻ.
+ Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được
bán theo nguyên tắc chiết khấu. Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiếu
nằm dưới dạng lợi nhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập (nó là phần
chênh lệch giữa giá trị danh nghĩan - mệnh giá trái phiếu và giá mua).
- Trái phiếu có bảo đảm và trái phiếu không có bảo đảm.
4
2.3. Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép
người nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có
thể đổi nó lấy một chứng khoán khác.
Thông thường có cổ phiếu ưu đãi được chuyển thành cổ phiếu

Tuy nhiên, không phải nhà phát hành nào cũng nắm được các kiến thức và
kinh nghiệm phát hành. Vì vậy, trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ
chức trung gian giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát
hành chứng khán. Nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán giúp cho nhà phát
hành thực hiện việc phân phối chứng khoán mới phát hành và nhận từ nhà
phát hành một khoản hoa hồng bảo lãnh phát hành cho dịch vụ này.
Thị trường thứ cấp: Là thị trường giao dịch.Đây là thị trường mua
bán các loạI chứng khoán đã được phát hành. Thị trường thứ cấp thực hiện
vai trò điều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn
vốn ngắn hạn thành dài hạn. Qua thị trường thứ cấp, những người có vốn
nhàn rỗi tạm thời có thể đầu tư vào chứng khoán, khi cần tiền họ có thể bán
lại chứng khoán cho nhà đầu tư khác. Nghĩa là thị trường thứ cấp là nơi làm
cho các chứng khoán trở nên ‘lỏng’ hơn. Thị trường thứ cấp là nơi xác định
giá của mỗi loại chứng khoán mà công ty phát hành chứng khoán bán ở thị
trường thứ cấp. Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp chỉ mua cho công ty phát
hành với giá mà họ cho rằng thị trường thứ cấp sẽ chấp nhận cho chứng
khoán này.
6
Công ty
chứng
khoán
Công ty
chứng
khoán
Hệ thống
đăng ký,
thanh
toán, bù
trừ và
lưu ký

Thị trường
thứ ba
Thị trường
thứ ba
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là hai thị trường không thể
tách rời. Thị trường sơ cấp tạo ra hàng hoá còn thị trường thứ cấp thúc đẩy
giao dịch hàng hoá đó.
Xét về phương diện tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán có
ba loại:
Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường ở đó việc giao
dịch mua bán chứng khoán được thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng
khoán.
Thị trường chứng khoán bán tập trung: là thị trường chứng khoán
“bậc cao”. Thị trường chứng khoán bán tập trung (OTC) không có trung
tâm giao dịch mà giao dịch mua bán chứng khoán thông qua mạng lưới
điện tín, điện thoại. Một điều rất quan trọng là các nhà đầu tư trên thị
trường OTC không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán chứng khoán
như trong phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán, thay vào đó họ
thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ thống viễn thông.
Các công ty chứng khoán trên thị trường OTC có mặt ở khắp nơi trên
đất nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh buôn bán một số loại chứng
khoán nhất định. Các công ty chứng khoán giao dịch mua bán chứng khoán
cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo thị
trường về các loại chứng khoán đó. Các công ty cũng thực hiện các nghiệp
vụ kinh doanh chứng khoán như: giao dịch mua bán cho chính mình, môi
giới mua bán cho khách hàng, dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh
phát hành. Các chứng khoán mua bán trên thị trường OTC cũng phải được
niêm yết công khai cho công chúng biết để có quyết định đầu tư. Các
chứng khoán được niêm yết trên thị trường OTC tương đối dễ dàng, các
7

triển.Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và chính quyền địa
phương cũng huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng.Thị trường chứng khoán đóng vai trò tự động điều hoà vốn giữa nơi
thừa sang nơi thiếu vốn. Vì vậy, nó góp phần giao lưu và phát triển kinh tế.
Mức độ điều hoà này phụ thuộc vào quy mô hoạt động của từng thị trường
chứng khoán. Chẳng hạn, những thị trường chứng khoán lớn như Luân
Đôn, Niu óc, Paris, Tokyo, thì phạm vi ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài
khuôn khổ quốc gia vì đây là những thị trường chứng khoán từ lâu được
xếp vào loại hoạt động có tầm cơ quốc tế. Cho nên biến động của thị
trường tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế của bản thân nước sở tại, mà còn
ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán nước khác.
2.2. thông tin
Thị trường chứng khoán bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời (cho
các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán c) về tình hình cung -
cầu, thị giá của từng loại chứng khoán trên thị trường mình và trên thị
trường chứng khoán hữu quan.
2.3. cung cấp khả năng thanh khoản
Nhờ có thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi
thành tiền khi họ muốn.Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản bảo
đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quảvà năng động.
2.4 đánh giá giá trị doanh nghiệp
Thị trường chứng khoán là nơI đánh giá chính xác doanh nghiệp thông
qua chỉ số chứng khoán trên thị trường .Việc này kích các doanh nhgiệp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công ngệ mới.
2.5 tạo môi trường để chính phủ thực hiện chính sách vĩ mô
Chính phủ có thẻ mua bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù
đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.ngoài ra chính có thể sử dụng các
chính sách tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư.
9
3. Các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán

Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn để đầu tư chứng khoán
nhưng chỉ được trong giới hạn nhất định để bảo vệ ngân hàng trước những
biến động của giá chứng khoán.
3.4. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
3.4.1. Cơ quan quản lý nhà nước
Cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước
đối với thị trường chứng khoán. cơ quan này có những tên gọi khác nhau
tuỳ từng nước. Tại Anh có Uỷ ban đầu tư chứng khoán (SIB- Securities
Investment Board), tại Mỹ có Uỷ ban chứng khoán và Giao dịch chứng
khoán (SEC - Securities And Exchange Comission) hay ở Nhật Bản có Uỷ
ban giám sát chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (ESC - Exchange
Surveillance Comission) được thành lập vào năm 1992 và đến năm 1998
đổi tên thành FSA - Financial Supervision Agency. Và ở Việt Nam có Uỷ
ban chứng khoán nhà nước được thành lập theo Nghị địng số 75/CP ngày
28/11/1996.
3.4.2. Sở giao dịch chứng khoán
Hiện nay trên thế giới có ba hình thức tổ chức Sở giao dịch chứng
khoán:
Thứ nhất: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức “câu
lạc bộ mini” hay được tổ chức theo chế độ hội viên. Đây là hình thức tổ
chức Sở giao dịch chứng khoán có tính chất tự phát. Trong hình thức này,
các hội viên của Sở giao dịch chứng khoán tự tổ chức và tự quản lý Sở giao
dịch chứng khoán theo pháp luật không có sự can thiệp của nhà nước. Các
thành viên của Sở giao dịch chứng khoán bầu ra hội đồng quản trị để quản
lý và hội đồng quản trị bầu ra ban điều hành.
11
Thứ hai: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công
ty cổ phần có cổ đông là công ty chứng khoán thành viên. Sở giao dịch
chứng khoán tổ chức dưới hình thức này hoạt động theo luật công ty cổ
phần và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn về chứng khoán và

khoán nói chung. Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau:
- Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
- Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy
định pháp luật về chứng khoán.
- Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên.
- Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng
khoán.
3.4.4. Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán
Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ
các chứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ.
3.4.5. Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm là các công ty chuyên đưa ra các
đánh giá về tình hình và triển vọng của các công ty khác dưới dạng các hệ
số tín nhiệm.
CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Để tiến hành CNH, thay đổi cơ cấu kinh tế, nhằm đạt được mục tiêu
tăng trưởng nhanh, lâu bền, Việt Nam cần đến một khối lượng vốn khổng
13
lồ mà hiện trạng thị trường tài chính không thể đáp ứng đầy đủ. Với cơ cấu
hiện nay, thị trường tài chính chủ yếu chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu
của nền kinh tế về vốn ngắn hạn. Trong khi đó, quá trình CNH, HĐH lại
đòi hỏi ngay một khối lượng khổng lồ vốn dài hạn: trong năm năm 1991-
1995, để có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 2,8% năm cần 18, 6 tỉ USD;
thời kì 1996-2000, để đạt được tốc độ tăng trưởng 9 - 9,5% năm thì dự tính
vốn đầu tư đã tăng hơn 2, 2 lần, khoảng 40 - 45 tỉ USD; với quy mô như
vậy ước tính đến năm 2020 vốn đầu tư là 500 - 600 tỉ USD.
Trước những đòi hỏi bức xúc về vốn trung và dài hạn cho tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước

Chính sách đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế
của Đảng và nhà nước đang giải phóng mọi năng lực sản xuất, kinh doanh,
huy động mọi nguồn vốn cho phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho sự phát
triển của thị trường chứng khoán.
Quá trình cải cách đã cho ra đời và phát triển hàng loạt các ngân hàng
thương mại, tổ chức tài chính, tín dụng, các tổ chức bảo hiểm. Đây là các
tác nhân quan trọng cho sự phát triển thị trường vốn và là tiền đề cho sự
phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Nhu cầu về vốn của nước
ta trong thời kỳ tới rất cao như đã nói ở phần trên. Để đạt được mục tiêu
tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người thì nhu cầu vốn của nền kinh tế
nước ta trong thời kỳ 2000-2010 là 543, 5 tỷ USD.
Nước ta là một nước đang phát triển, tài nguyên chưa được thăm dò và
khai thác đầy đủ. Đây là yếu tố quan trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài
mà lâu nay Việt Nam mới chú trọng khai thác theo hướng đầu tư trực tiếp
(FDI) mà chưa chú trọng theo hướng đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng
khoán.
15
Trong vòng 12 năm qua, giá vàng liên tục sụt giảm và yếu tố tâm lý
giữ vàng của nhân dân không còn như trước. Do vậy, người ta thường dùng
tiền để gửi tiền tiết kiệm, mua tín phiếu, trái phiếu đây chính là một cơ
hội tốt để thúc đẩy nhanh sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt
Nam .
Một thuận lợi nữa mà chúng ta có đó là vào ngày 7/11/2006 chúng ta
đã chính thức gia nhập WTO. Có thể nói đây chính là thời điểm rất thuận
lợi để cho thi trường chứng khoán phát triển, bởi lẽ một khi đã là thành
viên của WTO thì sự bảo hộ của nhà nước vể thuế cho các mặt hàng trong
nước là không còn mạnh như trước nữa, mà các doanh nghiệp sẽ phải tự
lực cánh sinh để cạnh tranh với các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới. Điều
này phần nào bắt buộc các tổ chức kinh doanh phải tiến hành cổ phần hoá
và từ đó sẽ tạo ra nhiều hàng hoá hơn cho thị trường chứng khoán.

lớn nhất, đầu tiên trong việc tiến hành cổ phần hoá ở bất cứ một doanh
nghiệp nhà nước nào. Do đó, giải đáp những thắc mắc cho cán bộ công
nhân viên trong doanh nghiệp cũng như những người có liên quan phải
được coi là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên cần làm, và nên làm trước khi
công việc cổ phần hoá được tiến hành.
Bởi vì chủ trương cổ phần hoá ở nước ta hiên nay là ưu tiên cho cán
bộ công nhân viên trong doanh nghiệp cho nên đối tượng đầu tiên cần được
phổ biến chính là họ. Việc phổ biến chủ trương theo chúng tôi cần phải đạt
được những yêu cầu tối thiểu sau:
-Cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp phải ý thức một cách rõ
ràng cổ phần hoá là một yêu cầu tất yếu khách quan, không sớm thì muộn
cũng phải thực hiện. Trong giai đoạn này, tiến hành càng sớm thì doanh
nghiệp càng được lợi, do Nhà nước vẫn còn dành rất nhiều ưu đãi cho các
doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá. Kinh nghiệm của các doanh nghiệp đi
17
trước đã được đúc kết tương đối đầy đủ. Hơn nữa cổ phần hoá sớm sẽ giúp
cho doanh nghiệp có điều kiện hơn trong việc ổn định tổ chức sản xuất
kinh doanh, chuẩn bị tốt hơn cho việc cạnh tranh khốc liệt trong tương lai
khi chúng ta tham gia AFTA. Trông chờ, ỷ lại lúc này chính là con đường
ngắn nhất dẫn đến chỗ phá sản.
- Họ cũng cần hiểu rằng, cổ phần hoá trước hết là vì lợi ích của các
doanh nghiệp, của cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp. Sau khi trở
thành công ty cổ phần, họ sẽ được hoàn toàn độc lập tự chủ trong sản xuất
kinh doanh, song tất nhiên họ cũng phải biết tự mình chống đỡ với những
cạnh tranh gay gắt trong cơ chế thị trường. Đây là điều không thể tránh
khỏi. Nhưng đây cũng là cơ hội để cho những người có thực lực, thực tài,
những doanh nghiệp thực mạnh vươn lên tự khẳng định mình. Còn đối với
những doanh nghiệp yếu, những người thiếu năng lực, trình độ thì cũng
phải nhận ra một điều là đã đến lúc họ phải thay đổi, phải tự vươn lên hoàn
thiện mình nếu không họ sẽ bị đào thải theo qui luật cạnh tranh trong nền

- Nhóm doanh nghiệp thua lỗ kéo dài (từ 3 năm trở nên).
Ba nhóm đầu thuộc diện cổ phần hoá, còn nhóm thua lỗ kéo dài, Nhà
nước sẽ áp dụng các biện pháp sáp nhập với các đơn vị khác rồi cổ phần
hoá, đấu thầu cho thuê, bán cho cán bộ công nhân viên chức trong và ngoaì
doanh nghiệp, thực hiện biện pháp khoán hoặc cho phá sản.
Còn đối với các doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn về tài chính thì
việc thành lập quỹ hỗ trợ cổ phần hoá sẽ là một giải pháp quan trọng.
Nhiệm vụ và vai trò của quỹ cổ phần hoá không chỉ giới hạn ở việc hỗ trợ
cho các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính. Tuy nhiên hỗ trợ tài chính
cho các doanh nghiệp vẫn là một trong những chức năng chính của quỹ
này.
Ngoài ra còn có thể là những khoản thu từ việc thanh lí tài sản trong
doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hoá
19
Hoạt động hỗ trợ của quỹ có thể được thực hiện dưới một số hình thức sau:
- Kế thừa hoặc mua lại nợ của doanh nghiệp.
- Cho doanh nghiệp vay với cơ chế và lãi suất ưu đãi. Như vậy, quỹ
cổ phần hoá cũng góp phần giải quyết vấn đề nợ đọng trong nhiều doanh
nghiệp nhà nước hiện nay.
Sự hỗ trợ của quỹ cổ phần hoá sẽ có tác dụng giải quyết nhiều khó
khăn cho doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu qủa sản
xuất kinh doanh, tiến tới làm ăn có lãi. Có thể nói “làm ăn có lãi” là điều
kiện rất quan trọng, nhiều khi là nhân tố có tính quyết định cho sự thành
công của việc cổ phần hoá nhiều doanh nghiệp
Với ý nghĩa đó, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng
chính là mục tiêu cơ bản của những giải pháp đối với các doanh nghiệp gặp
khó khăn về quản lý, giá thành sản xuất lên cao.
Giá thành sản xuất lên cao có thể có nhiều nguyên nhân song suy cho
cùng nguyên nhân quan trọng nhất vẫn nằm trong khâu quản lý. Người
quản lý tốt có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất sẽ biết phải làm gì khi thua

hành cải cách doanh nghiêp nhà nước cũng như cổ phần hoá. Bởi vì cùng
với việc chú trọng nâng cao hiệu quả sản xuất thì việc làm tất yếu của các
doanh nghiệp là phải giảm bớt số lao động dư thừa, không đủ trình độ. Con
số này quả là không nhỏ trong nhiều doanh nghiệp nhà nước hiện nay.
Giải quyết vấn đề lao động dôi dư là một vấn đề rất phức tạp, có tính
xã hội sâu sắc. Song đó là việc mà chúng ta không thể né tránh.
Trước hết chúng ta phải thống nhất với nhau một điều là việc giải
quyết vấn đề dôi dư đòi hỏi phải có sự hợp tác từ cả hai phía là doanh
nghiệp và Nhà nước cụ thể hơn là Chính phủ và các cấp Bộ, ngành có liên
quan. Trong sự hợp tác đó thì doanh nghiệp là người có trách nhiệm trực
tiếp đưa ra hướng giải quyết, còn Nhà nước chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ và
phân giải các mâu thuẫn giữa doanh nghiệp với người lao động.
21
- Đối với DN: Phải chủ động xây dựng kế hoạch giải quyết lao động dôi dư
trên cơ sở đề án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với một số nội dung
chính là.
+ Phân loại lao động để xác định số lao động dôi dư để từ đó đưa ra
các hướng giải quyết. Cụ thể là đối với người lao động sắp đến tuổi nghỉ
hưu (người lao động còn dưới 5 năm công tác là đến tuổi nghỉ hưun) có thể
trợ cấp để đảm bảo các chế độ hưu trí cho họ. Đối với số lao động còn lại
(chiếm đa sốc), có nhiều hướng giải quyết như tái sử dụng sau khi đã đào
tạo, đào tạo lại, hỗ trợ chuyển sang ngành nghề mới.
+ Xác định nguồn vốn để giải quyết lao động dôi dư hiện tại doanh
nghiệp có thể lấy từ các nguồn quỹ sau: Quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ trợ
cấp mất việc làm, quỹ trợ cấp thôi việc, ngoài ra còn có thể lấy từ quỹ đào
tạo của đơn vị (nếu có).
- Đối với Nhà nước: Nên hạn chế hỗ trợ trực tiếp, tăng cường hỗ trợ
gián tiếp.
+ Hỗ trợ trực tiếp chỉ tập trung vào: Hỗ trợ một phần kinh phí cho
doanh nghiệp. Mà nguồn hỗ trợ chính có thể lấy ra từ quỹ cổ phần hoá

Với những ưu điểm cơ bản nêu trên có thể thấy sự ra đời của thị
trường chứng khoán ở nước ta sẽ là một sự hỗ trợ đắc lực cho việc đẩy
mạnh cổ phần hoá trong thời gian tới. Điều này đã được chứng minh qua
thực tế ở Trung Quốc.
Vấn đề trước mắt cần làm là Nhà nước nên sớm xây dựng khuôn khổ
pháp lý cho hoạt động giao dịch cổ phiêú của các công ty cổ phần qua thị
trường chứng khoán, hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc, thúc đẩy các
doanh nghiệp làm quen với chế độ công khai tài chính trên thị trường
chứng khoán qua đó làm cho hoạt động của thị trường chứng khoán được
diễn ra một cách suôn sẻ, thực sự phát huy được những tác dụng tích cực
của mình.
23
1.4.2. Thành lập các quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là một loại định chế tài chính trung gian trên thị trường
vốn do công ty đầu tư lập ra, huy động tiền của nhiều nhà đầu tư bằng cách
bán cổ phiếu của Quỹ cho các cổ đông rồi dùng khoản tiền đó mua trái
phiếu hoặc cổ phiếu của nhiều hạng mục đầu tư để sinh lợi và bảo toàn
vốn. Cổ đông của Quỹ có thể bán cổ phần của Quỹ bất kỳ lúc nào tại thị
trường chứng khoán hoặc bán lại cho Quỹ tuỳ hình thức hoạt động Quỹ.
Mỗi quỹ có một nhà quản lý chuyên nghiệp, và một đội ngũ chuyên
viên phụ tá, có trách nhiệm phân tích lựa chọn danh mục đầu tư, theo dõi
tình hình hoạt động của các công ty nằm trong danh mục đầu tư và đưa ra
những quyết sách khi có biến động ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của quỹ.
Quỹ được tiếp thị rộng rãi đến nhà đầu tư bằng cách quảng cáo, thư mời
hay qua các trung gian khác.
Đầu tư vào các quỹ đầu tư là một hình thức đầu tư có nhiều ưu điểm
hơn so với đầu tư mua cổ phiếu trực tiếp của các công ty nhất là trong điều
kiện thị trường chứng khoán chưa ra đời và phát triển. Các nhà đầu tư cá
biệt thường khó có khả năng và điều kiện tìm hiểu vì hoạt động của các
công ty, do đó thường gặp khó khăn khi ra quyết định đầu tư. Vì vậy họ

- Người dân không sợ bị chôn vốn quá lâu.
Công ty đầu tư sẽ lần lượt thành lập các quỹ đầu tư sau 3 năm khi quỹ
đầu tư trước ra đời. Quỹ đầu tư sau sẽ có thể tái đâù tư vào những doanh
nghiệp nhà n được cổ phần hoá mà công ty đã được đầu tư trước đó và đầu
tư vào các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá sau này. Người đầu tư
của quỹ trước có thể tái đầu tư vào quỹ đầu tư sau. Do đó sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho những nhà đầu tư trung, dài hạn. Các doanh nghiệp nhà nước
được cổ phần hoá phát triển vẫn luôn được công ty đầu tư giữ cổ phần của
họ.
Với những ưu điểm trên, quỹ đầu tư thường có ưu thế hơn các doanh
nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tư của các cổ đông đặc biệt là các cổ
25

Trích đoạn Chuẩn bị phát hành trái phiếu thông qua bảo lãnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status