212
ĐIỂM BỆNH HỌC CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
BỆNH VÀNG DA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Phạm Thanh Hương
2
, Từ Thanh Dung
1
1
Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ,
2
Chi Cục Thủy Sản Thành Phố Cần Thơ.ABSTRACT
Yellow fillet syndrome in Pangasianodon catfish has caused severe economic losses
through decrease production in commercial catfish in the Mekong Delta. Diseased fish
exhibited signs of yellow fillet accompanied by pale light-yellow gills, yellow brown-green
liver and dark spleen. The purpose of this study is to investigate haematological,
bacteriological, parasitological and histopathological characteristic of diseased fish from 20
commercial Pangasianodon farms. Results of histopathological and haematological
examination indicated that these fish presented haemolytic anaemia. Most of the erythrocyte
cells were destructive and remarkably decreased 10 - 20% comparing with the erythrocyte
cells of healthy fish. Whereas, leucocyte cells in diseased fish were observed significantly
higher (P<0,05) than in of healthy fish. There was no bacterial or parasitic agents could be
identified as aetiological agents of this disease. Histopathogically, necrosis and destruction of
spleen, kidney and liver tissue of diseased fish are considered to be an important pathological
finding. In addition, increasing in melanomacrophage centers (MMC) in the kidney also is
noted. This study will serve as part of the essential foundation for further research on
quá trình thâm canh hoá đối tượng này. Bên cạnh bệnh mủ gan, xuất huyết, bệnh phù mắt và
bệnh ký sinh trùng đã được sự quan tâm và nghiên cứu của cộng đồng, mặc dù quá trình điều
trị còn nhiều khó khăn thì vàng da là một hiện tượng bệnh lý xuất hiện gần đây đã gây thiệt
hại lớn cho người nuôi. Hiện tượng vàng da và/hoặc thiếu máu đã được một số tác giả tìm
thấy trên cá hồi, cá trê lai, cá nheo Mỹ….Trên cá hồi (Oncorhunchus kisutch) bị bệnh vàng da
có hiện tượng tan huyết (haemolytic anaemia) và số lượng hồng cầu trong máu giảm từ 3-50%
(Smith và ctv., 2006). Theo Johnson (1993) cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) nuôi thâm canh
ở Mississippi nhiễm bệnh vi khuẩn Edwardsiella ictaluri có thể dẫn đến thiếu máu, hồng cầu
giảm đi (1-10%). Ở ĐBSCL, những nghiên cứu xung quanh vấn đề này còn hạn chế thì có rất
nhiều thông tin cho rằng vi khuẩn, vi-rút, môi trường, tích lũy kháng sinh trong gan, nhiễm
độc từ thức ăn, ký sinh trùng ký sinh làm tắt mật…là tác nhân gây ra bệnh vàng da. Từ đó,
cách thức phòng, trị bệnh này gặp rất nhiều khó khăn (Vương Học Vinh, 2006).
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định thành phần huyết học, mầm bệnh vi
khuẩn, ký sinh trùng và nghiên cứu mô học cá tra trong ao khỏe và ao có cá bệnh vàng da,
nhằm làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu cá được thu ở 20 ao nuôi công nghiệp (103 mẫu) đang có bệnh vàng da thuộc
tỉnh Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long. Đồng thời thu ở 4 ao cá khỏe làm mẫu đối chứng.
Mỗi ao thu 3 - 6 cá, đối với ao cá bệnh thu 3 - 5 cá bệnh và 1-3 cá không biểu hiện bệnh,
trọng lượng cá từ 300 - 800g.
Tại nơi thu mẫu, thu máu cá và làm tiêu bản máu theo phương pháp của Hrubec và
ctv., (2000) cá được gây mê cá bằng dung dịch MS222 (Sigma chemical) và lấy máu cá từ
động mạch chủ bằng kim tiêm (1ml) tiệt trùng đã được tráng qua dung dịch chống đông
heparin (Sigma chemical) cho vào ống eppendorf sạch. Pha loãng mẫu máu với dung dịch
nhuộm hồng cầu theo tỉ lệ 10l máu cá và 490l dung dịch nhuộm hồng cầu (0,1 g Crytal
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
Dấu hiệu bệnh lý
Ở ĐBSCL, bệnh vàng da ở cá tra xuất hiện hầu như quanh năm và tập trung cao điểm
vào những tháng có thời tiết lạnh (Trần Anh Dũng, 2006). Bệnh này thường xuất hiện giai
đoạn cá lớn hơn 300g. Cá bị vàng da ngoài dấu hiệu chung của cá bệnh như bơi lội lờ đờ,
phản ứng chậm với tiếng động, cá bệnh nổi đầu vào sáng sớm, đặc biệt là nơi có nguồn nước
mới. Ở cá bệnh vàng da toàn thân cá có màu vàng nghệ, rõ nhất là các vây, phần đầu và lườn
bụng. Cá bệnh có mang màu vàng tái nhạt (Hình 1).
Hình 1. Cá tra bệnh vàng da rõ nhất là các vây, phần đầu và lườn bụng (mũi tên) (A); mang cá
bệnh có màu vàng (B).
Bên trong nội quan chứa dịch và mỡ màu vàng, gan vàng nâu đến xanh, tỳ tạng sưng
to và đen sậm, túi mật trương to kéo dài chứa dịch mật màu xanh đen, thận thường sưng to
mềm nhũn, cá bị bệnh nặng đôi khi thận chảy nước và ruột cá thường lồng đoạn ruột trước
vào đoạn ruột sau và hầu như không chứa thức ăn.
Kết quả huyết học
Kết quả nghiên cứu huyết học về số lượng các loại tế bào máu ở cá khỏe cá bệnh
vàng da và cá chưa biểu hiện bệnh trong ao có bệnh (Bảng 1) cho thấy số lượng tế bào hồng
cầu cả 3 nhóm cá khác nhau có ý nghĩa (P<0,05). Ở cá bệnh vàng da, số lượng tế bào hồng
cầu là x 10
6
tế bào /
nguyên nhân trên là do cá mất khả năng tự tạo máu và biểu hiện da và mang có màu tái nhạt.
Olaifa và ctv., (2004) cho rằng thiếu máu ở cá trê phi ngộ độc đồng là do sự sưng phồng và
hủy hoại của hồng cầu. Như vậy, cơ chế thiếu máu ở cá có thể do hồng cầu vỡ, chu kỳ sống
của hồng cầu bị rút ngắn hay quá trình chuyển hóa chất sắt để tạo hồng cầu bị hạn chế (Gill và
Epple, 1993) mà điều này có thể góp phần gây ra hiện tượng vàng da trên cá. Hiện tượng vàng
da trên người và động vật hữu nhũ được Trần Kim Cúc (2007) giải thích như sau: khi hồng
cầu bị phá hủy dẫn đến hemoglobin trong hồng cầu phân hủy thành bilirubin. Bilirubin được
vận chuyển đến gan và cùng với dịch mật bài tiết vào ruột. Bilirubin tự do có thể kết hợp với
albumin huyết tương rồi phân tán trong máu. Khi hàm lượng bilirubin trong máu vượt quá 2-
3mg/dl thì hiện tượng vàng da xuất hiện. Từ đó có thể đặt giả thiết là hiện tượng phân hủy
hồng cầu có liên quan đến biểu hiện vàng da toàn thân ở cá tra. Tuy nhiên để khẳng định có
phải biểu hiện của chứng mất máu gây ra vàng da ở cá không, nguyên nhân nào gây ra chứng
thiếu máu thì cần phải có những nghiên cứu sâu hơn.
Bảng 1. Số lượng các loại tế bào máu của cá tra khỏe và cá trong ao bệnh vàng da.
Số lượng tế bào Cá khỏe Cá không vàng Cá vàng da
(n =26) (n=20) (n=57)
Hồng cầu x 10
6
mm
-3
1,69±0,49
a
1,05±0,37
b
0,31±0,25
c
Bạch cầu tổng x 10
3
33,6±87,8
b
Bạch cầu trung tính x 10
3
mm
-3
4,32±5,73
a
7,24±11,8
a
21,2±28
ab
Bạch cầu ưa kiềm x 10
3
mm
-3
0,04±0,17
a
0,03±0,06
a
0,33±1,02
ab
Bạch cầu ưa a-xit x 10
3
mm
bệnh vàng da tăng lên có ý nghĩa (P<0,05) so với cá khỏe. Theo Houston (1990) bạch cầu có
vai trò thực bào và đáp ứng miễn dịch chống lại mầm bệnh xâm nhập và các nhân tố bất lợi
khác. Sự gia tăng mật độ bạch cầu trong máu là cơ chế để vật chủ chống lại tác nhân bên
ngoài xâm nhập (Balfry và ctv., 1994, trích dẫn bởi Benli và Yildiz, 2004); khi cá bị stress
mãn tính (Wedemeyer và ctv., 1990) hoặc ngộ độc kim loại nặng ở thời gian đầu Vosyliene
(1999). Do đó sự tăng lên của một số loại tế bào bạch cầu trên của cá bệnh vàng da là đặc
điểm sinh học bệnh lý và báo động tình trạng sức khỏe của cá ở cá bệnh vàng da trong ao
nuôi.
Kết quả vi sinh
Kết quả nghiên cứu vi sinh trên mẫu cá bệnh vàng da có đến 66,7% số mẫu cá không
có xuất hiện vi khuẩn, trong số 33,3% mẫu có vi khuẩn sau khi phân lập được hai loài vi
khuẩn thường xuất hiện trên cá tra nuôi thịt ở ĐBSCL là vi khuẩn Edwadsiella ictaluri
và/hoặc Aeromonas spp. Smith và ctv., (2006) cũng phân lập được 1 số chủng vi khuẩn gây
bệnh thông thường trên cá hồi (Oncorhynchus kisutch) bị bệnh vàng da như vi khuẩn
Piscirickettsia salmoni. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng đây không phải là tác nhân gây ra
bệnh này vì có thể đây là những tác nhân cơ hội. Hiện tượng cá tra nuôi công nghiệp ở
ĐBSCL thường xuyên bị bệnh gan, thận mủ có thể có liên quan đến bệnh vàng da như trường
hợp bệnh thiếu máu trên cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) do cùng tác nhân E. ictaluri gây ra
(Johnson, 1993). Khả năng hoại máu của vi khuẩn E. ictaluri (chủng R4383) từng được chứng
minh trong điều kiện thí nghiệm (William và Lawrence, 2005). Tuy nhiên, tác giả này chứng
minh là hoại máu không phải là bản chất gây độc của vi khuẩn này. Do vậy, vấn đề này cần
được đầu tư nghiên cứu sâu hơn.
Kết quả phân tích kí sinh trùng
Kết quả phân tích cho thấy có 7 loài ký sinh trùng ký sinh chủ yếu trên 4 cơ quan:
ruột, gan, mật và tỳ tạng. Trong đó có 4 giống ký sinh trong ruột: sán song chủ
Bucephalopsis, giun tròn Spectatus, trùng lông Balantidium và Ichthyonytus. Các loài ký sinh
Hình 3. Mô gan cá bệnh vàng da có nhiều trung tâm đại thực bào sắc tố (a) và nhân tế bào
phình to (b) (Hình E). Mô thận chứa chất dịch màu vàng (hình mũi tên) bên trong ống thận F).
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết quả nghiên cứu xác định được sự biến động lớn số lượng tế bào hồng cầu trong
máu cá bệnh vàng da so với cá khỏe. Các mầm bệnh vi khuẩn, nội kí sinh trùng không phải là
nguyên nhân gây ra bệnh vàng da ở cá tra. Kết quả phân tích mô học cho thấy có sự thay đổi
về cấu trúc ở cơ quan gan, thận và tỳ tạng. Cần nghiên cứu thêm sự liên quan của các yếu tố
về môi trường, dinh dưỡng đến bệnh vàng da trên cá tra để có biện pháp phòng tích cực hơn.
Lời cảm tạ
Tác giả xin chân thành cám ơn khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ. Chúng tôi
cũng chân thành gởi lời cám ơn đến cô Đặng Thụy Mai Thy và Lê Thành Cường (BHTS K28)
đã tham gia thực hiện đề tài nhiệt tình. Vin chân thành cám ơn các hộ nuôi cá tra thâm canh ở
Tỉnh Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong thời gian thu mẫu
cá để thực hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Quang Tề. 2001. Ký sinh trùng của một số loài cá nước ngọt ở Đồng bằng Sông Cửu
Long và các biện pháp phòng trị chúng. Luận án tiến sỹ sinh học. Hà Nội. 164p.
Chinabut, S., C. Limsuwan and P. Kitsawat. 1991. Histology of the walking catfish. 96p.
218
Ferguson H.W. 2006. Systemic pathology of fish. In: Systemic Pathology of Fish: a text and
atlas of normal tissues in teleosts and their responses in disease. Scotian Press, London. 103-
105.
1999. The effect of heavy metals on haematological indices of fish. Acta
Zoologica Lituanica. Hydrobiologia. 1999. Vol 9. No 2: 1392-1657.
William, L.M. and M.L. Lawrence, 2005. Identification and characterization of a two-
component hemolysin from Edwardsiella ictaluri. Veterinary Microbiology. 108: 281-289.
Olaifa, F.E. Olaifa A.K, and Onwude, T.E., 2004. Lethal and sub-lethal effects of copper to
the African catfish (Clarias gariepinus) juveniles. African Journal of Biomedical Research,
Vol. 7; 65 -70.
Benli, C.K.A. and H.Y. Yildiz, 2004. Blood parameters in Nile tilapia (Oreochromis niloticus
L.) spontaneously infected with Edwardsiella tarda. Aquaculture Research. 35: 1388-1390.