KẾ HOẠCH MARKETING
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM
LAYERCAKES DINH DƯỠNG
SWEET-SLIM Tp. Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2009
NHÓM THỰC HIỆN:
Sinh viên: MSSV:
1. Trần Thị Hồng Miên K064020150
2. Trần Thị Diễm Nhi K064020166
3. Trương Thị Minh Ngọc K064020158
4. Nguyễn Phước Xuân Quỳnh K064020181
5. Nguyễn Thị Thùy Trang K064020213
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 1
Lời mở đầu
…
Ngày nay, khi cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của con người
ngày càng được nâng cao. Với họ bây giờ không chỉ đơn giản là đáp ứng được nhu cầu
cơ bản mà cao hơn, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng tối ưu giúp phát triển cơ thể, cải
thiện vóc dáng của con người. Sức khoẻ trong tiêu dùng, hơn ai hết luôn được giới nữ
quan tâm chú ý, bởi họ phải chăm lo cho gia đình và cả chính bản thân họ nữa. Với người
phụ nữ hiện đại, bên cạnh công việc gia đình họ còn giải quyết hàng loạt công việc ở
công ty và tất nhiên họ thường xuyên đối mặt với xtress mà giải pháp tốt nhất là: nhấm
nháp một vài món ăn vặt. Nhưng luôn phải đắn đo, khổ sở khi lựa chọn các món ăn vặt,
snack (thị trường bánh Snack tại thời điểm đó chủ yếu là của Thái Lan) - một sản phẩm
mới đối với người tiêu dùng trong nước.
Năm 1994
Công ty tăng vốn điều lệ lên 14 tỷ đồng và nhập dây chuyền sản xuất snack trị giá
750.000 USD từ Nhật. Thành công của bánh snack Kinh Đô với giá rẻ, mùi vị đặc trưng
phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong nước đã trở thành bước đệm quan trọng
cho sự phát triển không ngừng của Công ty Kinh Đô sau này.
Năm 1996
Kinh Đô đầu tư xây dựng nhà xưởng mới có diện tích 14.000 m
2
tại số 6/134 Quốc
lộ 13, P. Hiệp Bình Phước, Q. Thủ Đức. Nhà máy được trang bị máy móc thiết bị mới,
hiện đại được nhập từ nước ngoài sản xuất ra nhiều sản phẩm với chất lượng cao, vệ sinh
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Tạo việc làm cho trên 500 lao động
Năm 1998
Công ty tiếp tục nhập thiết bị máy móc mới ở các nước tiên tiến nhằm nâng cao chất
lượng và đa dạng hóa sản phẩm phục vụ thị trường trong nước, sản phẩm của Công ty đã
đạt đủ tiêu chuẩn xuất khẩu và đã xuất sang các nước như Đài Loan, Úc, Mỹ, Canada…
Tổng số lao động của Công ty lên đến 900 người.
Năm 1999
Công ty tăng vốn điều lệ lên 40 tỷ đồng, thành lập TTTM Savico - Kinh Đô tại
Quận 1, đánh dấu một bước phát triển mới của Kinh Đô sang các lĩnh vực kinh doanh
khác ngoài bánh kẹo. Công ty khai trương hệ thống Bakery đầu tiên, mở đầu cho một
chuỗi hệ thống của hàng bánh kẹo Kinh Đô từ Bắc vào Nam sau này.
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 3
Năm 2000
Công ty đầu tư mở rộng diện tích nhà xưởng lên 60.000 m
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 4
Năm 2005
Năm 2005, cổ phiếu Công ty Kinh Đô chính thức lên sàn giao dịch chứng khoán
với tên gọi KDC và nhận được sự đầu tư từ các tập đòan lớn như quỹ VietNam
Opportunity Fund (VOF), Prudential, Vietnam Ventured Limited, VinaCaptital,
Prudential, Temasek (Singapore), Quỹ Đầu tư Chứng khoán (VF1), Asia Value
Investment Ltd …
Tháng 11/2005, Kinh Đô đầu tư vào Công ty CP Nước Giải Khát Sài Gòn -
Tribeco. Lần đầu tiên tại Việt Nam, một Công ty trong nước sử dụng công cụ tài chính
đầu tư vào Công ty khác thông qua trung tâm giao dịch chứng khoán.
Năm 2006
Tháng 07/2006, Công ty CP Kinh Đô và Tập đoàn thực phẩm hàng đầu thế giới
Cadbury Schweppes chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác kinh doanh. Đây là bước chuẩn
bị sẵn sàng của Kinh Đô khi Việt Nam tham gia vào kinh tế khu vực trong khuôn khổ
ASEAN (AFTA) và Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO.
Tháng 10/2006, hệ thống Kinh Đô khởi công xây dựng 2 nhà máy mới: Kinh Đô
Bình Dương và Tribeco Bình Dương với tổng vốn đầu tư 660 tỷ đồng trên diện tích xây
dựng 13 ha tại KCN Việt Nam Singapore.
Năm 2007
Tháng 02/2007, Kinh Đô Group và Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam (VietNam
Eximbank) ký kết biên bản thỏa thuận hợp tác chiến lược.
Tháng 05/2007: 02 Công ty thành viên thuộc hệ thống Kinh Đô là Công ty
Tribeco Sài Gòn và Công ty CP CBTP Kinh Đô Miền Bắc đã khởi công xây dựng nhà
máy Tribeco Miền Bắc tại tỉnh Hưng Yên.
Thương hiệu Kinh Đô trở thành thương hiệu của một hệ thống với 9 công ty
thành viên, 7 nhà máy chuyên sản xuất bánh kẹo, kem, nước giải khát, xây dựng địa ốc.
Hệ thống có tổng vốn điều lệ trên 849,48 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho hơn 6.000 lao
động.
Kinh Đô đã trở thành thương hiệu nổi tiếng, được nhiều người biết đến cùng với
5. Công Ty Cổ Phần Bánh Kẹo Kinh Đô
Công ty CP bánh kẹo Kinh Đô là đơn vị thành viên lớn nhất trong hệ thống Kinh
Đô, với tổng vốn điều lệ 300 tỷ đồng, cán bộ, nhân viên, chuyên sản xuất và kinh doanh
ngành bánh kẹo. Công ty CP bánh kẹo Kinh Đô có hệ thống phân phối rộng khắp với 25
cửa hàng, 215 nhà phân phối, 65 ngàn điểm bán lẻ và chiếm 40% thị phần thị trường bánh
kẹo trong nước.
Các nhóm sản phẩm chính như sau:
Bánh Cookies: Korento , Fruitino, Good Choice
Bánh Snacks : snacks Sachi , Slide
Bánh Crackers: AFC , Cosy
Solite: Layer Cakes, CupCake, Swiss Roll
Bánh Quế: Creamity Wafer Rolls, Quế , Good Choice 96g
Kẹo Chocolate, kẹo cứng và kẹo mềm các loại.
Bánh mì và bánh bông lan công nghiệp: Aloha , Scotti
Các loại bánh kem sinh nhật, bánh cưới, … (sản xuất tại Bakery)
Thị trường tiêu thụ:
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 7
Chủ yếu là tiêu thụ nội địa (là doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam).
Riêng tại Tp.HCM doanh nghiệp có một hệ thống tiêu thụ thông qua các siêu thị và các
Bakery chiếm khoảng 15% doanh thu toàn công ty.
Sản phẩm của Kinh đô đã có mặt trên 30 quốc gia: Mỹ, Canada, Mexico, Nhật, Đài
Loan, Doanh thu xuất khẩu chiếm khoảng 10% tổng doanh thu của Công ty.
Mục tiêu
Tiếp tục duy trì vị trí đứng đầu trong ngành sản xuất bánh kẹo, tốc độ tăng trưởng
bình quân 20-30%/năm
Giải thưởng tiêu biểu
Kinh Đô đạt danh hiệu: “Hàng Việt Nam chất lượng cao” 11 năm liền (1997-
bánh kẹo đa dạng, sự ra đời sản phẩm bánh kẹo mới sẽ thay đổi thói quen tiêu dùng,
nhưng sự kựa chọn sản phẩm mới không ảnh hưởng đến tiêu dùng sản phẩm cũ, do sự đa
dạng trong chủng loại sản phẩm và sự đa dạng trong sở thích tiêu dùng. Các công ty trong
ngành bánh kẹo đầu tư nhiều dây chuyền máy móc hiện đại phục vụ cho nhiều chủng loại
sản phẩm khác nhau, các dây chuyền mới hiện đại, các dây chuyền ra đời sau có tuổi thọ
kéo dài hơn. Các công ty có xu hướng đầu tư những dây chuyền hiện đại, tạo điều kiện đa
dạng hoá sản phẩm và đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới.
Tình hình kinh doanh:
Nhãn hiệu "Kinh Đô" hiện đang dẫn đầu thị trường với khoảng 40% thị phần (kể
cả công ty CP Kinh Đô- KDC và công ty CP chế biến thực phẩm Kinh Đô miền Bắc-
NKD). Với tốc độ tăng trưởng cao và kéo dài (doanh thu tăng 20%/năm, lợi nhuận tăng
30%/năm), từ 2003-2007, tổng doanh thu của KDC tăng gấp đôi, lợi nhuận trước thuế
tăng gấp 3 lần.
Mặc dù gặp phải khó khăn do giá nguyên liệu đầu vào (đường, bột, sữa ) tăng cao
nhưng kết quả kinh doanh năm 2007 của KDC, NKD vẫn rất khả quan, doanh thu và lợi
nhuận đều tăng cao. Dưới đây là phân tích sơ bộ về hoạt động kinh doanh của NKD:
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG 3 NĂM (2005 – 2007):
(Triệu đồng)
2005 2006 2007
Doanh thu thuần 354,788 419,429 561,516
Lợi nhuận trước thuế 39,670 55,618 96,017
Lợi nhuận sau thuế 33,946 60,744 72,320
Vốn chủ sở hữu 70,000 84,000 100,797
Nguồn: Báo cáo tài chính NKD
Giai đoạn 2005 – 2007, tốc độ tăng trưởng doanh thu trung bình của NKD đạt
26%/năm. Năm 2007, doanh thu thuần đạt 562 tỷ, tăng đến 34% so với năm 2006 do hệ
thống phân phối tăng 22% điểm bán. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế chỉ tăng 18% làm tỷ
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 9
với hơn 20 nhãn hàng, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp và giá cả khá hợp lí. Bibica (bánh kẹo
Biên Hòa) xếp thứ 2 với khoảng 7-8%. Orion Vina là nhân tố mới trong thị trường, tuy
nhiên với sự đầu tư lớn vào công nghệ với một nhà máy sản xuất trị giá hơn 40 triệu USD
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 10
cùng với hoạt động marketing hiệu quả, cũng là một đối thủ cạnh tranh mà Kinh Đô cần
quan tâm đúng mức.
Như đã đề cập ở trên các sản phẩm nhập từ Asean, Trung Quốc chiếm 20%, các sản
phẩm từ Âu-Mỹ chiếm khoảng 10%. Các công ty nội địa khác cùng chia nhau 20% thị
phần.
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp:
Với tư cách là người dẫn dắt thị trường, sản phẩm Kinh Đô cũng phải đối mặt với sự
cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối thủ của mình.
Trong khi Kinh Đô mạnh về các sản phẩm cracker như Cosy hay AFC, Bibica lại
được biết đến nhiều tới bánh layer, pie với các nhãn như Hura, Oris… Hơn nữa, Bibica đã
nhanh nhạy trong việc nắm bắt nhu cầu ăn kiêng của người tiêu dùng, phối hợp với Viện
Dinh Dưỡng phát triển các sản phẩm bằng đường Isomalt, bổ sung chất xơ và một số vi
chất dành cho người ăn kiêng, người mắc một số bệnh mạn tính đang có xu hướng gia
tăng: thừa cân béo phì, đái tháo đường và bệnh lý tim mạch như Hura Light, Biscuit
Nutribis Light, kẹo Yelo không đường. Tuy nhiên, các sản phẩm này được định giá khá
thấp- 17000 đ/hộp 140g, nhắm tới người tiêu dùng thu nhập tương đối thấp. Vì vậy, trong
ngắn hạn, Bibica không có khả năng đe dọa trực tiếp lên thị phần của Kinh do. Tuy nhiên
với định hướng tốt nhưu vậy cho sản phẩm của mình, nếu Bibica biết kết hợp với một
chiến lược marketing thực sự hiệu quả để định vị trong nhận thức của người tiêu dùng:
“Bibica là có lợi cho sức khỏe” thì hoàn toàn có khả năng tranh giành thị trường với Kinh
Đô
Orion Vina nhắm tới người mua có thu nhập khá với mẫu mã, hương vị và chất
lượng nổi bật so với các nhãn trong nước khác. Sự xuất hiện của Orion Vina làm lung lay
nên quan tâm nhiều hơn tới sức khỏe và sắc đẹp của mình. Nhận thức được sự nguy hại
của chứng bệnh thừa cân béo phì nhưng do không kiên trì, công việc không yêu cầu vận
động, không tích cực trong việc kiểm soát khẩu phần ăn, người bệnh khó có thể dung hòa
khối lượng calo đưa vào cơ thể và lượng mất đi do hoạt động thường ngày. Điều này đặc
biệt nghiêm trọng ở phụ nữ- đối tượng cực kì dễ tăng cân- khi công việc vốn đã quá bận
rộn lại còn rất nhiều lo toan cho cuộc sống gia đình, họ có rất ít thời gian chăm sóc bản
than. Bên cạnh đó, việc sử dụng các sản phẩm viên hỗ trợ giảm cân hay các dạng thực
phẩm chức năng thường đem lại cho người sử dụng cảm giác không an toàn, tin tưởng.
Họ có xu hướng cho rằng những sản phẩm này không tốt cho sức khỏe. Việc cho ra đời
một sản phẩm một mặt giúp phòng ngừa thừa cân, mặt khác hỗ trợ giảm cân mà lại thỏa
mãn khẩu vị của những người thích đồ ngọt hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của cuộc sống
hiện đại.
3. Phân tích SWOT
Điểm mạnh (Strength):
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 12
Kinh Đô có sẵn dây chuyền thiết bị tương đối hiện đại sản xuất hầu hết các sản
phẩm bánh kẹo như cracker, biscuits, bánh mì, bánh bông lan, kẹo các loại. Điều này tạo
điều điện thuận lợi cho việc phát triển thêm sản phẩm mới mà không cần đầu tư quá lớn
vào làm mới toàn bộ dây chuyền, giảm đáng kể chi phí.
Kinh Đô đã có kinh nghiêm trong việc phát triển nhãn hàng AFC với dị biệt
chứa nhiều canxi tốt cho sức khỏe. Ngoài ra, công ty không ngừng mở rộng nhãn ra nhiều
sản phẩm với nhiều hương vị và chức năng gia tăng khác nhau.
Công ty Kinh Đô phát triển hệ thống các nhà phân phối và đại lý phủ khắp 61
tỉnh thành, luôn luôn đảm bảo việc kinh doanh phân phối được thông suốt và kịp thời. Với
năng lực, kinh nghiệm và nhiều năm gắn bó, hệ thống các nhà phân phối và đại lý của
Công ty đã góp phần đáng kể cho sự trưởng thành và phát triển của mình. Kinh Đô hiện
có một mạng lưới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp cả nước. Tốc
Mức sống ngày càng tăng thì sự quan tâm của người tiêu dùng tới độ an toàn
của sản phẩm càng tăng, chưa kể tới nỗi lo về vóc dáng và các căn bệnh mãn tính nguy
hiểm. Người ta sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho một sản phẩm có giá trị tăng thêm có ý
nghĩa.
Trên thị trường, ngoài Bibica, vẫn còn rất ít đối thủ tập trung khai thác loại sản
phẩm này.
Thách thức (Threats)
Nền kinh tế kém ổn định không chỉ ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp
mà sự suy thoái của nền kinh tế còn làm cho người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, đặc biệt
với những mặt hàng không thiết yếu như sản phẩm của công ty.
Sản phẩm bánh kẹo ít calo, giảm béo trên thị trường tuy không nhiều nhưng
sản phẩm thay thế cho chúng thì khá phổ biến, có thể dành riêng cho người bị tiểu đường,
thừa cholesterol, hay thừa cân, béo phì
Sau khi gia nhập AFTA và WTO, không còn được bảo hộ nữa. Từ năm 2005
thuế suất bánh kẹo đối với hàng nhập khẩu từ Thái Lan, Malaysia…chỉ còn chịu thuế suất
5%.
BẢNG TÓM TẮT PHÂN TÍCH SWOT
Strength
Weakness
-
dây chuyền sản xuất có sẵn
- kinh nghiệm sản xuất bánh dinh
dưỡng
- hệ thống phân
- phối rộngthị phần ưu thế
- nhãn nổi tiếng
-
thị trường
- giảm thuế cho sản phẩm nhập từ
Asean, cạnh tranh càng gay gắt
III. Thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu
1. Mô tả phân khúc, đánh giá phân khúc, chọn phân khúc:
Mô tả phân khúc:
Phân khúc theo tâm lý:
Ta có thể thấy khi mua bánh thì có một số yếu tố tác động tới sự lựa chọn của người
tiêu dùng như sau: hương vị, nhãn nổi tiếng, giá rẻ, có lợi cho sức khỏe, sự cao cấp, vị
ngọt dễ chịu, bao bì đẹp mắt, chứa ít calo. Các yếu tố này có thể phân thành 4 nhóm chính
là hương vị, tốt cho sức khỏe, giá rẻ, nhãn nổi tiếng. Ngon, bình dân
Ngon và nhãn
cao cấp
Giá hợp lí, có
lợi cho sức
2/. Bản đồ phân khúc nhu cầu
Yếu tố
Kinh
Đô
Bibica
Hải
Châu
Hải
Hà
Orion
Hương v
ị
*** ** * ****
Nhãn n
ổi tiếng
**** *** * ** *****
Giá c
ả hợp lí
* *** **
Có l
ứa ít calo
**
Ngon, bình dân
30%
Ngon và nhãn
cao cấp
45%
Giá hợp lí, có lợi
cho sức khỏe
17%
Cao cấp và có
lợi cho sức
khỏe
8%
Giá r
ẻ
Có l
ợ
i cho s
ứ
c kh
ỏ
e
Hương vị
Nhãn nổi
Bibica
Cao cấp và có
lợi cho sức
khỏe
8%
Các nhãn
bánh ngoại
Có lợi cho sức khỏe
Giá r
ẻ
Nhãn nổi
tiếng
Hương vị
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 17
Ở nông thôn và miền núi, người ta thường ít mua các loại bánh hơn so với
thành phố. Nếu có thì sự lựa chọn của họ cũng thường tập trung vào các loại bánh giá cả
bình dân và chú trọng vào hương vị chứ ít chú trọng tới các yếu tố khác.
Phân khúc thành thị là nơi tập trung nhiều người có thu nhập cao và nhiều
nhân viên văn phòng phải làm việc phòng giấy nhiều, ít có thời gian vận động. Họ quan
tâm và sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm có yếu tố có lợi cho sức khỏe.
Ta nhận thấy có sự phân khúc theo địa lý về thị trường bánh ngọt ở Việt Nam
như sau:
Đánh giá phân khúc:
Phân khúc theo tâm lý:
Phân khúc ngon, bình dân: Đây là một phân khúc giá rẻ. Trong khi đó, Kinh
chọn một sản phẩm nào đó, họ thường chú ý đến các yếu tố liên quan tới sức khỏe cũng
như chăm sóc cho vẻ bề ngoài của họ.
Mặt khác, nữ giới cũng là những người thường có thói quen lựa chọn các loại bánh
kẹo làm món ăn vặt. Tuy nhiên, bánh kẹo lại có chứa hàm lượng đường cũng như calo cao
nên dễ dẫn đến tăng cân một cách nhanh chóng. Do đó, họ thường phải tiêu tốn nhiều thời
gian cũng như công sức cho các hoạt động để giảm cân nếu “lỡ ăn một cách quá đà” các
món bánh kẹo. Thế nhưng, việc ăn vặt cũng là một phần không thể thiếu đối với nữ giới
ngày nay - giúp họ có thể nạp năng lượng tạm thời cũng như là để giải tỏa căng thẳng,
giảm stress.
Như vậy, ta có thể nhận thấy có một nhu cầu tiềm ẩn ở đây. Đó chính là làm sao có
thể thỏa mãn nhu cầu ăn vặt nhưng lại không phải lo ngại vấn đề tăng cân làm hỏng
vóc dáng của mình.
3. Khách hàng mục tiêu:
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 19
Đặc điểm khách hàng mục tiêu:
Qua các phân tích ở trên, ta xác định nhóm khách hàng mục tiêu có các đặc điểm sau:
- Nữ nhân viên văn phòng
- Trẻ, độ tuổi từ 24 – 35
- Có thu nhập cá nhân trên 4,9 triệu đồng / 1 tháng
Lý do trở thành khách hàng mục tiêu:
- Họ là những người có sở thích ăn vặt và cần các món ăn tiện lợi, có thể ăn ngay tại
văn phòng. Do đó, họ là những người thường lựa chọn bánh như là một món ăn
vặt.
- Họ là những người trẻ, năng động và rất quan tâm đến vẻ bề ngoài, sắc đẹp cũng
như là vóc dáng. Do đó, họ có nhu cầu về những món ăn không gây tăng cân, béo
phì.
- Họ là người tự chủ về tài chính, sẵn sàng và có khả năng chi trả cho việc mua các
đạo là màu xanh da trời đậm chấm phá màu vàng mang lại cho người mua cảm giác trẻ
trung, bắt mắt. thể tích của hộp bánh có thể để vừa trong túi xách của khách hàng giúp họ
có thể đem theo thưởng thức mọi lúc mọi nơi. Mỗi chiếc bánh được bao bọc bởi một lớp
riêng giúp người ăn bảo quản được những phần ăn chưa hết, đồng thời mang lại cảm giác
sang trọng cho chiếc bánh, vừa khẳng định được tính cách của mình.
2. Định vị sản phẩm
Nhãn và tính cách nhãn
Bánh layer Sweet
Slim khỏe đẹp năng động
tự tin và sành điệu.
Vị trí cạnh tranh
Các nhãn hiệu bánh
dinh dưỡng cao cấp trong
và ngoài nước hiện nay như
là: fumix, Century
Đối tượng nhắm đền
Phụ nữ làm công
việc ở văn phòng 22-40,
thu nhập khá, thích ăn
bánh ngọt đồng thời cũng
rất quan tâm đến vóc
dáng của mình
Insight
Bánh kẹo thông
thường chứa nhiều chất béo
dễ làm cho các bạn gái mau
ngán, và làm tăng nỗi lo sợ
tăng cân khi muốn ăn nhiểu
VI. Chiến lược Marketing hỗn hợp
1. Sản phẩm (product)
Sản phẩm có thể được thiết kế như sau:
Đặc trưng của nguyên liệu: chứa đường Maltoolygosacarit và xylitol + lúa mạch và
ngũ cốc chứa nhiều xơ + nhiều hương vị (vị dâu, nha đam, cam, dứa…)
Bao bì: khác biệt với bao bì của các loại layer cakes bình thường khác nhưng vẫn tạo
ra sự tiện dụng, đó là hộp hình vuông lớn có nắp, màu của vỏ hộp tuỳ từng hương vị
của bánh mà thiết kế sao cho phù hợp. Đặc biệt, để gây sự chú ý cho bánh, trên vỏ
hộp giấy có in tên và slogan cho bánh “sweetslim-sự thon thả ngọt ngào”, màu sắc
chủ đạo là màu xanh da trời đậm và vàng. Trong hộp chứa từng cái bánh lẻ có bọc
nylon riêng (với màu tương thích với vỏ hộp bên ngoài).
Chất lượng: sản phẩm được đóng dấu công nhận sự kiểm chứng của viện dinh
dưỡng về độ ngọt và hàm lượng xơ chứa trong bánh.
Kích cỡ: bánh lẻ bên trong có cùng kích cỡ như nhau nhưng hộp có 2 dạng khác
nhau
Dạng 1(hộp giấy nhỏ): 20gr6packs.
Dạng 2(hộp giấy lớn): 20gr12packs
Đặc biệt cần lưu ý ở đây là: trong quá trình thăm dò thị trường, thu thập ý kiến
khách hàng sẽ chưa có dạng bánh hộp giấy bọc nylon bên ngoài với số lượng bánh
lẻ là 24 packs như dạng bánh Solites của công ty với mục đích thông qua sự khác
biệt về kích cỡ góp phần tôn thêm bánh Sweetslim thuộc dòng cao cấp.
Đối với bánh lẻ bên trong, trên bao bánh có in dấu hiệu xé bánh nhằm đem đến
cho người tiêu dùng cảm giác thoải mái khi ăn.
Những hoạt động kèm theo:
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 22
Trên vỏ bánh có in đường dây liên lạc nóng với bộ phận dịch vụ khách hàng để
giải đáp những thắc mắc của khách hàng khi cần thiết và cung cấp kiến thức dinh
Sweetslim - “Sự thon thả ngọt ngào”
GVHD: Th.S Hoàng Thọ Phú 23
4. Chiêu thị (promotion)
Tuỳ theo mục đích của từng giai đoạn phát triển Marketing mà ta có vạch ra chiến
lược Marketing sao cho phù hợp.
Giai đoạn đầu: dự tính hàng được tung ra vào quý 3 của năm, khi nhu cầu tiêu
dùng và mua sắm bắt đầu tăng cao kéo dài đến quý tư của cùng năm, nhu cầu tăng cao để
chuẩn bị cho việc đón Tết,họ sẽ có thời gian nhận biết và sau đó là mua hàng. Do đó, với
mục tiêu là thu hút nhanh nhất sự chú ý của đối tượng khách hàng tiềm năng, để có thể
thu được kết quả tốt doanh nghiệp nên thực hiện các hình thức chiêu thị như sau:
Tăng số lần quảng cáo trên TV, một phương tiện truyền thông có độ bao
phủ rộng và gây sự chú ý nhanh nhất vì có hình ảnh đẹp và thu hút nhiều đối tượng.
TV có nhiều điểm mạnh nhưng nó cũng có hạn chế là tính chọn lọc thấp, chi
phí lớn, thời gian ngắn cho nên doanh nghiệp cũng cần hoạch định các phương thức
quảng cáo khác phù hợp với khách hàng mục tiêu. Với đặc trưng của đối tượng khách
hàng là từ 24-35 tuổi, nhân viên văn phòng trẻ, có thu nhập cá nhân trên 4.9 triệu/tháng,
có kiến thức và mong muốn có một vóc dáng khoẻ mạnh mà khó có thể từ bỏ thói quen ăn
vặt của mình. Họ sẽ là những người thường xuyên cập nhật tin tức trên các phương tiện
truyền thông không chỉ vì thói quen mà còn vì kiếm tìm cho bản thân một giải pháp làm
đẹp vóc dáng, hiểu thói quen của họ cũng như mong muốn trên doanh nghiệp nên tăng
cường quảng cáo bằng kênh báo hình, báo chữ, internet,…một số báo điển hình phụ nữ
hay đọc là: tiếp thị và gia đình, phụ nữ, kinh tế sài gòn,…Một cách làm cũng có hiệu quả
lớn trong thời đại thông tin hiện nay là gởi thư điện tử thông báo về sự ra đời của dòng
bánh Kinh Đô đặc biệt này. Bên cạnh đó sẽ kết hợp quảng cáo ngoài trời trên các pano,
bảng điện tử hay trạm xe bus công cộng,…một cách thông đạt đến nhiều đối tượng khách
hàng trong thời gian ngắn nhất.
Kết hợp với việc phân phối sản phẩm ở tất cả các kênh phân phối của Kinh
Đô chúng ta nên hỗ trợ cho việc bán hàng có hiệu quả với các hình thức chiêu thị như sau:
Đối với đại lý của Kinh Đô, chúng ta sẽ treo posters quảng cáo. Và việc
treo posters này hoàn toàn có lợi cho chủ cửa hàng vì cửa hàng sẽ có thêm khoản tiền 200
ngàn/tháng, khoản tiền này sẽ gởi cho chủ cửa hàng cuối tháng thứ 3 của giai đoạn đầu
này.
Giai đoạn 2: Mục tiêu tăng doanh số và khả năng nhận biết của khách hàng
Bằng cách đẩy mạnh hàng tiêu thụ ở các kênh phân phối (siêu thị, đại lý):
Hỗ trợ việc bán hàng bằng cách chiết khấu cho người bán cũng như siêu thị theo
trị giá đơn hàng: mỗi 1 triệu tiền hàng mua, cửa hàng sẽ được chiết khấu 2%. Thanh toán
ngay cửa hàng sẽ có lợi hơn vì mức chiết khấu là 5%. Việc chiết khấu này được tổng kết
cuối mỗi tháng. Với mỗi hoá đơn tiền mua bánh trên 7 triệu/tháng chủ cửa hàng sẽ được
SWEETSLIM - SỰ THON THẢ NGỌT NGÀO
1. Bạn thường mua bánh kẹo Kinh Đô không?
có không
2. Bánh bạn vừa thử có vị ngọt như thế nào?
ngọt lịm ngọt thanh
3. Theo bạn, lúa mạch có chứa chất xơ như thế nào?
nhiều ít