Kỹ Thuật Nuôi Cá Trê
Lai
I. MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁ TRÊ LẠI:
1. Cá Trê lai, một loại cá có sức chống chịu cao đối với điều kiện xấu của ao
nuôi
Cá Trê lai cỡ thương phẩm có thể sống trong nước với các giới hạn:
- Nhiệt độ từ 8 đến 39,5 0C
- Độ chua, kiềm: pH từ 3,5 đến 10,5
- Độ muối dưới 15 0/00
- Ôxy hoà tan: Cá có cơ quan thở phụ, hấp thụ được ôxy khí trời, nên có thể
sống những nơi chật hẹp, hàm lượng ôxy hoà tan rất thấp, thậm chí có thể
sống ở bên ngoài nước một số giờ nếu giữ được độ ẩm cầm thiết cho cá. Cá
càng lớn khả năng chống chịu của cá càng cao.
- Nhược điểm của cá Trê lai là khả năng chịu rét hơi kém. Vì thế về mùa
đông ở Miền Bắc cần có kế hoạch phòng chống rét cho cá.
2. Cá Trê lai lớn nhanh, cho năng suất cao
- Cá con: Ương nuôi từ cá bột sau 28 ngày có thể đạt qui cỡ cá giống 4-6 cm.
- Cá thương phẩm: Nuôi từ cá giống, sau 4-5 tháng đạt qui cỡ 250-400 g/con.
- Có thể đạt năng suất 1,0-2,0 kg/m2 sau 4-5 tháng nuôi trong điều kiện bình
thường, không cần điều kiện thiết bị phức tạp.
3. Cá Trê lai là loài cá ăn tạp, ăn trực tiếp được nhiều loại thức ăn
- Lúc còn nhỏ ăn các loại động vật cỡ nhỏ sống trong nước như các loại động
vật phù du (Thuỷ trần, bọ nước), giun đỏ v.v
- Lúc trưởng thành: ăn được các loại mùn bã động vật, côn trùng, cám gạo,
phân gia súc, gia cầm, thức ăn hỗn hợp v.v
với nuôi đơn.
- Ao nhỏ, chăm sóc, diệt trừ dịch hại tốt: Cỡ giống (cm) 3 – 5; Mật độ
(con/m2) 15 – 25.
- Ao trung bình, chăm sóc đảm bảo: Cỡ giống (cm) 4 – 6; Mật độ (con/m2) 15
– 20.
- Ao lớn, diệt trừ địch hại khó khăn: Cỡ giống (cm) 5 – 7; Mật độ (con/m2) 10
– 15.
Nuôi ghép thường thả ghép cá trê 1,0-2,0 con/m2, cỡ cá trê phải nhỏ hơn cá
nuôi khác.
3. Thức ăn cho cá:
Sử dụng các loại thức ăn: Cám gạo, gạo kém phẩm chất, ngô, bã rượu, mì
vụn, bột cá nhạt, đầu vỏ tôm, tôm, cua, ếch, nhái, giun đất, phế phụ lò giết
mổ, phân gia súc, gia cầm v.v để cho cá ăn. Cá càng lớn khả năng tiêu hoá
càng mạnh, cá càng ăn tạp. Cần phối trộn các loại thức ăn. Thức ăn chất bột
cần nấu chín. Lượng chất đạm (Protein) trong thức ăn càng nhiều càng tốt,
lượng tối thiểu cần cho tháng thứ 1: từ 20-30%, tháng thứ 2 từ 10-20%, tháng
thứ 3 trở đi từ 10-15% trong tổng số thức ăn.
Khi cho cá ăn, nắm thành từng nắm khoảng 500 g/1nắm thả từ từ xuống một
vài chổ trong ao để cho cá ăn (khoảng 200 m2/1điểm) lượng thức ăn cho ăn
từ 4-6% khối lượng cá/ngày theo thức ăn khô, 8-12% theo thức ăn ướt, điều
chỉnh theo mức ăn hết của cá.
Một hình thức tốt là nuôi cá trê thích hợp với nuôi gà vịt, chuồng gà nằm trên
bờ hoặc trên bờ ao, thức ăn rơi vãi của gà (5-10%), phân gà là thức ăn tốt cho
cá. Cứ khoảng 2,5 kgcon gà nuôi được 1m2 ao. Trên mặt ao thả bèo cái giống
mới 1/2 mặt ao để bèo hút bớt chất bẩn đồng thời cung cấp thức ăn cho chăn
nuôi. Nếu có điều kiện có một ao khác bên cạnh để dùng nước thải của ao cá
trê nuôi các loại khác như mè, rô phi. Các loại cá này làm thức ăn cho người,
cá trê hoặc chăn nuôi khác.
2. Bệnh trắng da, khoang thân:
* Triệu chứng: Cá bột thường nổi trên mặt nước, bơi chậm chạp, trên thân
có những vệt, đám trắng, da bị loét, vây cụt. Cá chết đứng thẳng, chết rất
nhanh đồng loạt ở đáy bể.
* Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Flezibacter columnaris. Vi khuẩn tiết
độc tố huỷ hoại da, mang, cản trở hô hấp làm cá chết rất nhanh.
* Điều trị: Có thể dùng các loại kháng sinh như Chloroxit, Tetracylin hay
Ampicilin để tắm cho cá với liều lượng 1 viên 250mg/10 lít trong 30 phút.
3. Bệnh trùng quả dưa, bệnh chấm trắng:
* Triệu chứng: Trên da, gốc vây, ngực có những chấm nhỏ màu trắng, to
bằng đầu ghim. Cá bơi thành từng đám trên mặt nước, ở các góc cạnh dụng cụ
ương nuôi. Khi bị nặng da cá bung ra từng mảng. Bệnh hay lây, chết hàng
loạt, rất nhanh trong 2-3 ngày.
* Tác nhân gây bệnh: Do một loại nguyên sinh động vật Ichthyophirius
mulrifilis gây nên. Có 2 giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn 1: Trùng ký sinh nằm trong các bào nang dưới da (điểm màu
trắng) chưa có thuốc điều trị.
- Giai đoạn 2: Bào nang vỡ, ấu trùng bơi trong nước tìm gặp ký chủ trong
24h, giai đoạn này cá chết hàng loạt.
* Điều trị: Bệnh khó chữa. Có thể dùng 2 cách sau:
- Cách 1: Ngâm cá trong dung dịch Vemalachit 0,005ppm. Nồng độ pH
trong nước lên 9 bằng nước vôi trong, giữ nhiệt độ nước 28-29 0C. Hàng
ngày thay nước thuốc 1 lần, giữ liên tục trong 8 ngày.
- Cách 2: Ngâm cá trong nước với hàm lượng Formalin CH3COOH 25ppm,
ở nhiệt độ nước 28-29 0C trong 8 ngày.
* Tác nhân gây bệnh: Do các loại vi khuẩn Aeromonas sp, Flexibacter sp
v.v gây nên.
* Điều trị: Thay nước 2 ngày/lần, bón vôi 120-200 kg/ha, trộn xay
Tetracilin, chloroxit hoặc Ganidan vào trong thức ăn với liều lượng 0,3-0,5
g/kg thức ăn.