Tài liệu Kỹ Thuật Nuôi Nai - Pdf 10

Kỹ Thuật Nuôi Nai I. Giống và đặc điểm giống
1. Tên gọi:
Tên thường gọi là nai. Nai đã được thuần hoá ở nhiều nơi trên thế giới, ở Việt
Nam nai cũng đã được nuôi khoảng 1 thế kỷ nay.
2. Vóc dáng:
Cân đối, nhanh nhẹn, chân dài và nhỏ, cổ dài, đầu nhỏ, tai to và thính. Con
đực lớn hơn con cái, lúc trưởng thành, con đực nặng 200- 250 kg, con cái
nặng 100 - 150 kg. Da nai màu tro hay xám đen. Lông nai có màu hung đen
hay nâu sẫm, con đực sẫm hơn con cái. Dọc theo chính sống lưng và có lông
dài và sẫm hơn. Chỉ có nai đực mới có sừng, sừng có 3-4 nhánh.
3. Tập tính sinh hoạt, tuổi thọ và môi trường sống:
Nai nhút nhát, hiền lành, thính giác, khứu giác tốt; thích sống theo bầy đàn
nhỏ vào ba con. Tuổi thọ của nai khoảng 25-30 năm. Môi trường sống thích
hợp là trảng cỏ, rừng thưa có nhiều cây, cỏ non Ban ngày nai thường tìm
nơi nên tĩnh, kín đáo và an toàn để ngủ, nghỉ ban đêm tìm kiếm thức ăn và
những hoạt động khác
4. Thức ăn:
Bao gồm, thức ăn xanh tươi (cỏ, cây các loại), thức ăn tinh (hạt ngũ cốc, củ
quả), muối khoáng như tro bếp, đất sét… Thực tế cho thấy, nai thường tìm
đến nương rẫy mới đốt kiếm tro, đất sét để ăn.
5. Sinh trưởng, phát triển:
Khoảng nửa giờ sau khi sinh, nai con có thể đứng dậy bú mẹ; 15-20 ngày bắt
đầu tập ăn cỏ, lá cây: 1, 5 tháng chạy nhảy, hoạt động như nai trưởng thành.
Nai sơ sinh nặng 4-5 kg/con, 1 tháng nặng 10- 15 kg, 6 tháng nặng 40-50 kg,
12 tháng có thể đạt trọng lượng trưởng thành. Sau một năm tuổi nai đực sẽ

nhẹn, khoẻ mạnh, không dị tật, bốn chân chắc khoẻ, lông da bóng mượt, màu
hung đen bay nâu sẫm; cơ quan sinh dục phát triển tốt và hoạt động bình
thường
III. Chuồng trại:
Mặc dù nai đã được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ, nhưng tính nhát người vẫn
còn mạnh, nên không thể chăn thả như dê, bò mà phải có chuồng nuôi nhốt.
Chuồng nuôi cần rộng rãi, thoáng mát, một phần là nhà che mưa, phần để
trống có cây che bóng mát có cỏ và cây bụi làm thức ăn. Chuồng nuôi nên có
nhiều ngăn, ít nhất là hai ngăn, ở giữa có một lối đi hẹp, lúc cần bắt đặt bẫy ở
giữa lùa chúng vào cho dễ bắt. Nguyên liệu để rào vườn có thể bằng lưới
thép, bằng gỗ, tre hoặc xây, chiều cao từ 2, 5m trở lên và không có các khe kẽ
rộng quá 10cm. Chuồng trại đơn giản, có mái che mưa, che nắng, xung quanh
rào lưới B40, nền chuồng bằng bê tông, có độ dốc 2-3% đảm bảo thông
thoáng, sạch sẽ, mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránh mưa tạt, gió
lùa, vệ sinh, tắm chải dễ dàng, có máng ăn, uống và sân chơi, có hệ thống xử
lý phân và nước thải… Diện tích chuồng nuôi 4- 6 m2/nai cái, 8-10 m2/nai
đực giống. Sân chơi có diện tích gấp 3-4 lần chuồng nuôi, được rào giậu cẩn
thận, sạch sẽ và có cây xanh, bông mát
IV. Thức ăn và khẩu phần thức ăn:
Nai là loài ăn tạp nhưng thức ăn phải sạch. Thức ăn cho nai bao gồm, thức ăn
xanh tươi, thức ăn ủ xanh của các loại cỏ, cây trồng hoặc tự nhiên như là
sung, lá mít, lá giới, lá bưởi, lá xoan, những lá cây, mầm cây ngọt bùi đắng,
chát, rau, củ, quả, thức ăn tinh hỗn hợp, thức ăn bổ sung đạm, khoáng, sinh
tố Những lá cây, quả đắng chát dùng làm thức ăn cho nai rất tốt. Khẩu phần
thức ăn bình thường 15-20 kg thức ăn xanh tươi, non ngon, 1-2kg thức ăn tinh
hỗn hợp hoặc tấm, cám gạo, bắp để sống boặc nấu chín, 3-5 kg trái cây như
chuối chín, vả, sung, roi cho ăn ngày 2 bữa, muối kboáng cho liếm tự do.
Hỗn hợp đá liếm bổ sung khoáng có thể mua hay tự trộn theo tỷ lệ (muối ăn
100g; sắt sunphát 100g; đồng sunphát 50g; diêm sinh 100g; vôi tôi 1.000g
đất sét vừa đủ 3kg) cho nai liếm 10-15 gam/con/ ngày hoặc cho liếm tự do.

và bồi dưỡng cháo có chút muối cho nai ăn mau lại sức… Kỹ thuật lấy nhung
(lộc) hay còn gọi là khai thác nhung thường thì 1 lần, 1 cặp /năm, có khi 2
lần, 2 cặp /năm. Nếu chăm sóc nuôi dưỡng và khai thác đúng quy trình kỹ
thuật (cắt nhung sau 50-60 ngày kể từ khi mọc nhung) thì mỗi năm 1 nai đực
có thể cho 1 cặp nhung nặng 0,9-1,0 kg/năm, cá biệt có con cho 1,5- 1,6
kg/năm. Nếu khai thác non thì mỗi năm có thể cho 2 cặp nhung, mỗi cặp nặng
0,4-0,5 kg, cá biệt có con cho 2 cặp nhung, mỗi cặp nặng 0,7- 0, 8 kg. Trong
điều kiện nuôi nhốt nai có thể sống 15 năm và cho 15-17 cặp nhung.
3. Nai mang thai và sinh đẻ:
Nai mang thai nên nuôi riêng để tiện chăm sóc nuôi dưỡng Nai mang thai 9
tháng 10 ngày thì đẻ. 5 tháng đầu mang thai cho ăn khẩu phần thức ăn bình
thường. Sau 6 tháng đến khi đẻ cần bổ sung thêm 0,5-0, 7 kg thức ăn tinh hỗn
hợp, 2-3 kg trái cây, muối khoáng cho liếm tự do Khẩu phần cho nai mẹ
phải đảm bảo số lượng, chất tượng và chủng loại cỏ, cây xanh tươi, nhất là
cây có nhựa nai thích ăn như sung, mít, và, cỏ sữa nước vo gạo, cháo cám,
đu đủ, ngô Nai con được 3 tháng tuổi, đã ăn được lá, cỏ thì cho nai mẹ ăn
khẩu phần thức ăn bình thường. Nuôi nai sinh sản cần chú ý.
- Con cái không mang thai, không đẻ, không động dục, phải dùng hormol kích
thích sinh dục.
- Trường hợp đẻ lứa đầu mẹ vụng về hoặc do đau vú không cho con bú, phải
can thiệp để ép nó cho con bú.
- Trường hợp đẻ khó quá, phải can thiệp để đưa con ra.
- Khi mẹ âu yếm con mới đẻ thường hay liếm chỗ rốn, dễ làm chảy máu gây
nhiễm trùng và chết con. Vì thế một phản xạ tự nhiên là con hay trốn mẹ, đến
giờ bú, con mới về.
4. Nai con:
Cho nai con bú sữa đầu càng sớm, càng tốt, chậm nhất 3- 4 giờ sau khi sinh.
Đề phòng thiếu sữa, thức ăn tập ăn sớm không đảm bảo chất lượng làm cho
nai bị rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy Hàng ngày, cho nai con vận động và
tiếp xúc gần gũi với con người. Nai con được 2-3 tuần tuổi có thể tập cho ăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status