MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỸ THUẬT NGUYÊN THỦY VÀ CỔ ĐẠI 3
Mở đầu 3
Mục tiêu 4
4
BÀI 1: MỸ THUẬT NGUYÊN THỦY 5
1. Khái niệm, có sở nghiên cứu nghệ thuật Nguyên thủy 5
2. Đặc điểm của mỹ thuật Nguyên thủy 6
2.1. Đặc điểm về đối tượng nghệ thuật 6
2.2. Tính tả thực 7
2.3. Đặc điểm về kỹ thuật, chất liệu 7
3. Một số di tích nghệ thuật tạo hình nguyên thuỷ tiêu biểu 8
BÀI 2: MỸ THUẬT AI CẬP CỔ ĐẠI 9
1. Một số nét khái quát về lịch sử và địa lý Ai Cập 9
2. Nghệ thuật kiến trúc Ai Cập Cổ đại 10
3. Nghệ thuật Điêu khắc Ai Cập Cổ đại 11
4. Nghệ thuật Bích hoạ Ai Cập Cổ đại 12
5. Kiến trúc Ai Cập cổ đại 12
5.1. Kim tự tháp Kê ốp (Chéops) 12
5.2. Lăng Vua Tút tan kha môn 13
5.3. Tượng Nhân sư (Sphinx). 14
5.4. Tượng Viên thư lại Kai 14
5.5. Tượng ông xã trưởng Bolét - gỗ (khoảng 4500 năm) 14
5.6. Bức chạm gỗ mạ vàng 15
5.7. Bích hoạ Ai Cập 15
5.8. Đền Kác nác (Karnak) thờ thần Mặt trời A.Mon 16
6. Đặc điểm của mỹ thuật Ai Cập cổ đại 16
BÀI 3: MỸ THUẬT HY LẠP CỔ ĐẠI 19
1. Khái quát về mỹ thuật Hy Lạp cổ đại 19
2. Nghệ thuật kiến trúc Hy Lạp cổ đại 20
Vậy, Mỹ thuật là gì?
Theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông thì “Mỹ thuật là từ dùng để chỉ các loại
hình nghệ thuật tạo hình chủ yếu là Hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa và trang trí. Đó
là những ngành nghệ thuật phản ánh cái đẹp bằng màu sắc, đường nét, hình khối, .… Mỹ
thuật là một trong những ngành nghệ thuật ra đời sớm nhất.
Hội họa là loại hình nghệ thuật diễn tả không gian ba chiều lên mặt phẳng hai chiều
bằng các ngôn ngữ đặc trưng như hình khối, màu sắc, đường nét, bố cục. Điêu khắc lại có
tiếng nói riêng đó là hình khối. Một tác phẩm điêu khắc được làm bằng các chất liệu như
đá, gỗ, đồng, đất nung, .… Nếu Hội họa, điêu khắc có tình độc bản thì đồ họa lại là loại
hình nghệ thuật có khả năng nhân bản với yếu tố ngôn ngữ đặc trưng là nét, mảng, chấm, .
… Kiến trúc là loại hình nghệ thuật thẩm mỹ môi trường. Cái đẹp của tác phẩm kiến trúc
biểu hiện ở sự tạo dáng kiến trúc, ở đường nét, hình khối ở tỉ lệ kiến trúc. Nghệ thuật
trang trí chính là nghệ thuật làm đẹp. Vì vậy, nó gắn liền với nhiều lĩnh vực: con người và
cuộc sống. Trang trí cũng sử dụng ngôn ngữ tạo hình như hình vẽ, màu sắc, họa tiết, .…
Các loại hình nghệ thuật kể trên đều có một tiếng nói chung đó là tạo hình, tạo khối bằng
một hoặc nhiều yếu tố ngôn ngữ tạo hình. Một hình thức hoạt động mà có hai tên gọi,
hoặc ta có thể hiểu rằng sự phát triển của mỹ thuật cũng chính là sự phát triển của nghệ
thuật tạo hình.
Người Hy Lạp xưa nổi tiếng về mỹ thuật. Nhưng sự tạo tác của họ lúc đầu vốn
không nghiên cứu, học tập, chỉ dựa vào trực giác để phân biệt cái đẹp, cái xấu của vật tự
nhiên; có điều cảm giác của họ nhạy bén cho nên thành tựu của họ rất kỳ diệu. Bởi vì hễ
là loài người, thì ai cũng có đủ hai đặc tính; một là cảm thụ, hai là sáng tác. Nói cảm thụ,
ví như trông thấy mặt trời buổi sáng nhô lên mặt biển, hay hoa thơm cỏ lạ mơn mởn thắm
tươi, thì ai lại cũng lĩnh hội được cảm xúc trước thiên nhiên tươi đẹp. Rồi một vài người
có tài biết đem cái cảnh đã cảm xúc ấy tái hiện thành tác phẩm mới. Thế là sáng tác. Cho
1
nên sáng tác nảy sinh ra từ suy nghĩ. Không có suy nghĩ tức là không có mỹ thuật. Song
vật tự nhiên mà mình trông thấy không phải đã mười phân vẹn mười; hoa có khi héo,
rụng; rừng có khi hoang vu, bẩn, cho nên trong khi tái hiện thành cái mới phải cải tạo
thêm cho thích hợp. Như thế là mỹ hóa, tức là làm cho đẹp hơn. Nếu không mỹ hóa thì
loại ngày nay thấy được sự sáng tạo tuyệt vời của con người thời cổ đại. Không những
thế, ngày nay chúng ta bằng các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại cũng chưa khám
phá hết sự hùng vĩ, kỳ bí trong cách xây dựng các công trình kiến trúc vĩ đại của nghệ
thuật cổ đại. Tưởng như những giải thích mang màu sắc thần thoại là hết sức hợp lý về
những thành tựu của nghệ thuật cổ đại.
Tại sao người Ai Cập cổ đại chỉ có sức lực và hai bàn tay mà xây dựng nên kim tự
tháp vĩ đại như Kê-ốp, Kê-phơ-ren, ?
Tại sao thời kỳ cổ đại cách chúng ta hàng mấy ngàn năm mà con người đã tạo ra
được những pho tượng hoàn thiện và đẹp đẽ như tượng vệ nữ Mi-lô, người ném đĩa?
Rất nhiều câu hỏi được đặt ra về nghệ thuật cổ đại. Nội dung chương II sẽ phần nào
trả lời câu hỏi đó. Tuy vậy do cấu trúc chương trình, Chương II chỉ đề cập đến nghệ thuật
cổ đại Ai Cập, Hy Lạp, La Mã. Nghệ thuật phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn
Độ sẽ được giải quyết và trình bày ở chương VI và cũng là chương cuối của phần lịch sử
nghệ thuật thế giới.
3
Mục tiêu
- Giúp sinh viên nắm được những đặc điểm cơ bản của Nghệ thuật Nguyên thủy. Biết
được một số di tích tiêu biểu.
- Giúp sinh viên hiểu được nguyên nhân và các yếu tố hình thành các nền mỹ thuật cổ đại.
- Sự phát triển của nghệ thuật cổ đại nói chung và của các nền nghệ thuật Ai Cập,
Hy Lạp, La Mã cổ đại.
- Những đặc điểm chung của nghệ thuật Ai Cập, Hy Lạp, La Mã.
- Nắm được một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của ba nền mỹ thuật cổ đại. Đặc biệt
là các tác giả, tác phẩm được giới thiệu trong chương trình môn Nghệ thuật ở
THCS.
- Bước đầu biết cách nghiên cứu phân tích và đánh giá một tác phẩm mỹ thuật.
4
BÀI 1: MỸ THUẬT NGUYÊN THỦY
1. Khái niệm, có sở nghiên cứu nghệ thuật Nguyên thủy
với cái có ích. Ngoài ra nghệ thuật tạo hình lúc này còn gắn với những tín ngưỡng, ma
5
thuật. Theo E. H. Gombrich, tác giả cuốn “Câu chuyện nghệ thuật” thì “Tranh và tượng
được họ dùng để thực hành pháp thuật”. “Những người thợ săn thời kỳ này nghĩ rằng chỉ
cần vẽ hình con mồi và có lẽ tấn công chúng bằng giáo mác hay rìu đá, những con thú
thật sẽ khuất phục sức mạnh của họ”. Tất nhiên đây là sự phỏng đoán của con người ngày
nay khi nghiên cứu về 2 lịch sử mỹ thuật của thời nguyên thuỷ.
Ngoài hai ý nghĩa trên, các hình vẽ còn có ý nghĩa là những thông tin nhắn gửi cho
các thế hệ sau về cuộc sống, sinh hoạt của con người thời tiền sử. Ví dụ qua các hình vẽ
thú vật như bò rừng, ngựa, voi, ma mút, … cho chúng ta biết về các động vật thời nguyên
thuỷ, ở bức tranh khác ta được chứng kiến cách đánh cá, cách quăng lưới, cách sử dụng
các con cá mồi lớn. Thậm chí con người thời kỳ đó vẽ chỉ để giải trí. Những con người
đầu tiên có mặt ở khắp nơi trên thế giới: Người Olduvai ở Đông phi, người Bắc Kinh
(Trung Quốc), người Nêanđéctan (Đức), người Crôma nhông (Pháp), …. Dấu vết về nghệ
thuật của họ vì vậy cũng trải ra trên một địa bàn rất rộng lớn: từ Châu Phi, Châu Á đến
Châu Âu (Bắc Âu).
2. Đặc điểm của mỹ thuật Nguyên thủy
2.1. Đặc điểm về đối tượng nghệ thuật
Trong các hình vẽ còn lại trên vách, hang, động nơi con người thời nguyên thuỷ
sinh sống chủ yếu là các hình thú hoặc đơn lẻ hoặc bầy đàn, ở một số tác phẩm đã có ý
thức bố cục các hình tượng theo một chủ đề nhất định. Người nguyên thuỷ đã rất thành
công khi vẽ con vật. Nhất là các hoạt động của chúng được diễn tả khá điêu luyện và rất
sống động. Đối tượng chủ yếu trong nghệ thuật giai đoạn này là các con thú như ngựa, bò,
hươu, tuần lộc, … điều này có thể lý giải được. Với cuộc sống nguyên thuỷ, các con vật
đó đã góp phần nuôi dưỡng con người, chúng là nguồn thức ăn chính của họ, là đối tượng
gần gũi nhất đối với con người.
Nghệ thuật luôn bắt nguồn từ thực tế, người nguyên thuỷ cũng không thể vượt quá
cuộc sống hiện thực của mình, tầm hiểu biết của mình. Cuộc sống ấy hướng vào những gì
gần gũi, thân quen nhất. Đó chính là sự tìm hiểu các loài thú để có thể săn bắt được, hoặc
tránh xa những con thú nguy hiểm, dữ tợn, .… Tất cả những điều đó được thể hiện qua
cuối đà, ở giữa tác giả chỉ diễn tả các cặp sừng cao dần, phía dưới dùng các gạch chéo với
cách làm như vậy tác giả đã cho chúng ta thấy một đàn hươu rất đông đang di chuyển.
Các hoa văn gạch chéo, hay những cặp sừng như một rừng cây đã thay thế cho những con
hươu giữa đàn. Như vậy trong bức chạm này, tác giả của nó đã dùng bút pháp tượng
trưng, ước lệ xen với lối tả thực đạt tới trình độ cao.
2.3. Đặc điểm về kỹ thuật, chất liệu
Một vấn đề đặt ra: Người nguyên thuỷ vẽ bằng gì? Và cách họ vẽ ra sao? Màu vẽ
được gọi là mầu thổ hoàng. Đó là một loại màu được chế tạo bằng cách mài các khoáng
chất thành bột rồi pha với nước. Màu đỏ lấy từ đá hematite (ôxit sắt hay đất son) màu
trắng từ đá Kalin hoặc phấn, màu đen từ dioxýt mangan hay than đá. Một số cộng đồng
7
người còn biết đun nóng các khoáng chất để tạo ra màu mới. Đôi khi để có chất kết dính
màu thổ hoàng người nguyên thuỷ đã biết dùng mỡ, hoặc tuỷ sống động vật và nhựa cây.
Kỹ thuật vẽ thì đơn giản, có thể dùng que, tay để vẽ. Chất liệu của điêu khắc phong phú
lơn. Có thể họ khắc, chạm lên xương, sừng, ngà voi hay đá mềm, ….
3. Một số di tích nghệ thuật tạo hình nguyên thuỷ tiêu biểu
Ngày nay chúng ta đã tìm được trên một trăm hang động có hình vẽ. Phần lớn đều
nằm ở miền Bắc Tây Ban Nha và miền Nam nước Pháp. Tuy vậy có hai hang còn lưu giữ
nhiều hình vẽ đẹp. Đó là hang Anta - mi - ra (Tây Ban Nha) và hang Látxcô (Pháp). Đây
được coi là hai bảo tàng lớn của nguyên thuỷ. Hang Anta - mi - ra được phát hiện năm
1863 do một sự tình cờ. Sau 16 năm tìm hiểu, nghiên cứu về các hình vẽ bò rừng ở trong
hang con người thế kỷ XIX mới tin rằng hang Anta - mi - ra chính là một trong những địa
điểm nổi tiếng của mỹ thuật thời nguyên thuỷ. Trong hang có nhiều hình vẽ con bò rừng
(Bi đông) trong các dáng khác nhau và rất sống động. Ngoài những đặc điểm được miêu
tả chính xác các hình vẽ này còn được thể hiện với những đường nét mềm mại, đậm nhạt
sinh động. Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật còn gọi hang Anta - mi - ra là “Toà tiểu giáo
đường Xicxtin của thời nguyên thuỷ”.
Hang Latxcô (Pháp) lại do một nhóm trẻ em đi chơi trong khu rừng Latxcô, do một
sự bất ngờ chúng tìm thấy một chiếc hang lớn. Trên vách và trần hang chúng thấy có
nhiều hình vẽ thú vật. Trong đó rõ và đẹp nhất là hình ngựa, bò, …. Ngựa ở hang Latxcô
1799. Từ đó giải mã được chữ tượng hình Ai Cập, và lịch sử mỹ thuật Ai Cập dần được
hé mở.
Người Ai Cập có nhiều thành tựu về khoa học: Toán học, Thiên văn học, y học….
sớm phát triển. Về toán học đã sớm nghiên cứu về phương trình bậc nhất trong tri thức
đại số, hình học đã biết các hình tam giác vuông, chữ nhật và số Pi (ð = 3,1416), … dùng
thước đo bằng gang tay, … Làm ra lịch, … Những thành tựu ấy đã giúp ta hiểu vì sao
người Ai Cập lại có thể xây được các kim tự tháp lớn như các kim tự tháp còn tồn tại trên
đất nước Hy lạp đến ngày nay.
Về tôn giáo, tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại: Họ thờ rất nhiều vị thần, tôn giáo
đa thần giáo phát triển.
Các vị thần hầu hết là đại diện cho lực lượng siêu nhiên chi phối đời sống nông
nghiệp như Thần mặt trời, Thần sông Nil, … và các thần động vật: Thần bò đực, Thần
diều hâu, Thần cá sấu, … người Ai Cập còn có lòng tin vào sự bất diệt của linh hồn, do
đó nghi lễ chôn cất của họ rất phức tạp. Vì quan niệm đó, hình thành tục ướp xác.
9
Tuy vậy với thủ tục và chi phí tốn kém nên hầu hết chỉ có các vua và những người
có đủ tiền mới được ướp xác. Xác ướp sẽ được giữ gìn trong lăng mộ với kích thước đồ
sộ, chất liệu bền vững là kim tự tháp. Tôn giáo, tín ngưỡng có ảnh hưởng đến đời sống,
nghệ thuật của Ai Cập.
2. Nghệ thuật kiến trúc Ai Cập Cổ đại
Thời kỳ đầu tiên, các kim tự tháp xây bằng gạch có bậc thang. Trải qua thời
gian phát triển, dần xuất hiện đá thay thế. Kim tự tháp đá được gọi là cổ nhất là của
vua Giôxê (Djoser), do “Kiến trúc sư” Imhôtép, quan đại thần của vua thiết kế và xây
dựng. Tháp được xây bằng đá, cao 60m, làm thành 6 bậc thang, những bậc này tượng
trưng như những tầng bậc đưa linh hồn vua lên tới trời cao. Cạnh đáy khoảng 71m.
Từ nguyên mẫu kim tự tháp Giôxê, các lăng mộ sau này đều được xây dựng thành
hình khối chóp, đáy là hình vuông, 4 mặt đều trơn nhẵn, không có bậc thang. Từ thời Tân
quốc người Ai Cập không xây dựng các kim tự tháp ở giữa sa mạc, mà xây chúng trong
thung lũng các vua và hoàng hậu.
Những ngôi đền thờ của Ai Cập được xây dựng với đồ án kiến trúc đơn giản gồm:
hình nhưng đầu mặt nhìn nghiêng, mắt và vai luôn hướng ở chính diện, bàn chân nhìn
nghiêng, ….
Sự kết hợp đó đã tạo nên những hình tượng rất đặc biệt, mang đặc điểm của nghệ
thuật Ai Cập. Nó đã khiến cho nghệ thuật Ai Cập mang tính dân tộc và không giống cách
tạo hình của dân tộc nào trên thế giới.
Như vậy, nghệ thuật điêu khắc Ai Cập vừa mang tính hiện thực, vừa mang tính ước
lệ và chịu ảnh hưởng của tư tưởng thần bí, tôn giáo.
4. Nghệ thuật Bích hoạ Ai Cập Cổ đại
Ngay từ thời kỳ cổ vương quốc, bên cạnh những bức chạm nổi có tô màu còn có
nhiều tranh vẽ trên tường (bích hoạ). Trong các bức tranh này ngoại trừ tính ước lệ trong
cách tạo hình như đã đề cập ở nghệ thuật điêu khắc tất cả các yếu tố khác đều đạt tới vẻ
đẹp hoàn thiện. Màu sắc trong sáng, tươi tắn với những nhịp điệu phong phú của mảng
sáng tối, đậm nhạt, của màu sắc và của đường nét. Hình tượng các con vật được diễn tả tỉ
mỉ, chính xác và hài hoà đến đáng khâm phục. Tuy vậy những bức tranh tường này vẫn
bộc lộ cảm xúc sâu sắc của các tác giả khi vẽ tranh. Tính khoa học rất cao trong nghệ
thuật tranh tường song không thô cứng mà vẫn rất mềm mại, giàu sức sống động. Nội
dung được chuyển tải là tôn giáo, là các cuộc tế lễ, cầu đảo, hoặc sinh hoạt của con người
rất phong phú. 5. Một số tác phẩm và công trình nghệ thuật tiêu biểu
5. Kiến trúc Ai Cập cổ đại
5.1. Kim tự tháp Kê ốp (Chéops)
Nằm ở phía Tây sông Nil, bên sa mạc Ghida (Ghiga) ngày nay, còn sừng sững ba
kim tự tháp: Kim tự tháp Kê ốp, Kêphren và Mykênrinốt. Trong số đó kim tự tháp Kê ốp
lớn nhất. Nó được xếp vào một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại. Đây là lăng mộ xây
cho vua Kê ốp, ông vua thứ hai của vương triều IV khoảng giữa năm 2650 TCN. Kim tự
tháp Kê ốp cao 137m, do 225 vạn tảng đá vôi xây nên, Mỗi tảng đá nặng từ 2 - 2,5 tấn,
tảng lớn nhất nặng 15,25 tấn. Đỉnh kim tự tháp là một hình vuông bằng phẳng không có
dấu hiệu của sự dở dang hay sói mòn. Hình vuông ấy có kích thước mỗi cạnh 10m, được
lát bằng 9 phiến đá vuông.
Theo các nhà khoa học trong kim tự tháp Kê ốp có 1/5 thể tích là những khoang
trống có chứa cát. Bốn mặt của kim tự tháp theo bốn hướng Bắc, Nam, Đông, Tây. Người
5.3. Tượng Nhân sư (Sphinx).
Bên cạnh lăng Kêphren ở Ghi - da có một bức tượng lớn. Tượng đầu người mình
sư tử. Tượng cao 20m, dài gần 60m. Hình tượng nhân sư là hình tượng mang tính chất
thần bí, biểu hiện sức mạnh vô địch. Sức mạnh được tạo bởi quyền lực của nhà vua và sức
mạnh thể chất của chúa sơn lâm. Đó cũng là sự kết hợp giữa trí tuệ và hành động. Tượng
được làm bằng đá khối. Hơn ba ngàn năm trôi qua, tượng nhân sư đã được tu sửa rất
nhiều lần.
5.4. Tượng Viên thư lại Kai
Ở Ai Cập nghề được coi trọng và ngưỡng mộ là nghề viết chữ. Thư lại là người rất
quan trọng và có nhiều nhiệm vụ: có thể giữ hồ sơ thuế, các vụ xét xử và nhiều loại văn
bản khác.
5.5. Tượng ông xã trưởng Bolét - gỗ (khoảng 4500 năm)
Khí hậu Ai Cập khô, nóng, độ ẩm thấp. Vì vậy ngay cả chất liệu gỗ cũng bền vững
với thời gian. Tượng ông xã trưởng là pho tượng gỗ cổ nhất Ai Cập còn lại đến ngày nay.
Tượng được diễn tả trong tư thế đang bước đi, tay trái chống gậy, mắt nhìn thẳng. Khối
căng tròn, thể hiện người đẫy đà, thô, mập theo kiểu người làm nghề nông. Riêng đôi mắt,
để tăng thêm phần sống động, người Ai Cập cổ đã nghĩ ra kỹ thuật gắn bột thuỷ tinh.
Tượng vua Rahôtép và vợ là hoàng hậu Nophre (cuối triều vua thứ III). Nhìn thẳng
hai pho tượng được làm theo nguyên tắc nhìn ngay ngó thẳng của Ai Cập. Cả hai pho
tượng đều được tạc từ khối đá nguyên, ngồi tĩnh lặng, tay bó vào thân. Tượng được tô
màu: Vua màu đậm, hoàng hậu mắt sáng hơn. Mắt được khảm và vẽ đậm, trông giống
như người thật. Nhìn nghiêng ta có thể cảm nhận được sức sống tràn trề trên hai cơ thể,
chất da thịt sống động gợi cảm.
Nói đến nghệ thuật điêu khắc Ai Cập, không thể bỏ qua tượng hoàng hậu
Nephéctiti vợ vua Akhênatôn. Nhiều tượng chân dung của bà được giữ đến ngày nay, đã
đánh dấu sự chuyển biến trong phong cách nghệ thuật Ai Cập. Tượng mang nhiều chất hiện
thực, sống động, bớt vẽ trang nghiêm, quy tắc như thời cổ vương quốc.
14
5.6. Bức chạm gỗ mạ vàng
Mặt sau chiếc ngai trong mộ diễn tả cảnh Pharaôn Túttankhamôn và vợ (Khoảng
đặc trưng của Ai Cập và các giống thú, chim, bướm, … màu sắc tươi sáng, nhẹ nhàng.
15
Những bức tranh này còn biểu hiện sự tuyệt vời về đường nét trong tác phẩm.
Chạm gỗ nắp quan tài, Sách của người chết, Bên phải, tranh dưới: Săn chim
5.8. Đền Kác nác (Karnak) thờ thần Mặt trời A.Mon
Là một trong những ngôi đền đẹp nhất của Ai Cập cổ đại, được xây dựng trong thời
kỳ Tân vương quốc. Theo cấu trúc chung của các đền miếu thờ ở Ai Cập.
Phía bên ngoài là cổng đền: thường là cột tháp với những bức tường hai bên. Đi
qua sân rộng hình chữ nhật là phòng cột đỡ trần nhà, có mái che. Sau cùng là hậu cung.
Phòng chính trong đến Kác nác có diện tích khoảng 5000m
2
với 16 hàng cột đỡ trần nhà,
gồm 134 cột đá lớn, …
Qua một vài kích thước cụ thể như vậy ta thấy vẻ đẹp hùng vĩ của kiến trúc đền thờ
Ai Cập.
Trên các cây cột có khắc đầy các hình vẽ, trên cổng đền, ở mọi chỗ trên kiến trúc là
những phù điêu chạm nổi kẻ vẽ các cuộc chinh chiến của nhà vua. Nói liền đền Kác nác
với đền Lu xô là hai dãy tượng Xphanh đấu cừu kéo dài trên 2000m.
6. Đặc điểm của mỹ thuật Ai Cập cổ đại
Mỹ thuật Ai Cập cổ đại suốt 3000 năm tồn tại không có những biến động lớn. Ngay
từ thời cổ vương quốc nghệ thuật dã có những thành tựu đáng khâm phục ở mọi lĩnh vực
kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ. Sở dĩ như vậy vì trong nghệ thuật người Ai Cập có những
quan niệm, những quy định, các nghệ sĩ khi sáng tác phải tuân thủ nghiêm ngặt. Vì vậy
tính chất dân tộc thể hiện đậm nét trong các loại hình nghệ thuật Ai Cập cổ đại. Điều đó
góp phần hình thành một số đặc điểm chúng cho nghệ thuật tạo hình.
16
Nghệ thuật Ai Cập luôn hướng tới sự vĩnh hằng, sự trường tồn. Điều này thể hiện
trong kiến trúc, điêu khắc và bích hoạ. Các tác phẩm nghệ thuật của Ai Cập được làm
bằng chất liệu bền vững và chúng tồn tại cho tới tận ngày hôm nay. Quan niệm, lòng tin
vào sự bất diệt của linh hồn đã chi phối mạnh mẽ tới nghệ thuật tạo hình và tạo ra những
17
phong cách qua các thời kỳ từ cổ đến trung và tân vương quốc. Có một điều chắc chắn
rằng, nghệ thuật Ai Cập thống nhất và phát triển theo một hướng đi riêng, có thay đổi
song vẫn giữ được đặc điểm, quan niệm tạo hình của mình.
Nghệ thuật Ai Cập là một nền nghệ thuật sáng tạo, để lại nhiều thành tựu, kỳ quan
cho thế giới và mang đậm sắc thái dần .
Ai cập xứng đáng là cái nôi đầu tiên của văn minh nhân loại như người ta vẫn đánh
giá từ nhiều thế kỷ trước.
Nữ hoàng Ne phititi
18
BÀI 3: MỸ THUẬT HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Khái quát về mỹ thuật Hy Lạp cổ đại
Sau Ai Cập cổ đại, vào khoảng thế kỷ XVIII TCN, ở phía bên kia Địa Trung Hải,
Hy Lạp ra đời, lãnh thổ của nó bao gồm Hy Lạp ngày nay và các đảo thuộc biển Ê Giê và
vùng Tây Tiểu á. Hy Lạp không thuận lợi về nông nghiệp song lại tốt trong việc giao
thông trên biển. Với tài nguyên dồi dào đã tạo điều kiện cho Hy Lạp phát triển thủ công
nghiệp và ngoại thương. Nó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển nền văn minh Hy Lạp
trong đó có nghệ thuật tạo hình.
Cho đến tận ngày nay, khi nhắc đến Hy Lạp người ta sẽ nghĩ ngay đến đền thờ Pác
Tê Nông (Parthénon), đến các pho tượng trên biển của Hy Lạp như tượng người ném đĩa,
tượng vệ nữ Mi lô, … nghệ thuật Hy Lạp đã phát triển và để lại nhiều thành tựu vĩ đại.
Thành tựu của nghệ thuật tạo hình Hy Lạp vừa biểu hiện sự sáng tạo tuyệt vời của
người Hy Lạp vừa chứng tỏ đỉnh cao về sự mẫu mực của Hy Lạp về trí tuệ trong tạo hình.
Con người thời nay không chỉ khâm phục trước những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của
Hy Lạp. Họ đã tìm thấy trong nền nghệ thuật cổ đại này một tư tưởng nhân văn cao
thượng, một nền nghệ thuật hiện thực, ca ngợi giá trị và vẻ đẹp của con người. Đây là cơ
sở để xây dựng một nền văn hoá mới, thấm đẫm những tư tưởng nhân văn.
Nhà nước Hy Lạp cổ đại là xã hội chiếm hữu nô lệ chứa đựng những tư tưởng dân
chủ tiến bộ, là Nhà nước thông bang, ở đó có hai vua với quyền lực như nhau, vừa là thủ
lĩnh quân sự, vừa là tăng lữ và người xử án. Chế độ xã hội ở đây là chế độ dân chủ chủ
được sử dụng nhiều. Phần đầu cột được trang trí bằng những hoạ tiết và cách điệu mềm
mại và trang nhã.
Đền thờ Pác-tê- non (Partenon) được khởi công trên đồi Acrôpôn (Acropolis) thờ
nữ thần Atêna (Athena): là đền thờ kết hợp hài hoà giữa sự khoẻ khoắn của thức Đô níc
và sự duyên dáng nhẹ nhàng của thức Iônic.
Đền Pác- tê- nông (Partenon)
Vẻ đẹp của Pác tê non thể hiện trong sự cân đối, hài hoà về tỷ lệ giữa các bộ phận
kiến trúc. Nó còn bộc lộ trong sự đơn giản, trang nhã của khối kiến trúc chủ yếu dựa trên
những đường thẳng với trang trí bằng các tác phẩm điêu khắc và phù điêu dạng trụ ngang.
Kiến trúc cân đối hài hoà của Pác tê non được trang điểm thêm đẹp đẽ, lộng lẫy bằng các
tác phẩm điêu khắc của Phi đi át và các học trò của ông. Tác giả của Pác tê non là Ichtinốt
và Can Li Crát.
20
Ngoài Pác tê non, Hy Lạp còn rất nhiều đền thờ nổi tiếng: Đền thờ thần Dớt ở Péc
Gam Ô Lym Pia và đền thờ thần biển cả Pô Dây Đon (Poseidon) ở phía Nam Aten, …
Cho tới thế kỷ VI TCN, các đền thờ của Hy Lạp đều được làm bằng gỗ hoặc gạch.
Đến thế kỷ V, người Hy Lạp chuyển sang các kiến trúc đá cẩm thạch lộng lẫy và sang
trọng, với bốn mặt đền là các hàng cột đá. Kiến trúc tôn giáo là thể loại biểu hiện tài năng
của người Hy Lạp. Bên cạnh đó họ còn quy hoạch đô thị, xây dựng các nhà hát, thành luỹ,
… vào thời kỳ các thế kỷ IV - II TCN. Từ thế kỷ IV trong kiến trúc Hy Lạp còn phát triển
loại kiến trúc lăng mộ, có những lăng lớn, đẹp đẽ được xếp vào một trong 7 kỳ quan của
thế giới cổ đại như lăng vua Mô xô lơ (Mausole) ở Halicácnat (Halicrnasse).
Kiến trúc Hy Lạp nói chung là vẻ đẹp trang nhã, mực thước, trong sáng với kết cấu
kiến trúc chính là phong cột trên mặt bằng hình chữ nhật.
3. Nghệ thuật Điêu khắc Hy Lạp cổ đại
3.1 . Thời cổ sơ (Thế kỷ VII - VI trước công nguyên)
Cũng giống như kiến trúc, điêu khắc Hy Lạp cũng được phát triển qua 3 thời kỳ. ở
thời kỳ cổ sơ hình tượng điêu khắc rất đơn giản, trước đó nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp đã
bắt đầu những bước đi dò dẫm từ thế kỷ X - VIII. Phần lớn là các tượng nhỏ bằng
đồng thanh, đồng nung, hoặc ngà voi thể hiện một cách sơ lược hình tượng các con
và vẻ đẹp hoàn mỹ cho tác phẩm.
Người ném đĩa - Mi ron
Sang thế kỷ IV, điêu khắc Hy Lạp lại tiến thêm một bước, nếu ở thời kỳ trước các
tác giả muốn đạt đến độ mẫu mực về tỷ lệ, hình khối, tạo dáng động thì thế kỷ này họ lại
muốn tăng thêm chất liệu thực cho tượng, bớt chất lý tưởng hoá với đại biểu là: Xcopa
(Scopas), Pra Xi Ten (Praxitéle), Li Xíp (Lisippe), Mô Xô Lơ, … tác phẩm của ông như
(Hernes), Héc Mét, tượng nữ thần săn bắn ác Tê Mít và đặc biệt là các tượng vệ nữ như
vệ nữ của cơ thể nữ. Đến đây các nghệ sĩ Hy Lạp đã phô diễn vẻ đẹp tuyệt mỹ mà tạo hoá
đã ban tặng cho “phái yếu” qua những pho tượng khoả thân. Có lẽ cũng vì lẽ đó mà khi
tìm thấy hai pho tượng vô danh: Vệ nữ Mi lô và tượng nữ thần chiến thắng ở Xa Mô Crát:
Hai phong cách và hai vẻ đẹp khác nhau: Một lý tưởng hoà và một tràn đầy, hiện thực.
3.3. Thời kỳ Hy Lạp hoá (thế kỷ III - II trước công nguyên)
Ở thời kỳ này, Aten không còn là trung tâm cường thịnh duy nhất như thời trước,
trên những miền đất mới ở Tiểu á và Bắc phi mọc lên những trung tâm mới. Điêu khắc
cũng như điêu khắc đều muốn tìm đến một phong cách mới. Hoặc tiếp tục phong cách của
giai đoạn trước nhưng đẩy cao hơn về mặt biểu hiện những tình cảm đau thương, bi thảm
như những tác phẩm “người lính Gô loa bị trọng thương” hay người chiến binh gô loa giết
vợ và tự sát”, … Trong pho tượng này gây ấn tượng mạnh cho thị giác và cảm xúc. Hoặc
22
phức tạp hơn trong phong cách diễn tả, hoặc cường điệu hoá. Thể loại thường gặp trong
điêu khắc thời Hy Lạp hoá là nhóm tượng và phù điêu lớn
Phù điêu trên riềm mũ cột đền thờ Pðcgam dài khoảng 120m, bao quanh đền thờ,
diễn tả cuộc giao chiến giữa các thần linh và những người khổng lồ. Mọi hình tượng đều
được diễn tả bằng kỹ thuật điêu luyện, hình khối mạnh mẽ, cường độ dữ dội trong động
tác.
Nhóm tượng Lao Cun: Mang đầy chất bi tráng, diễn tả một cảnh tượng khủng
khiếp về số phận con người. Nhóm tượng diễn tả 3 nhân vật, mỗi người mang một nét đẹp
riêng. Ngoài cái đẹp lý tưởng về hình thể, tác giả còn muốn nhấn mạnh vẻ đẹp về tính
cách, về sự bộc lộ nội tâm. Qua hình dáng, thái độ khác nhau của 3 nhân vật đã bộc lộ nỗi
khiếp sợ, đau đớn, kiệt sức của 3 cha con. Sức căng vặn của 3 cơ thể, kết hợp với đường