1
Đề tài : “Kế toán thiệt hại trong sản
xuất” 2
Mởđầu Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một xu thế tất yếu, làđộng lực
thúc đẩy sản xuất phát triển. Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế
thị trường có sựđịnh hướng của Nhà nước thì sự bao cấp không còn nữa, các
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần tạo cho sản phẩm của mình có
chỗđứng trên thị trường. Hơn nữa, trong cơ chế mới, Nhà nước vẫn giám sát chặt
chẽ mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa để hướng doanh nghiệp hoạt
động trong hành lang pháp lý, vừa hỗ trợ doanh nghiệp khi cần thiết. Vì lẽđó, giá
thành sản phẩm trở thành mối quan tâm của các cơ quan chức năng của Nhà nước
thực hiện công tác quản lý doanh nghiệp và của chính bản thân doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, ngoài các kế hoạch quảng cáo, thay đổi mẫu mã, cho
ra sản phẩm mới, , doanh nghiệp đặc biệt quan tâm tới việc giảm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm, từđó có kế hoạch tiêu thụ sao cho vừa trang trải được mọi chi
phí bỏ ra, vừa đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.Đối với Nhà nước, ngoài
những giám sát mang tính bao quát, chi phí sản xuất giá thành sản phẩm trở thành
1. Bản chất của giá thành sản phẩm
Nói đến bản chất của giá thành sản phẩm tức là nói đến nội dung kinh tế chứa đựng
bên trong chỉ tiêu giá thành. Giá thành được cấu tạo bởi những gì và với cấu tạo đó thì
giá thành chứa đựng những thông tin gì về hoạt động sản xuất kinh doanh. Điểm qua
lịch sử về lý luận giá thành có thể thấy bản chất của giá thành được xác định qua các
quan điểm sau:
1.1. Quan điểm cho rằng giá thành là hao phí lao động sống và lao động vật hóa được
dùng để sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hoặc một khối lượng sản phẩm nhất định.
Đây là quan điểm cơ bản của nhà kinh tế Xô Viết A. Vaxin. Ông cho rằng giá trị của sản
phẩm bao gồm ba bộ phận: Giá trị tư liệu sản xuất đã hao phíđể sản xuất ra sản phẩm;
Giá trị lao động sáng tạo ra cho mình; Giá trị lao động sáng tạo ra cho xã hội. Theo ông,
giá thành chủ yếu hai bộ phận đầu của giá trị sản phẩm:” Giá thành sản phẩm bao gồm
toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm và một phần giá trị mới tạo ra trả
cho người lao động dưới hình thức tiền lương” và ”là sự phản ánh bằng tiền toàn bộ chi
phí có liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp”.
Ngoài ra, đây còn là quan điểm của các tác giả CHDC Đức với ba mục đích của giá
thành: Giá thành bao giờ cũng là những phí tổn; là chỉ tiêu tổng luôn được đánh giá biểu
hiện dưới hình thức tiền tệ; là hao phí có mục đích.
Đây là quan điểm có tính cơ bản, phổ biến vàđược sử dụng thống nhất ở nước ta.
1.2. Quan điểm cho rằng giá thành sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh
nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bất kể nó nằm ở bộ phận nào trong các bộ
phận cấu thành giá trị sản phẩm.
Quan điểm này tiếp cận giá thành qua hai loại chi phí: chi phí cốđịnh và chi phí biến
đổi.
Tổng chi phí cốđịnh( tổng chi phí bất biến) là toàn bộ những khoản tiền mà doanh
nghiệp phải ứng chịu trong một khoảng thời gian cho các đầu vào cốđịnh. Tổng chi phí
cốđịnh không phụ thuộc vào sản lượng sản phẩm sản xuất ra trong khoảng thời gian đó.
Tổng chi phí biến đổi( tổng chi phí khả biến) là những chi phí mà khối lượng của nó sẽ
tăng( giảm) cùng với sự tăng( giảm) của sản lượng sản phẩm sản xuất ra. Khi đó:
thụ, phải phản ánh được gía trị của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ
và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bùđắp giản đơn hao phí lao động sống
của doanh nghiệp.
2. Phân loại giá thành
Đểđáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng như yêu cầu
xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành được xem xét dưới một số góc độ sau:
Theo thời điểm tính và nguồn hình thành số liệu để tính giá thành: Giá thành
được chia thành:
Giá thành kế hoạch:
Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành
thực tế kỳ trước và các định mức, dự toán chi phí kỳ kế hoạch.
ý nghĩa: Việc xây dựng hệ thống giá thành kế hoạch cóý nghĩa cực kỳ quan trọng trong
việc phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch làđể xác
định giá cả hàng hóa, là chỉ tiêu tương đối chuẩn đểđịnh hướng giá thành cho các kì
thực tế, đồng thời giá thành kế hoạch cũng bị tác động trở lại nếu nó không phù hợp
với thực tế. Để phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch hạ giá thành sản phẩm của
5
doanh nghiệp, thì giá thành kế hoạch là căn cứ chuẩn nhằm đánh giá giá thành kỳ báo
cáo, từđó tìm ra những nguyên nhân và hướng giải quyết chúng.
Giá thành định mức:
Giá thành định mức được xây dựng trước khi sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với
giá thành kế hoạch được xây dựng dựa trên các định mức bình quân tiên tiến và không
biến đổi trong suốt kì kế hoạch, giá thành định mức được xác định dựa trên các định
mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định( thường là ngày đầu tháng) nên
giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phíđạt
được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
ý nghĩa: Giá thành định mức là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản,
vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp trong sản xuất giúp cho đánh giáđúng đắn các giải
pháp kinh tế mà doanh nghiệp áp dụng trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu
điểm hoà vốn, đồng thời được sử dụng để phân tích mức lợi nhuận trong quan hệ với
sản lượng, doanh thu.
3. Đối tượng và phương pháp tính giá thành
3.1. Đối tượng tính giá thành
Xác định đối tượng tính giá thành chính là xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công
việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng có thể là sản
phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây truyền sản xuất tuỳ theo yêu
cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm. Đối tượng tính giá thành có sự
khác biệt với đối tượng hạch toán chi phí sản xuất. Do vậy, để xác định chính xác đối
tượng tính giá thành cần dựa vào đặc điểm qui trình công nghệ( giản đơn hay phức tạp),
vào loại hình sản xuất( đơn chiếc hay hàng loạt), vào yêu cầu quản lý,
3.1. Các phương pháp tính giá thành
Do sựđa dạng về loại hình sản xuất cũng như giai đoạn công nghệ sản xuất sản phẩm mà
có thể gồm các phương pháp tính giá thành sau:
Phương pháp trực tiếp( hay phương pháp giản đơn)
Phương pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp hệ số
Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp loại trừ
Phương pháp liên hợp
Ngoài ra, tuỳ từng loại hình doanh nghiệp cụ thể mà có các phương pháp khác nhau
(thực chất là sự phối hợp của các phương pháp trên).
b) Hạch toán và tính giá thành sản xuất sản phẩm, lao vụ trong các doanh
nghiệp công nghiệp
1. Đặc điểm các doanh nghiệp công nghiệp
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất hàng đầu của nền kinh tế. Sản phẩm do
ngành công nghiệp sản xuất ra phục vụ hầu hết trên các mặt sản xuất vàđời sống của xã
hội, không những thế còn có một bộ phận quan trọng được xuất khẩu nhằm phục vụ cho
sự phát triển của nền kinh tế, góp phần hội nhập quốc tế.
3. Tập hợp chi phí và hạch toán giá thành sản xuất sản phẩm, lao vụ trong các
doanh nghiệp công nghiệp
4. Các tài khoản sử dụng
Tài khoản 621” Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”: Tập hợp tất cả các khoản chi phí
về nguyên, nhiên, vật liệu được sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm,
lao vụ. Tài khoản 621 được mở chi tiết theo từng đối tượng hạch toán chi phí hoặc
đối tượng tính giá thành( nếu được).
Kết cấu:
Nợ 621 Có
Tập hợp chi phí thực tế - Trị giá nguyên vật liệu sử dụng không
phát sinh hết trả lại kho.
- Kết chuyển nguyên vật liệu trực tiếp
vào tài khoản tính giá thành.
Cuối kỳ không có số dư.
8
Tài khoản 622” chi phí nhân công trực tiếp”: Tập hợp tất cả các khoản chi phí liên
quan đến bộ phận lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, lao vụ. Tài khoản này mở chi
tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí hoặc đối tượng tính giá thành( nếu được).
Kết cấu:
Nợ 622 Có
Tập hợp chi phí nhân công Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
trực tiếp thực tế phát sinh vào tài khoản tính giá thành
Cuối kỳ không có số dư.
Tài khoản 627” Chi phí sản xuất chung”: Tập hợp chi phí quản lý, phục vụ sản xuất
ở phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh và phân bổ chi phí này vào các đối
tượng hạch toán chi phí hoặc tính giá thành. Tài khoản này được mở chi tiết theo
Các khoản làm giảm chi phí
sản xuất
Giá thành sản phẩm, lao vụ
ho
à
n th
à
nh9
Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kêđịnh kì thì các TK sử dụng gồm:
TK621, TK622, TK622 (với nội dung và kết cấu như trên ): TK631 “Giá thành sản
xuất”, TK154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
TK154 chỉđược dùng để phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu và cuối
kì căn cứ vào kiểm kê vàđánh giá sản phẩm làm dở, TK631 được sử dụng để tổng
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn thành. Kết cấu các TK
như sau:
Nợ 631 Có
-Chi phí sản xuất kinh
doanh đầu kìđược kết
chuyển từ TK154 sang.
-Tổng hợp chi phí sản
xuất kinh doanh phát sinh
trong thời kì.
-Chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang cuối kỳ chuyển
sang TK154.
-Giá thành lao vụ phẩm sản
xuất hoàn thành.
10
hành phân bổ theo tiêu thức phù hợp các tiêu thức có thể sử dụng: định mức tiêu hao
cho từng loại sản phẩm, hệ số phân bổ, . . .
Công thức phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Đối với chi phí nhân công trực tiếp
Nếu tiền lương công nhân trực tiếp xản xuất liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi
phí thì cần tiến hành phân bổ theo các tiêu thức như: mức tiền lương của các đối
tượng, hệ số phân bổ, số giờ hoặc ngày công tiêu chuẩn, . . .
Công thức phân bổ:
ợ
ng.
Tổng giá trị NVL thực
t
ế
xu
ấ
t d
ù
ng (NVL
Tổng số khối lượng của
các đối tượng được xác
định theo tiêu thức nhất
đ
ị
nh
Khối lượng
của từng
đố
i
t
ư
ợ
ng
đư
ợ
c
phân bổ
của từng
đối tượng
=
x
x
Mức phân bổ chi phí
sản xuất chung cho
từng đối tượng.
Chi phí sản xuất khung
th
ự
c t
ế
trong t
ừ
ng th
ờ
i k
ì
.
Tổng sốđơn vị của các
đối tượng được phân bổ
tính theo tiêu thức lựa
ch
ọ
631
154
334,338,
622
632
NVL thừa
nh
ậ
p kho
Tập hợp chi phí
NC tr
ự
c ti
ế
p
Chi phí SXKD
d
ở
dang
Đ
4. Kế toán tính giá thành sản xuất sản phẩm của hoạt động sản xuất chính
4.1. Đặc điểm sản xuất chính
152,111,
334,338,
334,338,214,153
621
Các khoản làm
giảm chi phí
Giá thành sản phẩm
nhập kho hoàn thành
Gửi bán
Bán thẳng
SD: xxx
SD: xxx12
Sản xuất chính là hoạt động sản xuất cơ bản, chủ yếu của doanh nghiệp nhằm tạo ra
các loại sản phẩm hàng hoá. kết quả kinh doanh của sản xuất chính quyết định sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp.
Tính đa dạng và phức tạp của sản xuất chính về loại sản phẩm, qui trình công nghệ,
tổ chức quá trình sản xuất, về yêu cầu kiểm tra vàđánh giá hiệu quả sản xuất chi phối
trực tiếp và thường xuyên đến việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
Chi phí sản xuất cấu tạo nên giá thành sản phẩm của sản xuất chính bao gồm 3 bộ
phận: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung. Các khoản mục chi phí này được tổ chức theo dõi riêng và cuối mỗi kỳ mới tiến
hành tổng hợp để tính giá thành sản phẩm hoàn thành.
Công thức tổng quát để tính giá thành:
phát sinh
trong kỳ
CPSX
dở dang
cuối kỳ
Các khoản
làm giảm
chi phí
=
+
-
-
CPSX tính cho
sản phẩm dở
dang cu
ố
i k
ỳ
CPSX dở
dang đầu kỳ
CPNVL trực tiếp
( chính) thực tế
s
ử
=
Số lượng sản
phẩm dở dang
cu
ố
i k
ỳ
Số lượng sản
ph
ẩ
m ho
à
n th
à
nh
Số lượng sản
ph
ẩ
m d
ở
dang
+
x
Toàn bộ giá trị
NVL trực tiếp
qua nhiều khâu sản xuất, mỗi khâu sản xuất một hoặc một vài chi tiết, sau mỗi khâu
có thể dễ dàng xác định được mức độ hoàn thành của sản phẩm tuỳ theo phương pháp
xác định cụ thể từng doanh nghiệp.
Đặc điểm: Chi phí sản xuất tính cho sản phẩm dở dang cuối kỳ gồm đầy đủ các
khoản mục chi phí trong cấu thành của chi phí sản xuất. Đối với chi phí NVL chính
được xác định nằm trong sản phẩm dở dang theo số lượng sản phẩm dở dang không
qui đổi theo mức độ hoàn thành. Còn các chi phí chế biến trong sản phẩm dở dang
tính theo số lượng sản phẩm dở dang đã qui đổi theo mức độ hoàn thành.
Công thức tính:
4.2.3. Phương pháp đánh giá theo 50% chi phí chế biến
Giá trị NVL
chính nằm trong
SP d
ở
thành phẩm
Số lượng SPdở
dang cuối kỳ qui
đổi ra thành phẩm
=
+
x
Tổng chi phí
chế biến
(t
ừ
ng lo
ạ
i)
Giá trị SP dở
dang cuối kỳ
Giá trị NVL
chính nằm trong
SP d
ở
dang
Chi phí chế
biến nằm trong
SP dở dang
không tính đến các chi phí khác. Phương pháp này tương tự phương pháp đánh giá theo
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp( chi phí nguyên vật liệu chính). Tuy nhiên, trong các
doanh nghiệp sản xuất, thường nguyên vật liệu làđầu vào chủ yếu, do đó trong giá trị sản
phẩm dở dang, chủ yếu là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp( nguyên vật liệu chính). Vì
thế, nếu đánh giá theo phương pháp này – loại bỏ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp(
chính) ra khỏi giá trị sản phẩm dở dang – là không hợp lý và thiếu chính xác.
Ngoài ra, trên thực tế, người ta còn áp dụng các phương pháp khác để xác định giá trị
sản phẩm dở dang như: phương pháp thống kê kinh nghiệm, phương pháp tính theo chi
phí nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ,
4.3. Các phương pháp tính giá thành
4.3.1. Phương pháp giản đơn( hay phương pháp trực tiếp)
Điều kiện: Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất giản đơn,
số lượng mặt hàng ít, khối lượng sản xuất lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở
dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệp sản xuất động lực( điện,
nước, hơi nước, khí nén, khíđốt, ); các doanh nghiệp khai thác( than, quặng, hải
sản, ).
Cách xác định: Theo công thức tổng quát :
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành trong kỳ
CPSX
dở dang
đầu kỳ
CPSX
phát sinh
trong kỳ
CPSX
dở dang
cuối kỳ
Các khoản
chế biến đường, rượu, bia, mỳăn liền,
Cách xác định:
Trước hết, xác định giá trị sản phẩm phụ theo các phương pháp như: giáước tính, giá
kế hoạch, giá nguyên liệu ban đầu,
Xác định giá thành sản phẩm theo công thức:
4.3.4. Phương pháp hệ số
Điều kiện: áp dụng trong trường hợp cùng một quá trình sản xuất, cùng sử dụng một
thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm
khác nhau, hơn nữa, chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà
phải tập hợp cho cả quá trình sản xuất. Doanh nghiệp áp dụng phương pháp nay phải
xác định hệ số qui đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc( coi hệ số qui đổi của sản
phẩm gốc bằng 1).
Cách xác định:
- Qui đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc theo công thức:
Tổng giá
thành sản
phẩm chính
Giá trị sản
phẩm chính
dở dang ĐK
Tổng CPSX
phát sinh
trong kỳ
n ph
ẩ
m i
i=1
n
x =
16
- Tính giá thành đơn vị sản phẩm gốc:
Trong đó:
- Tính giá thành từng loại sản phẩm :
4.3.5. Phương pháp tỷ lệ
Điều kiện áp dụng: Tương tự phương pháp hệ số, nhưng doanh nghiệp không xác lập
hệ số qui đổi mà sử dụng tỷ lệ giữa thực tế vàđịnh mức( hoặc kế hoạch).
Cách tính: Đối với những doanh nghiệp sử dụng phương pháp này, người ta xây dựng
phẩm dở
dang ĐK
Tổng CPSX
phát sinh
trong kỳ
Giá trị sản
phẩm dở
dang CK
=
+
-
Giá thành đơn vị của
t
ừ
ng lo
ạ
i s
ả
n ph
ẩ
m
Giá thành đơn vị
sản phẩm gốc
Hệ số qui đổi từng
loại sản phẩm
=
Doanh nghiệp sản xuất giản đơn thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất một hoặc
một sốít mặt hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không
có hoặc có không đáng kể. Do khối lượng lớn nhưng số lượng mặt hàng ít nên đối tượng
hạch toán chi phíđược tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hàng sản xuất được mở một
hoặc một số sổ( thẻ) hạch toán chi phí sản xuất. Công việc tính giá thành thường được
tiến hành vào cuối tháng theo phương pháp trực tiếp hoặc liên hợp.
Những doanh nghiệp sản xuất giản đơn phải kểđến là các doanh nghiệp khai thác than,
quặng, Loại doanh nghiệp này chỉ sản xuất một loại sản phẩm( than) hoặc một số sản
phẩm( quặng như pirit ) nhưng khối lượng lớn do dặc tính của sản phẩm, nhu cầu thị
trường cao trong khi số doanh nghiệp loại này ít; lượng dở dang không đáng kể do khai
thác từ tự nhiên .Do vậy, tính giá thành theo phương pháp trực tiếp hoặc liên hợp( kết
hợp giữa trực tiếp và loại trừ, ) là phù hợp.
Ngoài ra, một số doanh nghiệp sản xuất động lực( điện, nước, hơi nước, ) thường
không có sản phẩm dở dang, chu kỳ sản xuất ngắn( thời gian từ sản xuất đến hoàn thành
tiêu thụ ngắn, không qua nhiều công đoạn) nên tính giá thành theo phương pháp trực
tiếp hay liên hợp.
4.4.2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng
Đặc điểm: Đây là loại hình doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt
nhỏ theo đơn đặt hàng của người mua.
Phương pháp tính:
Tập hợp chi phí: Chi phíđược tập hợp cho từng đơn đặt hàng cụ thể, không kể số
lượng sản phẩm của đơn đặt hàng đó nhiều hay ít, qui trình công nghệđơn giản hay
phức tạp. Đối với các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp phát sinh
trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì hạch toán trực tiếp cho đơn đặt
hàng đó theo các chứng từ gốc. Riêng chi phí sản xuất chung, do không thể tách riêng
cho từng đơn nên tập hợp chung, sau đó phân bổ cho từng đơn theo tiêu thức phù hợp(
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, giờ công sản xuất, ).
Tính giá thành: Giá thành được tính cho từng sản phẩm của từng đơn đặt hàng.
Giá thành chỉđược tính khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường
không thống nhất với kỳ báo cáo. Đối với những đơn đến cuối kỳ báo cáo chưa hoàn
Phương pháp xác định: Chi phí sản xuất phát sinh thuộc bước nào được tập hợp riêng
cho bước đó. Riêng chi phí sản xuất chung tập hợp theo phân xưởng, sau đóđược
phân bổ cho các bước theo tiêu thức phù hợp. Phương pháp tính giá thành phù hợp là
phương pháp trực tiếp kết hợp với tổng cộng chi phí hay hệ số( hoặc tỷ lệ).
Các phương pháp cụ thể:
Phương pháp phân bước không tính giá thành bán thành phẩm
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp các giai đoạn công nghệ chỉ là các bước
chế biến nối tiếp nhau để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh và không thực hiện tính giá
thành bán thành phẩm.
- Ví dụ: Phương pháp này có thể thấy trong các doanh nghiệp đóng giầy. Sản phẩm
hoàn chỉnh được tạo ra phải qua nhiều giai đoạn công nghệ( từ sơ chế nguyên liệu,
sản xuất đế, thân, , đến dán( may) thành sản phẩm hoàn chỉnh). Bán thành phẩm
được tạo ra sau mỗi giai đoạn( đế giày, các chi tiết trên thân giày, ) thường chuyển
luôn qua giai đoạn sau để tiếp tục chế biến mà không bán ra thị trường.
- Cách tính: Tập hợp chi phí cho từng giai đoạn công nghệ chế biến, kết chuyển từng
khoản mục chi phí từ bộ phận sản xuất( giai đoạn công nghệ) về bộ phận tổng hợp
Giá thành
thực tế của
s
ả
n ph
ẩ
m
Giá thành
định mức của
sản phẩm
Chênh lệch
do thay đổi
đ
Giai đoạn 2:
Giai đoạn n:
Trong đó: n : Số giai đoạn công nghệđể sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh.
Thông thường, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chỉ cóở giai đoạn 1. Tuy nhiên, cũng
có thể có khoản chi phí này trong các giai đoạn 1,2, ,n.
Phương pháp phân bước có tính giá thành bán thành phẩm
Phương pháp này áp dụng đối với những giai đoạn công nghệ tạo ra bán thành phẩm
và bán thành phẩm của giai đoạn này được chuyển tiếp cho giai đoạn sau để tiếp tục
chế biến đồng thời bán thành phẩm có thể là sản phẩm hàng hoá( bán ra ngoài).
- Ví dụ: Một số công ty dệt may: gồm các giai đoạn công nghệ từ tạo nguyên liệu(
Kết chuyển CPNC trực tiếp
Kết chuyển CPSXC
Chi phí nằm trong giá thành
sản phẩm hoàn chỉnh
20
- Cách tính: Chi phíđược theo từng khoản mục cho từng giai đoạn công nghệ(
riêng chi phí sản xuất chung liên quan đến nhiều giai đoạn được tập hợp theo phân
xưởng và phân bổ cho từng giai đoạn theo tiêu thức phù hợp. Giá trị bán thành phẩm
giai đoạn trước chuyển qua giai đoạn sau được tính theo giá thành thực tế và phản
ánh theo từng khoản mục chi phí. Việc tính giá thành phải được tiến hành lần lượt từ
giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, , đến giai đoạn cuối cùng tính ra giá thành sản phẩm
hoàn chỉnh nên phương pháp này còn gọi là kết chuyển tuần tự.
- Sơđồ hạch toán:
Phương pháp phân bước đối với qui trình công nghệ phức tạp kiểu song song
Phương pháp này được áp dụng đối với những doanh nghiệp kết hợp nhiều qui trình
Kết chuyển CPNVLTT
Kết chuyển CPNCTT
Kết chuyển CPSXC
Giá thành chi tiết hoàn thành
chuyển sang bộ phận lắp ráp
Chi tiết hoàn thành nhập kho,
gửi bán, bán trực tiếp
Nhập kho, gửi bán,
b
á
n tr
ự
c ti
ế
p
621-GĐ1
622-GĐ1
627
154-GĐ1 621-GĐ2
622-GĐ2
627
154-GĐ2 154-GĐn
155,157,632
n tr
ự
c ti
ế
p
Giá thành sản
ph
ẩ
m ho
à
n ch
ỉ
nh
Kết chuyển
CPNVLTT21
Hạch toán ở bộ phận lắp ráp( gồm n chi tiết):
154(i)
621,622,627
154( lắp ráp)
155,157,632
Giá thành của các chi
ti
ế
t
đư
a v
à
o l
ắ
p r
á
p
Tập hợp chi phí sản xuất
của giai đoạn lắp ráp
Sản phẩm hoàn chỉnh nhập
kho, g
ử
i b
á
n, b
á
+
-
+
-
(*)22
5.2. Các phương pháp tính giá thành
Đối với sản xuất phụ không có sự cung cấp lẫn nhau
Do khâu cung cấp chỉđơn thuần phục vụ các bộ phận không phải là sản xuất phụ nên
việc tính giá thành kháđơn giản, phương pháp được sử dụng là phương pháp trực tiếp
thể hiện qua sơđồ sau:
Đối với sản xuất phụ có quan hệ cung cấp sản phẩm, lao vụ cho nhau
- Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu: Theo phương pháp này, giá
á
th
à
nh
Phân bổcho PXSXC
Phân bổ cho hoạt động
b
á
n h
à
ng, QLDN
Giá thành đơn
vị ban đầu
Tổng chi phí của bộ phận
Sản lượng sản xuất
=
Giá trị phục vụ bộ phận
sản xuất phụ khác
Sản lượng
phục vụ
Giá thành đơn
vị ban đầu
= x
Mức phân
bổ cho từng
c) Tham khảo một số phương pháp hạch toán và tính giá thành trên thế giới
1. Phương pháp hạch toán giá thành
1.1. Phương pháp hạch toán giá thành ở Liên Xô( cũ)
Phương pháp hạch toán giá thành ở Liên Xô( cũ) được thể hiện gần như trọn vẹn qua
chếđộ kế toán Việt Nam theo quyết định số 1141/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ
Tài Chính. Phương pháp này được xây dựng trong điều kiện thực hiện cơ chế quản lý
tập chung bao cấp và kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
1.2. Phương pháp hạch toán giá thành của Cộng Hoà Pháp
Theo kế toán Pháp, giá thành sản phẩm bao gồm tất cả các khoản chi phí thuộc về tất cả
các đầu vào nhằm mục đích tạo ra những đầu ra tương ứng. Giá thành bao gồm cả giá
thành của hàng hoá trong những đơn vị kinh doanh thương nghiệp và giá thành sản
phẩm trong đơn vị sản xuất.
Các nội dung cơ bản trong phương pháp hạch toán giá thành của kế toán Pháp bao
gồm các vấn đề về chi phí, giá phí và giá thành, các trung tâm phân tích. Điểm nổi bật
trong kế toán Pháp là nội dung giá phí, giá thành và các trung tâm phân tích.
Khái niệm giá phíđược sử dụng để xác đinh những hao phí vật chất mà doanh
nghiệp phải đầu tưđể thực hiện quá trình tái sản xuất. Giá phí gồm 3 loại:
- Giá phí tiếp liệu: Giá trị nguyên vật liệu mua vào ghi trên hoáđơn của nhà cung
cấp và các khoản chi phí mua phát sinh.
- Giá phí sản xuất: Gồm giá phí nguyên vật liệu sử dụng vào sản xuất và các chi
phí khác dùng cho sản xuất như nhân công, nhiên liệu, khấu hao,
- Giá phí phân phối: Gồm các khoản chi phí phục vụ tiêu thụ sản phẩm như chi
phí quang cáo, bao bì, chuyên chở,
154( SXP1)
627( SXP2)
621,622( SXP2)
ợ
ng
Giá trị SP, lao vụ do SXP2 cung cấp cho SXP1
24
Khi đó, giá thành sản phẩm được xác định bao gồm cả chi phí sản xuất và chi phí
phân phối.
Cơ sởđể hình thành các trung tâm phân tích là cách phân loại chi phí theo chức năng.
Tổng hợp các chi phí này gọi là giá phí trung tâm. Tương ứng mỗi trung tâm phân
tích là một chức năng chi phí. Mỗi trung tâm tách ra làm nhiều khu vực gọi là phân
đội đồng nhất. Các trung tâm phân tích được chia thành trung tâm chính và trung tâm
phụ:
- Trung tâm chính gồm các trung tâm hoạt động chuyên nghiệp như: trung tâm tiếp
liệu, trung tâm chế tạo, trung tâm thương mại
- Trung tâm phụ gồm các trung tâm hoạt động nhằm cung cấp lao vụ cho trung tâm
chính: trung tâm hành chính quản trị, trung tâm quản lý nhân viên, trung tâm quản lý
công cụ, trung tâm tài chính.
Phương pháp tính giá thành: trước hết, chi phí trực tiếp (là các chi phí liên quan trực
tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm, lao vụ cả về mặt số lượng lẫn chất lượng) được
đưa thẳng vào các loại giá phí hoặc đưa một phần vào giá thành. Sau đó, chi phí gián
tiếp ( là các chi phí không liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất ) được phân chia
cho các trung tâm chính và phụ theo hai đợt:
Đợt 1: phân chia các chi phí gián tiếp cho tất cả trung tâm chính và phụ.
Đợt 2: chi phí từ các trung tâm phụđược phân chia vào các trung tâm chính.
Cuối cùng, tiến hành phân chia chi phí của các trung tâm chính vào các loại giá phí.
Khi đó giá thành được xác định:
Giá thành sản phẩm = Giá phí sản xuất + Giá phí phân phối
1.3. Phương pháp hạch toán giá thành của Mỹ
2. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm
2.1. Phương pháp tính giá thành theo công việc ( Job order counting ).
Phương pháp tính giá thành theo công việc áp dụng phù hợp cho những doanh nghiệp
sản xuất đơn chiếc hoặc theo đơn đặt hàng hoặc sản xuất theo lô, theo đợt riêng biệt và
bản thân chúng có sự khác nhau về loại nguyên vật liệu sản xuất, kỹ thuật chế tạo sản
phẩm. Phương pháp tính giá thành theo công việc phù hợp cho các doanh nghiệp đóng
tàu, xây dựng, sản xuất máy móc thiết bị,
Để thực hiện việc tính giá thành theo công việc thì tổ chức chi phí sản xuất phát sinh
theo 3 khoản mục chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp( chi phí nguyên vật liệu sử
dụng trực tiếp cho quá trình chế tạo sản phẩm), chi phí nhân công trực tiếp( chi phí liên
quan đến bộ phận lao động trực tiếp thực hiện quá trình chế tạo sản phẩm), chi phí sản
xuất chung( chi phí phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất). Tuy nhiên, việc tổ chức
theo dõi chi phí sản xuất chung được thực hiện qua các trung tâm chi phí: đó là trung
tâm sản xuất và trung tâm phục vụ( trung tâm sản xuất theo dõi việc sản xuất sản phẩm
hoặc một bộ phận của sản phẩm, trong khi trung tâm phục vụđược tổ chức ra để phục vụ
cho trung tâm sản xuất và nhu cầu chung toàn doanh nghiệp).