PHẠM TRUNG LUƠNG, ĐẶNG DUY LỢI, VŨ TUẤN CẢNH,
NGUYÊN VĂN BÌNH, NGUYÊN NGỌC KHÁN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
DU LỊCH VIỆT NAM
7A6. l. 194/137 - 00 Mã số : 8H587MO GD - 00
LỜI NÓI ĐẦU
Trong mấy thập kỷ qua, đặc biệt từ năm 1950 trớ lại đây, du
lịch đã phát triển nhanh chóng và trớ thành ngành kinh tế hàng
đầu thế giới với tốc độ tăng trướng bình quân về khách
6,93%/năm, về doanh thu 11,8%/năm. Theo số 1iệu của Tố chức
du lịch Thế giới (WTO), năm 1998 tổng số khách du lịch quốc tế
trên phạm vi toàn cầu đạ
t 626 triệu người, doanh thu từ đu lịch
ước tính 445 tỷ USD, tương đương 6,5% tổng sản phẩm quốc
dân (GNP) toàn thế giới. Đây cũng là ngành kinh tề mang lại
nhiều công ăn việc làm nhất cho người lao động với khoảng 15
triệu người có việc làm trực tiếp trong ngành du lịch. Như vậy,
trên thế giới cứ trong 15 người lao động thì có 1 người làm
nghề du lịch.
Trong suốt gầ
n 40 năm hình thành và phát triền, du lịch
Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ, trỏ thành ngành
kinh tế có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân. Đảng và
Nhà nước đã khẳng định "Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp
quan trọng góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát
triển kinh tề - xã hội của đất nước" và coi phát triển du lịch là
một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển
kinh tế - xã hội nhàm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước", phấn dấu "từng bước đưa nước ta thành
trung tâm du lịch, thương mại - dịch vụ cô tầm cỡ trong khu
vực".
Là một đất nước ở vùng nhiệt đối với nhiều cảnh quan và họ
sinh thái điển hình, với một dân tộc có hàng ngàn năm lịch sử
dựng nước và giữ nước, với nền văn hóa da dạng giàu bàn sắc
thiện han.
Nhân dịp này chúng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân
thành tới Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch, Nhà xuất bản
Giáo dục, tới các cơ quan, các nhà khoa học và nhà nhiếp ảnh
cùng các bạn đồng nghiệp đã khuyên khích và tạo điều kiện
thuận lợi để sớm cho ra mắt cuốn sách này.
CÁC TÁC GIẢ
Chương I
TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1. Khái niệm chung
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn
nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên Trái Đất và trong
không gian vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng phục
vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn
liền với các nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với
các nhân tố về con người và xã hội.
Dựa vào khả năng tái tạo, tài nguyên được phân thành tài
nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được. Tài
nguyên tái tạo được là những tài nguyên dựa vào nguồn năng
lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ tới trái
đất, dựa vào các quy luật tự nhiên đã hình thành để tiếp tục tồn
tại, phát triển và chi mất đi khi không còn nguồn năng lượng và
thông tin. Tài nguyên tái tạo được cũng có thể được định nó lửa
một cách đơn giản hơn, là những tài nguyên cô thể tự duy trì
hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được khai thác và quản lý
tốt (Jorgensen. S. E, 1971).
Năng lượng bức xạ mặt trời, năng lượng nước, gió, tài
nguyên sinh học . là những tài nguyên tái tạo.
Tài nguyên không tái tạo tốn tại một cách hữu hạn, sẽ bị mất
t định cho phép
xây dựng thành vườn quốc gia và đến năm 1966, Cúc Phương đã
chính thức trở thành vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam.
Cũng từ thời điểm khi tính đa dạng sinh học của vườn quốc gia
được khai thác phục vụ mục đích du lịch thì khu rừng nguyên
sinh này trở thành một điểm tài nguyên du lịch đặc sắc, một
điểm du lịch có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch trong
nước và quốc tế. Năm 1993, động Thiên Cung, một động đá vôi
nguyên sơ, kỳ ảo ở vịnh Hạ Long được phát hiện, khai thác sử
dụng và đã trở thành một điểm du lịch mới hấp dẫn, làm tăng
thêm giá trị của tái nguyên du lịch của khu du lịch nổi tiếng này.
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác và
tài nguyên du lịch chưa khai thác.
Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào :
- Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng
tài nguyên vốn còn tiềm ẩn.
- Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn
nhu cầu của khách du lịch. Các nhu cẩu này ngày một lớn và đa
dạng, phụ thuộc vào mức sống và trình độ dân trí. Ví dụ, vào
những năm 60, du lịch biển ở nước ta chủ yếu là tắm và nghi
dưỡng biển thì ngày nay các sản phẩm du lịch biển đã đa dạng
hơn, bao gốm cả bơi lặn, lướt ván, tham quan các hệ sinh thái
biển. vv .
- Trình độ phát triển khoa học công nghệ đã tạo ra các
phương tiện để khai thác các tiềm năng tài nguyên. Ví dụ như
trước đây du lịch thám hiểm đáy biển chỉ là ước mơ thì ngày nay
với các tàu ngấm chuyên dụng khách du lịch có thể tham quan
khám phá những điề
u kỳ diệu của đại dương một cách dễ dàng.
Trong tương lai, với sự phát triển nhanh chóng về khoa học và
khách du lịch.
Khác với nhiều loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất
phong phú và đa dạng. Đặc điểm này là cơ sở để tạo nên sự
phong phú của các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đa
dạng của khách du lịch. Thí dụ đối với loại hình tham quan
nghiên cứu phục vụ cho mục đích nâng cao nhận thức của khách
du lịch thì tài nguyên du lịch có thể là các lễ hội, những sinh
hoạt truyền thống của một vùng quê, các di tích lịch sử - văn
hóa, các bản làng dân tộc ít người ở miền núi, các viện bảo tàng,
các thành phố, các thác nước, hang động hay các cánh rừng
nguyên sinh có tính đa dạng sinh học cao . Đối với loại hình
du lịch nghỉ mát, chữa bệnh nhằm mục đích phục hồi sức khỏe
thì tài nguyên du lịch cẩn khai thác lại là các bãi biển, các vùng
núi cao khí hậu trong lành, có phong cảnh đẹp, các suối khoáng
. Đặc biệt, nhiều. tài nguyên du lịch đặc sắc và độc đáo có sức
hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Ví dụ : Kim tự tháp ở Ai
Cập, Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, Thủ đô pari của Pháp,
vùng núi Anpơ ờ châu âu, các vườn quốc gia ở châu Phi, vùng
biển Caribê ở Trung Mỹ . là những địa danh du lịch lý tưởng,
hàng năm thu hút hàng chục triệu khách du lịch.
Ở Việt Nam, vịnh Hạ Long và cố đô Huế là những tài nguyên
du lịch đặc sắc, càng trở nên hấp dẫn hơn đối với khách du lịch
khi được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên và di sản văn
hóa thế giới.
Nếu chỉ đơn thuần tính toán dưới góc độ kinh tế thì hiệu quả
thu được từ việc khai thác các tài nguyên du lịch là rất tự lớn, có
khi vượt trội hơn rất nhiều lần so với việc khai thác các tài
nguyên khác.
2. 2. Tài nguyên du lịch là những tài nguyên không chỉ có giá
trị hữu hình mà còn có những giá trị vô hình.
lịch là các tài nguyên vốn đã sẵn có trong tự nhiên do tạo hóa
sinh ra hoặc do con người tạo dựng nên và thường dễ khai thác.
Trên thực tế một cánh rừng nguyên sinh, một thác nước, một bãi
biển, một hố nước (tự nhiên hoặc nhân tạo) đều có thể trở thành
một điểm du lịch. Đây là những tài nguyên vô giá, cả về nghĩa
đen và nghĩa bóng. Con người khó lòng có thể tạo nên các tài
nguyên du lịch bởi vô cùng tốn kém và dù có mô phỏng lại được
thì cũng không thể lột tả hết được sức sáng tạo phi thường của
tạo hóa và vì thế sẽ giảm đi rất nhiều về giá trị và độ hấp dẫn.
Với tất cả những gì đã sản có của tài nguyên du lịch, chỉ cần
đầu tư không lớn nhằm tôn tạo, để vừa. tôn thêm vẻ đẹp và giá
trị của tài nguyên, vừa tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm
khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên này.
2. 4. Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau.
Trong số các tài nguyên du lịch, có những tài nguyên có khả
năng khai thác quanh năm, lại có những tài nguyên mà việc khai
thác ít nhiều lệ thuộc vào thời vụ. Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa
theo quy luật diễn biến của khí hậu.
Đối với các tài nguyên du lịch biển, thời gian khai thác thích
hợp nhất là vào thời kỳ có khí hậu nóng bức trong năm. Điếu
này giải thích vì sao du lịch biển thường chi tổ chức vào mùa hè
ở khu vực phía Bắc. Còn từ Đà Năng trở vào, nơi ít chịu ảnh
hưởng của không khí lạnh, hoạt động du lịch biển có thể tổ chức
quanh năm. Các lễ hội, bên cạnh các tập quán là các nghi lê tôn
giáo, cũng đã được ấn định vào các thời kỳ khác nhau trong năm
và vì thế các hoạt động du lịch lệ thuộc vào thời gian diễn ra các
lễ hội đó. Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, mùa xuân là mùa của lễ
hội với các lễ hội nổi tiếng như Hội Lim, Hội Gióng, Hội Chùa
Hương, Hội Đền Hùng .
Thời kỳ mùa khô, ít mưa, có tiết trời ấm áp và có thời tiết tốt
2. 6. Tài nguyên du lịch có thể sử dụng dược nhiều lần.
Các tài nguyên du lịch được xếp vào loại tài nguyên có khả
năng tái tạo và sử dụng lâu dài. Vấn đề chính là phải nắm được
quy luật c
ủa tự nhiên, lường trước được sự thử thách khắc nghiệt
của thời gian và những biến động, đổi thay do con người gây
nên. Từ đó có định hướng lâu dài và các biện pháp cụ thể để
khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch; không ngừng bảo
vệ, tôn tạo và hoàn thiện tài nguyên nhằm đáp ứng các nhu cầu
phát triển du lịch.
Đây cũng là điều sống còn của mỗi điểm du lịch, m
ỗi khu du
lịch nhằm thực hiện phương hướng chiến lược phát triển du lịch
bền vững. Chỉ có phát triển du lịch bền vững mới đảm bảo
nguồn tài nguyên du lịch ít bị tổn hại, mỗi điểm du lịch, mỗi khu
du lịch ngày càng trở nên hấp dẫn hơn, không những. thỏa mãn
các nhu cầu phát triển du lịch hiện tại, mà còn sẵn sàng để đáp
ứng yêu cầu phát triển của du lịch trong tương lai.
3. Ý nghĩa và vai trò của tài nguyên du lịch
3. 1. Ý nghĩa
Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với
sự phát triển du lịch. Thật khó hình dung nếu không có tài
nguyên du lịch hoặc tài nguyên đu lịch quá nghèo nàn mà hoạt
động du lịch lại có thể phát triển mạnh mẽ được.
3. 2. Vai trò
Vai trò của tài nguyên du lịch đối với các hoạt động du lịch
được thể hiện cụ thể trên các mặt sau đây :
- Tài nguyên du lịch là yếu tố ca bản đề hình thành có sản
phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố, song trước
của các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó. Các
yếu tố đó là khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đội ngũ cán bộ công nhân viên
và tổ chức điều hành, quản lý du lịch.
Hệ thống lãnh thổ du lịch có nhiều cấp phân vị khác nhau, từ
điểm du lịch tới trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng và
vùng du lịch. Dù ở cấp phân vị nào thì tài nguyên du lịch cũng
đều đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ du lịch,
cũng là yếu tố c
ơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du
lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du ích, tạo điều kiện để có thể khai
thác một cách có hiệu quả nhất các tiềm năng của nó.
Do đặc điểm phân bố của tài nguyên du lịch, trong tổ chức
lãnh thổ du lịch đã hình thành nên các điểm du lịch, các cụm du
lịch, các trung tâm du lịch và các tuyến du lịch. Từ các tuyến
điểm du l
ịch này, trong quá trình khai thác sẽ lựa chọn, sắp xếp
thành các toái du lịch tức là các sản phẩm du lịch cụ thể cung
cấp cho khách du l!cư. Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ góp
phần tạo nên hiệu quả cao trong việc khai thác các tài nguyên du
lịch nói riêng cũng như trong mọi hoạt động du lịch nói chung.
4. Các loại tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch vốn rất phong phú và đa dạng, song vẫn -
có thể phân chia thành hai loại : tài nguyên du lịch tự nhiên và
tài nguyên du lịch nhân văn.
4. 1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
- Thiên nhiên là môi trường sống của con người và mọi sinh
vật trên trái đất. Thiên nhiên bao quanh gồm các yếu tố và các
thành phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên và các quá - trình
biến đối của chúng, tạo nên các điều kiện tự nhiên thường xuyên
của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mê, không khí trong lành. Ở
miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch. Đó là các
sông suối, thác nước, hang động, rừng cây với thế giới sinh vật
tự nhiên vô cùng phong phú. Miền núi còn là địa bàn cư trú của
đồng bào các dân tộc ít người với đời sống và n
ền văn hóa rất đa
dạng đặc sắc: Ở nước ta, các địa hình được khai thác như mỏ tài
nguyên du lịch tự nhiên quan trọng thường là các dạng và các
kiểu địa hình đặc biệt sau :
- Các vùng núi có phong cảnh đẹp
Các vùng núi có phong cảnh đẹp đã được phát triển và khai
thác phục vụ mục đích du lịch là cao nguyên Lâm Viên. (Lang
Bị ang) với thành phố Đà Lạt (Lâm Đông), Sa Pa, Bấc Hà (Lào
Cai), Tam Đảo (V nít Phúc), Ba Vì (Hà Tây), các vùng hố tự
nhiên và nhân tạo như hồ Ba Bể (Bắc Kim), hồ Hòa Bình (Hòa
Bình), hồ Thác Bà (Yên Bái), hố. Đồng Mô (Hà Tây) . Đặc
biệt, Đà Lạt và Sa Pa ở độ cao trên 1500m được mệnh danh là
"thành phố trong sương mù", mang nhiều sắc thái của thiên
nhiên vùng ôn đới đã được xây dựng thành điểm du lịch tham
quan nghỉ mát từ cách đây trên dưới 100 năm. Cao nguyên Bắc
Hà, núi Bà Vì, núi Mẫu Sơn, núi Bạch Mã cũng là những điểm
du lịch núi nổi tiếng, có thời kỳ đã từng được khai thác phục vụ
du lịch, hiện tại đang được từng bước phục hồi và hứa hẹn
những triển vọng tốt đẹp.
- Các hang động
Các hang động ở nước ta chủ yếu là các hang động nằm trong
các vùng núi đá vôi có kiểu địa hình karst rất phát triển. Vùng
núi đá vôi ở nước ta có diện tích khá lớn, tới 50. 000 - 60. 000
km
2
ục đích du lịch còn rất ít. Tiêu biểu nhất là : động
Phong Nha (Quảng Bình), động Hương Tích (Hà Tây), Tam Cốc
- Bích Động (Ninh Bình), hang Pác Bó (Cao Bằng), động Nhị
Thanh, Tam Thanh (Lạng Sơn), động Sơn Mộc Hương (Sơn
La), các hang động ở vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). vv .
Và trong đó, đặc sắc nhất phải kể đến động Phong Nha.
Động Phong Nha còn gọi là động Trước hay chùa Hang nằm
trong lòng khối núi đá vôi Kẻ Bàng. Động có cửa vào rộng 25m
nối li
ền với sông Son nên có thể đi tiếp bằng thuyền vào sâu
trong động tới 3,5km. Cửa động có độ cao lom. Càng vào sâu hệ
thống hang động càng trở nên dài rộng với trên 20 vòm hang lớn
và những hành lang dài từ vài chục mét đến hàng nghìn mét,
trần cao từ 10 - 50m. Cảnh sắc trong động vô cùng đẹp mắt, kỳ
ảo. Động Phong Nha đã được các nhà khoa học có uy tín của
Hội Hang động Hoàng gia Anh đánh giá là hang nước đẹp nhất
thế giới. Động Phong Nha hiện đ
ang được Nhà nước ta giới
thiệu để UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
- Các bãi biền
Nước ta có đường bờ biển dài 3260km với khoảng 125 bãi
biển có bãi cát bằng phẳng, độ dốc trung bình 1 - 30, đủ nhiều
điều kiện thuận lợi để khai thác phục vụ du lịch. Điều lý thú là
cả hai điểm đầu và cuối của đường bờ biển nước ta đều là hai
bãi biển đẹp : bãi biển Trà Cổ ở Quảng Ninh có chiều dài gần
17km với bãi cát rộng, bằng phẳng tới mức lý tưởng và bãi biển
Hà Tiên với thắng cảnh hòn Phụ Tử nổi tiếng.
Các bãi biển ở nước ta phân bố trải đều từ Bắc vào Nam.
Nổi tiếng nhất là các bãi biển Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò,
Thuận An, Lăng Cô, Non Nước, Sa Huỳnh, Văn Phong, Nha
cho các mục đích du lịch khác nhau.
- Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khóe con người Tài
nguyên khí hậu được xác định trước hết là tổng hợp của các yếu
tố nhiệt độ, độ ẩm và một số yếu tố khác như áp suất không khí,
gió, ánh nắng mặt trời thích hợp nhất với sức khỏe con người,
tạo cho con người các điều kiện sống thoải mái, dễ chịu nhất.
Trong thực tế, những người sống trong những thời điểm mà
điều kiện khí hậu không phù hợp thường đi du lịch đến những
nơi có điều kiện khí hậu thích hợp hơn. Người ở xứ lạnh phương
Bắc thường đi nghi đông ở những vùng ấm áp phương Nam.
Người ở xứ nóng trong những ngày hè oi bức thường thích đi
nghỉ thát ở các vùng biển hoặc ở các vùng núi cao có khí hậu
mát mẻ.
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu cho thấy điêu kiện khí
hậu dễ chịu nhất đối với con người ờ Việt Nam là nhiệt độ trung
bình hàng tháng từ 15 - 23
o
c và độ ẩm tuyệt đối từ 1 4 - 2 1mb.
Các điều kiện đó ứng với khu vực Đà Lạt, nơi quanh năm có
nhiệt độ không khí trung bình hàng tháng dao động trong
khoảng 16,4
o
c đến 19,7
o
c và độ ẩm tuyệt đối từ 13,8mb đến
19,5mb. Ở Sa Pa, có tới 7 tháng điều kiện khí hậu dễ chịu, từ
tháng 4 đến tháng 10, ứng với nhiệt độ trung bình hàng tháng từ
15,6
o
c đến 19 độ ẩm tuyệt đôi từ 15,7mb đến 20,3mb. Điều đó
các tài nguyên khí hậu du lịch gây nên, rất cần thiết phải đa dạng
hóa các loại hình du lịch và tạo thêm nhiều sản phẩm du lịch
mới, thích hợp.
c) thủy văn
Đối với hoạt động du lịch, thủy văn cũng
được xem như một
dạng tài nguyên quan trọng. Nhiều loại hình du lịch gắn bó với
đối tượng nước. Các đối tượng nước chính sau đây đã được (hai
thác như tài nguyên du lịch.
- Bề mặt nước và các bãi nông ven bờ
Bề mặt nước là mặt thoáng tạo nên phong cảnh đẹp, yên bình.
Bên cạnh hồ rộng thì các dòng sông lớn, cảnh núi non, rừng cây,
mây trời, ánh trăng và các công trình kiến trúc soi bóng nước là
những phong cảnh hữu tình. Các bãi biển hoặc các bãi ven hố
thường được sử dụng để tắm mát, dạo chơi và các hoạt động thể
thao nước như bơi lội, đua thuyền, lướt ván. Ở nước ta, dòng
sông Hương thơ mộng, các sông ngòi, kênh rạch chằng chịt ở
đống bằng sông Cửu Long; các hố nước thiên nhiên và nhân tạo
rộng lớn và nhiều phong cảnh đẹp như hồ Ba Bể, hồ Tây, hồ
Hòa Bình, các bãi biển đẹp như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Non
Nước, Nha Trang, Vùng Tàu . đều là những điểm du lịch có
sức hấp dẫn rất cao đối với khách du lịch.
- Các điểm nước khoáng, suối nước nóng
Các điểm nước khoáng, suối nước nóng là tài nguyên thiên
nhiên rất quý giá để triển khai các loại hình du lịch tham quan,
nghỉ dưỡng, chữa bệnh. Tài nguyên này ở nước ta cũng rất
phong phú và nhiều nơi có nguồn nước đạt chất lượng cao được
sử dụng trực tiếp làm nước uống, nước giải khát và đáp ứng
được nhiều nhu cầu an dưỡng, chữa bệnh cho khách du lịch, đặc
biệt với một số bệnh về hệ vận động, thần kinh, tiêu hóa, da liễu
phục vụ cho mục đích du lịch.
Tài nguyên sinh vật có giá trị tạo nên phong cảnh làm cho
thiên nhiên đẹp và sống động hơn. Đối với một số loại hình du
lịch như du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học thì
tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trước hết là
tính đa dạng sinh học, là sự bảo tớn được nhiều nguồn tiền quý
giá đặc trưng cho vùng nhiệt đới, trong đó có nhiều loài đặc hữu
của Việt Nam, là việc tạo nên những phong cảnh mang dáng dấp
của vùng á nhiệt đới và ôn đới lạ mắt đối với những người sống
ờ vùng nhiệt đới.
Tài nguyên sinh vật ỡ nước ta phục vụ mục đích du lịch được
tập trung khai thác ở :
- Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên và các khu
rừng di tích lịch sử, văn hóa, môi trường
Để bảo vệ sự đa dạng và phong phú của các hệ sinh thái,
Chính phủ Việt Nam đã chú trọng xây dựng hệ thống các khu
rừng đặc dụng. Tính đến năm 1997, trên phạm vi cả nước đã có
105 khu rừng đặc dụng, trong đó có 10 vườn quốc gia, 61% khu
bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa - lịch sử - môi
trường với tổng diện tích là 2092466ha bằng 10,5% diện tích đất
lâm nghiệp và gần 6% diện tích lãnh thổ Việt Nam.
Hệ thống vườn quốc gia bao gồm : vườn quốc gia. Cúc
Phương (Ninh Bình) có diện tích 22. 200ha được - thành lập từ
năm 1962, các vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Kèm) có diện tích 23.
340ha, Ba Vì (Hà Tây) có diện tích 7. 377ha và Tam Đảo (Vĩnh
Phúc) có diện tích 36. 883ha được thành lập từ năm 1977, hờn
quốc gia Nam Cát Tiên (Đồng Nai) có diện tích 35. 302ha được
thànhlập năm 1978m, vườn quốc gia Côn Đảo (Bà Ria - Vũng
Tàu) có diện tích 15. 043ha được thành lập năm 1984, các vườn
quốc gia Cát Bà (Hải Phòng) có diện tích 15. 200ha, Bến En
Phòng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Ria - Vũng Tàu . các hệ
sinh thái vùng đất ướt và cửa sông mà điển hình là khu vực
Trăm Chim (Đồng Tháp), Xuân Thủy (Nam Định) đã được quy
hoạch để trở thành các khu bảo vệ Ramsar đấu tiên ở nước ta và
cũng là đầu tiên ở vùng Đông Nam á.
- Các điểm tham quan sinh vật
Ở nước ta có rất nhiêu điểm tham quan sinh vật thu hút đông
đảo khách đu lịch như các vườn thú, vườn bách thảo, các công
viên vui chơi giải trí (thủy cung) ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh; các viện bảo tàng sinh vật ở Hải Phòng, Nha Trang; các
sân chim, vườn chim và Vườn hoa trái ở đồng bằng sông Cửu
Long; các cơ sở thuần dưỡng voi ở Buôn Đôn (Đác Lắc), nuôi
khỉ ở đảo Rêu (Quảng Ninh), nuôi trăn, rắn, cá sấu ở đồng bằng
sông Cửu Long .
4. 1. 2. Các cảnh quan du lịch tự nhiên
Trên đây là các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên chủ yếu dựa
trên các thành phần của tự nhiên để lâm cơ sở cho việc xác đinh
các loại hình du lịch và có định hướng khai thác chúng theo
những chủ đề và chương trình nhất định. Nhưng trong thực tế,
các dạng tài nguyên luôn gắn bó, quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ
sung và hỗ trợ cho nhau và cùng được khái thác một lúc để tạo
nên các sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, có tính tổng hợp cao. Vì
thế, các tài nguyên du lịch tự nhiên cần được xem xét dưới góc
độ tổng hợp của các dạng tài nguyên với nhau tại mỗi một đơn
vị lãnh thổ có không gian và thời gian xác định. Các thể tổng
hợp tự nhiên được phân chia ra các cấp phân vị với quy mô, kích
thước và được khai thác cho nhiều mục đích khác nhau. Chỉ có
một số cảnh quan tự nhiên hoặc các thành phần, bộ phận của
chúng chứa đựng các tài nguyên du lịch mới tạo nên các cảnh
quan du lịch tự nhiên. Tùy theo đặc điểm và quy mô mà có thể