BỘ GIÁO
DỤC
VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
KINH TẾ
THÀNH
PHỐ
CHÍ
MINH
ĐỀ
TÀI NGHIÊN
CỨU
KHOA HỌC
CẤP
BỘ
Cơ sở
LÝ LUẬN
CHO NHỮNG
CHÍNH SÁCH
VÀ
GIẢI
PHÁP
ĐỔI
MỚI KINH TẾ Quốc
DOANH
VÀ
KINH
Hiệu
-
Thành
viên
Tp
Hồ
Chí
Minh,
2002
THƯ
V!EN
' SUÒ\G SA'
MÓC
NGOAI
ĨHU-ÓNG
BỘ GIÁO
DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC KINH
TẾ THÀNH
PHỐ
CHÍ
MINH
ĐỀ
TÀI NGHIÊN
CỨU
KHOA HỌC
CÁP
Duy
Huân
- Phó
chủ nhiệm
TS.
Lê
Quốc
HiỒu
-
Thành viên
Phan
Tiến
Quốc
-
Thành
viên
Lê
Nguyên
HiỒu
-
Thành
viên
Tp
HỒ
Chí
Minh,
2002
MỤC LỤC
LỜI
NÓI
bản
về
kinh tế
nhà nước
và
doanh
nghiệp
nhà nước
04
1.1.2 Những
nhận
thệc
cơ
bản
về
kinh tế
hợp
tác và hợp tác
Xã
li
1.2
VAI
TRÒ CỦA
KINH
TẾ NHÀ NƯỚC VÀ
KINH
TẾ HỢP TÁC
TRONG
NỀN
KINH
trò
kinh tế
hợp
tác
trong
nền
kinh tế
thị
trường định
hướng
Xã
hội
Chủ
nghĩa
ở
nước
ta
19
Ì .3
NHỮNG
Cơ SỞ
KHOA
HỌC
TIẾP
TỤC Đổi MỚI
KINH
TẾ
NHÀ
NƯỚC VÀ
KINH
công
cuộc
Đổi
mới
ở
Việt
Nam
hiện
nay
30
Ì
.3.3
Xu
hướng toàn
cầu
hóa
33
1.3.4.
Xu
hướng
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế
34
Ì
.3.5.
Kinh
nghiêm
VIỆT
NAM
36
Ì.4.Ì.
Những
kinh
nghiệm
phát
triển
kinh tế
nhà nước
36
1.4.2.
Kinh
nghiệm
phát
triển
kinh tế
hợp tác
và hợp
tác
xã
ở
một
số
nước
và
khả
năng
vận
đoạn phát
triển
2.
Ì
.2.
Kinh
tế
nhà nước
trong
nền
kinh tế
nhiều
thành
phần
ở
Việt
Nam
hiện
nay
2.1.3.
Thực
trạng
về
hoạt
động
của
doanh
nghiệp
nhà nước
ở
động
của khu
vực
kinh
tế
nhà
nước
2.1.6.Những
vấn
đề
cần
giải
quyết
ương quá
trình
đổi
mới
kinh
tế
nhà nước ở
nước
ta hiện
nay
2.2. HIạN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KINH TẾ Hộp TÁC - HỢP
TÁC
XÃ
NÔNG
NGHIạP
ở
VIạT
hợp tác
xã
nông
nghiệp
kiểu
mới
ở
Việt
nam
cần
tham
khảo
2.2.4.
Những
vấn
để
đặt
ra
cho
kinh tế
hợp tác
và hợp
tác
xã
trong
nông
nghiệp
hiện
nay
và
NHÀ
NƯỚC
3.1.1.
Quan
điểm.
phương hướng
tiếp
tục đổi
mới và phát
triển
doanh
nghiệp
nhà nước
3.1.2.
Mục
tiêu
định
hướng cơ
bản
nâng
cao
năng
lực
kinh tế
nhà
nước
3.1.3.
Các
giải
pháp
Xu
hướng
phát
triển
kinh tế
hợp tác
xã nông
nghiệp
hiện
nay
122
3.2.2.
Phương
hướng
và
quan
điểm
của
Đảng
Cịng
sản
Việt
Nam về
phát
triển
kinh tế
hợp tác
và hợp
tác
xã nông
cao đời
sống
văn hóa xã
hịi,
xây
dựng
nông thôn
mới.
130
3.2.5.
Đề
xuất
-
kiến
nghị
131
KẾT
LUẬN
DANH
MỤC
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO
136
138
Bổi mới
kinh
tế Nhà nước và
kinh
tế hợp
kiện
các kỳ
Đại hội
của Đảng luôn xác định mục
tiêu của cách
mạng
nước
ta
là xây
dựng
thành công Chủ
nghĩa
Xã
hội ,
đây là
nhiệm
vụ xuyên
suốt, trọng
tâm
trong suốt
thấi
kỳ quá độ ở nước
ta.
Đê hoàn
thành mục tiêu
chiến
lược
trên,
phải
làm
dựng
quan
hệ sản
xuất
tiến
bộ,
thích
hợp, chi phối
các
quan
hệ sản
xuất
khác
theo
định hướng Xã
hội
Chủ
nghĩa;
do
vậy,
cần
phải
phấn
đâu để
kinh
tế
nhà nước
giữ vai
trò chủ đạo, cùng
với kinh tế
nên
kinh tế
nhà nước
phải
là đầu tàu
trong
quá trình phát
triển
của đất
nước,
đi đầu
trong
khoa
học và công
nghệ,
tạo
điều
kiện,
môi trưấng
thuận
lợi
cho
mọi thành
phần
kinh tế
cùng phát
triển,
kinh tế
nhà nước cùng
kinh tế
thật
sự
hiệu quả,
mặc dù sự
quan
tâm, ưu đãi của
Đảng
và Nhà nước
đối với kinh tế
nhà nước
rất nhiều,
nhưng
kết
quả
lại
chưa
thật
sự như mong muốn. Trình
trạng
bao cấp vẫn còn
nặng
nề
trong
khu vực
kinh
tế
nhà nước, nên
tuy tiềm lực rất lớn
nhưng sự đóng góp của
kinh tế
kém
hiệủ
quả,
chưa
có một hình
thức
tổ
chức
hợp
lý,
vẫn còn lúng túng
trong
định hướng
hoạt
động,
năng
lực
cạnh
tranh
yếu đang là thách
thức
to lớn
cho chúng
ta khi hội
nhập
đã
gần
kề. Chúng ta vẫn
biết
không
như là một thách
thức
cho phát
triển
kinh tế
theo
định hướng Xã hội
Chủ
nghĩa.
Do vậy Đảng và Nhà nước
phải
có
quyết
tâm
lớn
nhất
để
tiến
hành
tiếp
tục đổi
mới nữa
kinh tế
nhà nước mà đặc
biệt
là hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà
tế
này
đạt
được
những
thành
tựu
rất
đáng khích
lệ,
đang
tiếp
tục
phát
triển
và
thu
hút đông đảo bộ
phận
nhân dân
lao
động
tham
gia,
nhưng
những
thành
tựu
đó
chưa tương
nước và ổn định
kinh
tế -
xã
hội
ở nông
thôn.
Tuy nhiên do hầu
hết
là hợp tác xã
kiểu
cũ
chuyển
đổi
lên,
nên
khi
đi vào
hoạt
động vẫn còn
nhiều
lúng túng, dù
luật
hợp tác xã đã ban
hành
từ
năm
1996.
Do đó để có
những
phải tổ
chức
sẩp xếp
lại
doanh
nghiệp
nhà nước và hợp tác
xã nông
nghiệp theo
một mô hình
hoạt
động hợp lý, nâng cao khả năng
cạnh
tranh
với
các công
ty
nước ngoài và đề
cao
vai
trò
định
hướng
của
Nhà
nước.
Đặc
biệt
với
sức ép
kinh tế
- xã
hội
trong
hơn 15 năm
đổi
mới
kinh
tế
do
Đảng
lãnh đạo đã, đang và sẽ khơi
gợi nhiều
vấn đề phát
sinh trong
thực
tiễn;
con
đường
phát
triển;
tư
tưởng,
chiến
lược
trong
quá trình đẩy
mạnh
công
cuộc
chủ,
văn
minh.
Chiến
lược và con
đường
phát
triển
kinh
tế
nhà nước và
kinh
tế
hợp tác
tuy
đã là yêu
cầu
và là sự
nghiệp
của
quần
chúng nhân dân
lao
động
trong
sự
nghiệp
phát
triển
kinh
Nếu
giải
quyết
tốt tất
cả
những
vấn đề
đặt ra
thì chúng
ta
đã
đặt
những
bước chân
vững
chẩc
tiến
lên Chủ
nghĩa
Xã
hội
như Lênin đã
từng
nói.
Với
tính cấp
thiết
như
vậy,
chúng tôi đăng ký
nghiên cứu
hai
mảng
chính là nghiên cứu thực trạng chung của doanh nghiệp
Bổi mới
kinh
tế Nhà nước và
kinh
tế hợp
tác
ở
Việt
Nam
nhà nước
(hiệu
quả, chính sách chủ trương về cổ phần hoa doanh nghiệp
nhà nước, chính sách
giao,
bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp
nhà nước và sắp xếp tổ chức
lại
hoạt động của các tổng công
ty
90 và các
tổng công
ty
91) và hợp
tác
xã
trong lĩnh
nhằm phát
triển
vị
thế của kinh tế
nhà nước và
kinh tế
hợp tác
trong
nền
kinh tế
nước
ta
trong
giai
đoụn
tới.
3.
Phương pháp nghiên
cứu:
Trong
quá trình phân tích chuyên đề sử
dụng
các phương pháp nghiên cứu
như
:
Phương pháp
biện
chứng,
phương pháp duy
vật lịch sử.
tổng
hợp,
phương pháp
trừu
tượng
hoa,
phương pháp hệ
thống
cấu
trúc,
phương pháp
đối chiếu
- so sánh,
phương pháp
thống
kê và một
số
phương pháp khác.
4.
Bố
cục
nghiên cứu
của
đề tài:
Bố
cục
nghiên
cứu
được
chia
trụng kinh
tế Nhà nước và
kinh
tế hợp tác ở
Việt
Nam.
Chương HI: Những
giải
pháp cơ bản để
tiếp
tục đổi mới và phát
triển
kinh
tế
Nhà nước và
kinh tế hợp
tác ở
Việt
Nam
hiện nay.
Mặc dù có
nhiều
nỗ lực để đưa ra lý
giải
các vấn đề, nhằm đóng góp cho
nghiên cứu
kinh tế Việt
Nam, nhưng khó tránh
khỏi sai
sót và
VÀ KINH
TẾ
TẬP
THE
TRONG
NỀN KINH
TẾ THỊ
TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG
XÃ
HỘI
CHỦ
NGHĨA
ở
VIỆT
NAM
1.1
.
NHỮNG NHẬN
THỨC
cơ BẢN VỀ
KINH TẾ NHÀ NƯỚC
VÀ
KINH
TẾ
HỢP
TÁC
:
1.1.1. Những nhận thức cơ bản về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà
nước
quan
hệ sản
xuất
nhất
đợnh.
Để
công
cuộc
đổi
mới được
thành công;
điều
đầu
tiên là
phải
giải
phóng
các
tiềm lực, tiềm
năng của
nền
kinh
tế,
thúc đẩy
lực
lượng
sàn
xuất
phát
triển;
thúc đẩy
lực
lượng
sản
xuất
phát
triển,
khai
thác mọi
nguồn
lực
trong
nền
kinh
tế
và
sử
dụng
một cách
có
hiệu
quả.
Quan
hệ sở
hữu vừa là
kết
quả vừa là
điều
kiện
cho sự phát
hình
thức
biểu hiện
đa
dạng,
nhưng
chung
quy
lại
có
3
hình
thức
sở
hữu
cơ
bản
như
sau :
Sở
hữu
toàn
dân,
sở hữu
tập thể
và
sở hữu
tự
nhân.
Trong
Chủ
nghĩa.
Nếu làm
rõ
(về
mặt
lý
luận
và
thực
tiễn)
hình
thức
sỡ hữu này
thì
sẽ
khai
thũng
các
nguồn
lực
và
thúc
-4-
Đổi mới
kinh
tế Nhà nước và
kinh
tế hợp
tác
người
đại
diện
cho nhân dân sở hữu những
tài
nguyên,
tài
sản và
tư
liệu
sản xuất chủ yêu và
những của
cải
của
đất
nước.
Khái
niệm
sở hữu toàn dân như
vậy
rất
trừu
tượng,
không rõ ràng và
cũng
không
biết
cơ
chế vận
hành nào
Nam
năm 1995 quy
định:
"Đất
đai,
rừng
núi,
sông
hồ,
nguồn
nước,
tài
nguyên
trong
lòng
đất,
nguồn
lợi
vùng
biển
thềm
lục độa,
phần vốn và
tài
sản do nhà nước đầu
tư
vào các
xí
nghiệp,
các công
điều
206
lại
quy
định:
"Nhà nước Cộng hòa xã
hội
chủ
nghĩa Việt
Nam
thực hiện
quyền chủ sở hữu đôi
với
các
tài
sản
thuộc
sở hữu
toàn
dân.
Chính phủ thống
nhất
quản
lý
và đảm bảo
sử
dụng
đúng mục
đích, hiệu
quả,
,
những
nhân
tố
cơ bản cạa xã
hội
mới chưa hình thành rõ nét,
nên hình
thức
thích hợp
nhất
là
sở hữu nhà
nước.
Nhà
nước
sẽ là chạ
thể kinh
tế
duy
nhất
được
thừa
nhận
sỡ hữu tài sản cạa xã
hội
và
đại
diện
quyền
hội
theo
mục
đích đã
định,
phục
vụ cho
lợi
ích toàn
dân.
Thực
chất
sở hữu nhà
nước
cũng là
sở
hữu
toàn
dân,
nhưng ở một
biểu hiện
khác cho phù hợp
với
trình độ cạa
lực
lượng
sản xuất
còn
tháp.
Nhắc
dụng
trong
thời
kỳ đầu
thường
thống
nhất
với
nhau.
Từ
khi
tư bản cho vay
xuất hiện
và công
ty
cổ
phần
ra
đời,
nhất
là
khi lao
động
quản
lý
trở
thành một
nghề
đã làm cho các
quyền
doanh,
quyền
phân phân
phối
cũng
không mất đi
những
vai
trò
to lớn
cạa
chúng
trong
quá trình
cạng
cố
vị
thế
cạa
quyền
chiếm
hữu.
Việc
tách
rời
quyền
sở
hữu
với
các
hết
sức quan
trọng, trong
quá trình
đổi
mới ở nước
ta
hiện
nay.
Nó liên
quan
đến nh|nđịnh
lại
khụ
vực
kinhtấiihà
nước
trong
quá trình
đổi
mới,
nhất
là
trong việc
xác định
lại
chức
năng,
nhiệm
vụ,
trong
cácdoanh
nghiệp
nhà
nước
và mối
quan
hệ
giộa
nhà nước
với
tư cách là
người
chủ sở hộu
với
giám
đốc điều
hành và
tập thể
người
lao
động.
Đây là một bước
tiến
tích cực
trong
việc
mở đường
cho
quá
sở hộu nhà
nước
có phạm
vi
rộng,
bao gồm
nhiều
bộ
phận
hợp thành
.
Đó là tài
sản
trong
hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà
nước,
các
taxi
sản khác
thuộc
sở hộu nhà nước như hệ
thống kết
cấu hạ
tầng,
các
loại
hiểm;
hệ
thống
thông
tin
kinh
tế
của nhà
nước; phần
vốn của nhà
nước
góp vào các
doanh
nghiệp
cổ
phần
hay
doanh
nghiệp
liên
doanh
với
các
doanh
nghiệp thuộc
các thành
phần
kinh
tế
khác;
định
mới về
kinh tế
nhà nước
Trong
quá trình
chuyển
đổi
nền
kinh
tế
sang
cơ
chế
thị
trường ở
Việt
Nam,
cũng
như ở các nước có nền
kinh
tế
chuyển
đổi
khác,
sự
tồn
tại
cơ cấu
kinh
nhiều
loại
hình sở hộu và tương ứng
với
nó là
nhộng quan
hệ
sản
xuất nhất
định.
Thành
phần
kinh
tế
tồn
tại
ở nhỡn? bình
-(.nức tổ
chức
kinh
tế
nhất
định,
căn cứ vào
loại
hình
quan
hệ sản
xuất
mà trước
tế
ấy
thuộc
thành
phần
kinh tế
nào.
Trong
nhộng
hình
thức
tổ chức
kinh tế,
có sự hỗn hợp đan xen
nhiều
hình
thức
sở
hộu,
làm cho
tổ
chức
kinh
tế
đó
thuộc
thành
phần
kinh
tế
ở
Việt
Nam
kinh
tế
nước
ta
là nền
kinh
tế nhiều
thành
phần
trong
đó có 5 thành
phần
kinh
tế
chính đó
là:
Kinh tế
quốc doanh,
kinh
tế tập
thế, kinh
tế
cá
thể
tiểu
chủ,
kinh
thành
phần
và
cũng
có 5 thành
phần
kinh
tế
chính;
đặc
biỉt
là
Đại hội
Đảng
lần
thứ
VUI (tháng 6 -
1996)
đã có sự
nhận
thức
mới đó là
thay
kinh
tế
quốc doanh bằng
kinh
tế
nhà nước và
khẳng
tế
nhà nước
giữ
vai
trò chủ đạo và cùng
với
kinh
tế
hợp tác dần
trở
thành nền
tảng
của xã
hội.
Tiếp
đến
Đại hội Đại
biểu
toàn
quốc
lần thứ
IX
(tháng
4-2001)
vẫn
tiếp
tục
khẳng
định nền
kinh
bản
nhà
nước,
kinh
tế
tư bản
tư
nhân,
kinh
tế
cá
thể
và
kinh
tế
có vốn đầu tư nước
ngoài,
trong
đó
kinh
tế
nhà nước
giữ vai
trò chủ
đạo;
kinh
tế
nhà
nước cùng
với
quá trình
nhận
định về
kinh
tế
nhà
nước.
Vì
vậy,
làm rõ
kinh
tế
nhà nước và
thành
phần
kinh
tế
nhà nước
theo
quan
điểm
đổi
mới của
Đảng
và Nhà nước là
hét sức cần
thiết.
Để phân
biỉt
các khái
mới
tồn
tại
đan xen
nhau
tương ứng
với
những
phương
thức
sản
xuất nhất
định.
Mỗi phương
thức
sản
xuất chỉ
là một bộ
phận
hợp thành
kết
cấu
kinh tế
-xã
hội
vừa
mang
tính
chất
độc
xuất
phù hợp
với
tính
chất
và trình độ của
lực
lượng sản
xuất
đó.
Như
vậy,
tiêu chí cơ bản để phân
biỉt
thành
phần
kinh
tế
là
quan
hỉ sản
xuất
trong
kết
cấu chung của
xã
hội.
Kinh
tế
Nhà nước
tế
nhà nước là bộ
phận
của nền
kinh
tế quốc
dân
thuộc
sở hữu nhà
nước.
Với
nội
dung
cụ
thể
như trên thì không
thể
xem
kinh
tế
nhà nước là một
thành
phần
kinh
tế.
kinh
tế
nhà nước không tương
xứng
với
của
sự phát
triển
kinh
tế
- xã
hội. kinh
tế
nhà nước không
chỉ
tồn
tại
trong
thời
kỳ quá độ lên Chủ
nghĩa
Xã
hội
mà còn
tồn
tại
cả
trong
Chủ
nghĩa
Xã
hội
và
trong
các
quan
hệ sản
xuất
tiêu
biểu
cho
thời
kỳ quá
độ,
trong
đó có
nhiều
nấc
thang
phát
triển
và
trong
điều
kiện
của
nền
kinh
tế
chuyển
đổi
như
hiện
nay thì đó là hệ
thống
nguồn
lực
được nhả nước
giao
cho để
tổ
chức,
quản
lý hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà
nước.
Cũng
giống
như
các thành
phụn
kinh
tế
khác chúng
chỉ phản
ánh
quan
hệ sản
xuất
và
lực
lượng
thức
đặc
trưng
của
kinh tế
nhà
nước.
Thành
phụn
kinh
tế
nhà nước và
kinh
tế tập thể
là
hai
trong
6 thành
phụn
kinh
tế
ở
Việt
Nam
hiện
nay
đại
diện
cho
quan
một cách
hiệu
quả
nguồn
lực
đó,
tạo
nên
sức
mạnh
cho
lực
lượng
kinh
tế
của
Nhà
nước,
nhằm
chi phối
các
hoạt
động của nền
kinh
tế
xã
hội theo
hướng đã
định.
Khác
dưới nhiều
hình
thức hoạt
động khác
nhau
với
các hình
thức
tổ chức
tương
ứng,
như
hoạt
động
trong
các
lĩnh
vực sản
xuất
kinh
doanh,
các
hoạt
động đảm bảo quá trình tái sản
xuất
xã
hội,
mà ở đó nhà
nước
biểu hiện
vụ khác
nhau.
Tóm
lại
:
Khi
nói đến
kinh
tế
nhà nước là nói đến
nguồn
lực
do Nhà nước
làm chủ sở hữu và nắm
giif
Còn nói
tới
thành
phụn
kinh
tế
nhà nước là nói
tới
trình độ của hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà nước
trong
mối tương
vực
hoạt
động
thì
kinh
tế
nhà nước bao gồm các
hoạt
động
kinh
tế
sau
:
>
Hoạt
động
quản
lý
khai
thác bảo
tồn
và phát
triển
các
nguồn
tài nguyên
thiên nhiên nhằm mục đích phát
triển
kinh tế
xã
> Các
hoạt
động
kinh
tế
công
nghiệp;
nông
nghiệp;
thương
mại; dịch
vụ
trong
các
lĩnh
vực tài
chính,
tín dụng,
ngân
hàng;
các
loại
quứ
quốc
gia
Tất
cả các
lĩnh
vực
hoạt
xã
hội.
Nếu xét về hình thức tổ chức : khu vực kinh tế nhà nước bao gồm nhiều bộ
phận
hoạt
động
trong
các
lĩnh
vực
then
chốt,
thiết
yếu
của nền
kinh
tế
quốc
dân.
Mỗi
bộ
phận
có
chức
năng
nhiệm
vụ khác
nhau
nhưng
điều
tế
nhà
nước
và các thành
phần
kinh
tế
khác
theo
mục tiêu
kinh
tế
- xã
hội
đã
định
.
> Ngân hàng nhà
nước:
Có tác
dụng điều
chỉnh,
quản
lý, kiểm
soát các
hoạt
động
kinh
doanh
tiền
thời
kiểm
soát quá ừình
chi
tiêu ngân sách cho
những
mục
tiêu khác
nhau .
> Các quứ dự
trữ
quốc
gia:
Là một bộ
phận
của khu vực
kinh
tế
Nhà nước
nhằm đảm bảo cho khu vực này
họat
động bình thường
trong
mọi tình
huống,
là
lực
lượng
vật chất
để nhà nước
đặc
biệt
trong
giáo
dục,
y
tế,
dịch
vụ hành chính công
cộng.
> Hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà nước
:
Theo
luật
doanh
nghiệp
nhà nước của
Việt
Nam năm 1995 "
doanh
nghiệp
nhà nước là
tổ chức
kinh
tế
do nhà
do nhà
nước
giao
cho".doanh
nghiệp
nhà nước có tư cách pháp
nhân,
có
quyền
và
nghĩa
vụ dân
sự, tức chịu
trách
nhiệm
về toàn bộ
họat
động
kinh
doanh
trong
phạm
vi
do
doanh
nghiệp
quản
lý.
Theo
cách phân định
muốn
được
xem
là doanh
nghiệp
nhà nước
cần
phải
có ba
điều
kiện
sau:
> Doanh
nghiệp
là chủ
thể
có
nhiệm
vụ sản
xuất
ra
hàng hóa,
dịch
vụ để
bán;
> Doanh
nghiệp
có
hạch
toán
quyền quản
lý của Nhà
nước).
Và nếu xét
theo
múc tiêu
hoạt
động thì các
doanh
nghiệp
nhà nước được
chia
làm ba nhóm
với
những
tiêu
chí
tương ứng để đánh giá
kết
quả
hoạt
động :
> Nhóm
1:
nhóm các
doanh
nghiệp hoạt
động công
ích,
hoạt
nhuận
nên không
thể
lấy lợi
nhuận
làm thước đo
hiệu
quả
kinh
tế.
Tiêu chí đánh giá
hoạt
động của
những doanh
nghiệp
loại
này là
hiệu
quả
kinh
tế
xã
hội.
Sự
hoạt
động của
doanh
nghiệp
loại
này chủ yếu dựa vào sự bao cấp tài chính của nhà nước ,
kinh
doanh
vừa
hoạt
động công
ích.
Loại
doanh
nghiệp
này nửa bao cấp
nửa
kinh
doanh.
Để đánh giá
hoạt
động
doanh
nghiệp
loại
này căn cứ vào
kết
quả
của các chính sách xã
hội đối với
người
lao
động và xã
hội
như phúc
lợi
các
chủ
thể
ở các thành
phần
kinh
tế
khác và
chịu
mọi
yếu
tố
tác động của các quy
luật
kinh
tế
thị
trường như
cạnh
tranh
quy
luật
cung
cầu,
quy
luật
giá
trị
Đối
với
sinh
lời
theo
vốn
ừong
sản
xuất
và
kinh
doanh
là
tiêu chí để
đánh giá
hiệu
quả
hoạt
động
của
các
doanh
nghiệp thuộc
nhóm này.
Ngoài các
loại
hình,
tổ chức
hoạt
động
của khu vực
kinh
khác.
Các
doanh
nghiệp
này không
gịi
là
doanh
nghiệp
nhà
nước,
hình
thức
đầu
tư này nhằm tăng thêm
tiềm
lực
và
vai
trò
định
hướng
chi phối
của khu vực
kinh tế
nhà
nước.
Như
vậy,
kinh
có
nhiệm
vụ, chức
năng cụ thê khác
nhau,
nhưng có
quan
hệ
chặt
chẽ
với
nhau
và
hoạt
động
theo
thể
chế
thống
nhát do
Nhà
nước
quy
định.
Do
đó,
khi
đánh giá
hiệu
quả
kinh
doanh
hợp
lý,
để
tái sản
xuất
được
quan
hệ sở hữu Nhà
nước
trong
quá trình
tái sản
xuất
xã
hội.
Mặt
khác,
thông qua sự
lớn
mạnh
của nó mà
giữ
vững
định
hướng
Xã
hội
Chủ
Hợp tác
:
Là cùng
chung
sức,
chung vốn để
tiến
hành một công
việc,
một
lĩnh
vực nào đó
từ
việc
nhỏ đến
việc
lớn
,
từ
ít
đến
nhiều ,
từ
thấp
đến
cao,
từ
hẹp
đến rộng nhằm mục
đích chung.
lũ
của ông
cha
ta
trước
kia
Hợp tác hóa
:
là
quá
trình
làm cho
sờn
xuất
từ
cá
thể trở
thành
tập
thể
bằng
cách vận động
tổ
chức
cho những
người
cá
thể
tham
gia
liên
kết
đa
dạng,
đa mức độ của các chủ
thể
khi
tiến
hành một công
việc,
một
lĩnh
vực
hoạt
động sờn
xuất
hay
dịch
vụ nào đó
theo
kế
hoạch
nhằm mục
đích chung
là
mang
lại lợi
ích vật
chất
cho
ra
những
khái
niệm,
quan
điểm
khác
nhau.
-
li
-
Đổi mới
kinh
tế Nhà nước và
kinh
tế hợp
tác
ờ
Việt
Nam
Theo
liên
minh
hợp tác xã
quốc
tế (ICA)
thì
hợp tác xã là
tổ
chức
hợp tác xã là sự liên
kết
của
những
người
sặn
xuất
nhỏ
hoặc
những
người
tiêu dùng cùng
tự nguyện
liên
kết
nhau
đê nhằm
đạt
được
một số mục tiêu
bằng
biện
pháp
trao
đổi
qua
lại
những
dịch
vụ thông qua một
ích
chung
tự
nguyện
cùng góp vốn
,
góp
sức lập
ra
theo
quy
định
của
pháp
luật
để
phát
huy
sức
mạnh của
tập thể và
của
từng
xã
viên
nhụm
giúp
nhau
thực hiện
có
chức kỉnh
tế hợp
tác
và hợp
tác
xã.
Kinh tế
hợp tác là một phương
thức
sặn
xuất thể
hiện
mối
quan
hệ
kinh
tế
của
các
chủ
thể
kinh
tế.
Tham
gia
quan
hệ hợp tác là
những
chủ
thể
yêu cầu khách
quan
làm nặy
sinh
sự liên
kết
các chủ
thể
kinh
tế
mới đòi
hỏi
sự
kiến
lập
các hợp tác
xã.
Vậy
kinh
tế
hợp
tác
rộng
hơn hợp tác
xã,
kinh
tế
hợp
tác bao gồm cặ hợp tác xã ở
từng
hình
kinh
tế
mà
chỉ
là một
phương
thức
sặn
xuất
còn hợp tác xã là một
loại
hình
kinh
tế bởi
có
tổ
chức
hoạt
động
chặt chẽ,
có tư cách pháp nhân độc
lập
và
hoạt
động
sặn
xuất
kinh
doanh
chủ
thể
mới
từ
những
chủ
thể
độc
lập
nhưng không làm mất đi
chủ thể
độc
lập
mà
chỉ
hình thành chủ
thể
mới
tối
ưu
hơn.
Do đó
với
nền
kinh
tế
thị
trường
nhiều
thành
ra,
những
đặc trưng riêng
biệt
của nông
nghiệp
có ặnh
hưởng
lớn
đến
hình
thức,
quy mô, cơ
cấu tổ chức
và trình độ phát
triển
của
kinh
tế
hợp tác
và hợp tác xã
trong
nông
thôn.
Những đặc trưng
mang
tính
lịch
sử đó cho đến
Bổi mới
lao
động
sản
xuất
nông
nghiệp
là cây
ứồng,
gia
súc
(những
sinh
vật
sống)
chúng
tồn
từi,
phát
sinh,
phát
triển
và
sinh
sản
theo
một quá trình
lâu dài
dưới
sự tác
động
những
khâu không cần sự hợp
tác,
có
những
khâu
hợp
tác ít và có
những
khâu cần
phải
hợp tác
chặt chẽ.
Việc
hợp tác ở
những
khâu không cần
thiết
sẽ không mang
lừi
hiệu
quả cao như mong
muốn.
>
Trong
nông
nghiệp
quá trình
tái sản
xuất kinh tế kết
nghiệp
không
phải
liên
tục
nhau
mà
cũng
mang tính
thời
vụ
:
ngày
nông nhàn thì phát huy tính cần cù của
lao
động tư nhân còn vào mùa vụ
thì
tinh
thần
hợp tác
chiếm
vị
thế
cao
và
vai
trò
kinh tế
- xã
hội
kinh tế
nông
nghiệp
-
nông thôn phụ
thuộc
lớn
vào
thời
tiết,
khí hậu (không
giống
nhau
ở mọi
nơi
trong
cùng
thời
điểm
và
trong
cả
năm).
Vì
thế
mô hình
kinh tế
hợp tác
trong
nông
lĩnh
vực khác có cao
hơn.
Trên đây là
những
đặc thù của
kinh tế
hợp tác và hợp tác xã
trong
nông
nghiệp
- nông
thôn,
những
đặc thù này
xuất
phát
từ những
đặc trưng của nông
nghiệp
so
với
các ngành
nghề
khác.
Đối với
nước
ta,
do còn phổ
biến
hợp tác và
hợp
tác xã
trong
nông
nghiệp
-
nông thôn còn có
nhiều
hình
thức,
quy mô, trình
độ cơ sở
vật chất
kỹ
thuật,
trình độ
quản
lý công
nghệ
và
quản
lý
kinh
doanh
còn
chênh
lệch
khá
cao, giữa
kinh tế
khác.
Cụ
thể
:
-
13-
Đổi mới
kinh
tế Nhà nước và
kinh
tế hợp
tác
ở
Việt
Nam
>
Thứ
nhất,
do
không hạn
chế
số
lượng
thành viên
và
tính hỗ
trợ,
tương
trợ
không là toàn
thể
cộng
đồng
.
> Thứ
hai,
lợi
nhuận
không
phải
là
mục
tiêu
cuối
cùng
mà
chỉ
là phương
tiện
để các
tổ chức
hợp tác hay hợp tác
xã
tồn
tại
và
phát
triển.
Bản
hoạt
động sản
xuất kinh
doanh
của
tổ chức
hợp tác
trở
thành
mục
tiêu hàng
đầu.
Muốn
thế, phải
tìm
kiếm
lợi
nhuận
và
lợi
nhuận
có được
này,
dành
để
hỗ
trợ
lại
các thành
viên nhằm
chung.
Mục
tiêu
đảm bảo
gia
tăng
khả
năng
cạnh
tranh
trên
thị
trường,
trang
trải
các
khoản
chi
phí
để
tồn
tại,
đảm
bảo quá trình tích
lũy
lâu dài
để
hỗ
trợ tốt
hơn cho
thành viên, được
coi trọng
hơn
lợi
ích
của mỗi thành
viên.
Tở
Đại
hội
Đảng
Toàn
quốc
lần thứ IX,
thành
phần
kinh tế
hợp tác trước
đây được
gọi
là
thành
phần
kinh tế tập thể.
1.2.
VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ
NƯỚC
VÀ KINH TÊ HỢP TÁC
TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỢI CHỦ
Nam,
thành
phần
kinh tế
Nhà nước
tỏ ra
ưu
việt
hơn các thành
phần
kinh tế
khác,
buộc
nó
phải
đi đầu
trong
xây
dựng
lực
lượn"
sản xuất
tiến
bộ phù
hợp
với
xã
hội mới.
Điều
này
Thứ
nhất, kinh
tế
nhà
nước
đi
đầu
về
năng cao năng
suất, chất lượng
và
hiệu
quả,
nhờ đó mà
thúc
đẩy sự
tăng trưởng
nhanh và bền vững của nền
kinh
tế
quc
dân
,
hỗ
trợ
các
thành
phần
kinh
tế
Điều này
cũng
có
nghĩa
là
kinh
tế nhà
nước
và
kinh tế tập thể
phải
luôn đi đầu về năng
suất,
chất
lượng và
hiệu
quả so
với
các thành
phần
kinh tế
khác,
mới
thể hiện
được tính ưu
việt
của nó
trong
xã
hội
khoa
học và kế
hoạch
hóa
cao.
Tuy nhiên, để các yếu
tố
tiếm
ẩn này
trở
thành
hiện
thực
cần
phải
có mô hình và cơ chế
tổ
chạc
quản
lý
phù
hợp,
mới phát huy được
thế
mạnh
đó.Trên cơ sở đi đầu về
khoa
học và công
nghệ,
năng
tiền
đề
thuận
lợi
để
khai
thông và
tận
dụng
mọi
nguồn
lực
ở
tất
cả các thành
phần
kinh
tê khác
vì sự tăng trưởng
chung
của nền
kinh tế,
đảm bảo nền
kinh tế
phát
triển
các mục
tiêu đã định.
Thứ
hai,
kinh tế đất
nước,
có
vai
trò điều
tiết
vĩ
mô, điều hành phạm
vi
toàn bộ
hoạt
động thông
suốt, tạo lập
những
cân đối
lổn
theo
định hướng Xã
hội
Chủ
nghĩa
mà
thị
trường không tự điều
chỉnh
được.
Đây là một
trong
những
vai
thị
trường vô
hiệu
hóa. Mặt
khác,
trong
cơ chế
thị
trường Nhà nước thường
xuất
hiện
như một chủ
thể kinh
tế
có
lợi
ích độc
lập với
các chủ
thể kinh tế
khác.
Do
vậy, trong
mót số trường hợp
lợi
ích của Nhà nước
lại
mâu
thuẫn
với
kinh
tế
nhà nước là lực lượng đi đầu chủ yếu thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Mặc dù sự
nghiệp
công
nghiệp
hóa,
hiện đại
hóa là
sự
nghiệp
của toàn dân, của
tất
cả các thành
phần
kinh tế
cùng
thực
hiện
như đã
khẳng
định
trong
đường
lối
của
Đảng.
hóa
đặt
ra,
cho nên
trong
giai
đoạn
hiện
nay
kinh tế
nhà nước mà đặc
biệt
là
hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà nước
vẫn là lực
lượng
chủ chốt
đi đầu
trong
quá trình
chuyển
nước
ta
thành nước công
nghiệp
hiện đại.
nhọn
nhằm
tạo
đà tăng trưởng
cho
nền
kinh
tế.
Tiếp
nữa là nỗ
lực
về
tài
chính,
ngoại
giao
và chính
trị
để
thực
hiện chiến
lược
chuyển
giao
công
nghệ
có
hiệu quả.
Đồng
thời
tê nhà nước không
tiến
hành công
nghiệp
hóa,
hiện đại
hóa một cách đơn độc
như
trước
kia
mà
trở
thành
hạt
nhân
tổ
chức,
thu
hút và định hướng để
lôi
kéo các
thành
phần
kinh tế
cùng
tham
gia
vào quỹ đạo này.
Thứ
tư,
giữ
những
ngành công
nghiệp
sản
xuất
tư
liệu
sản
xuất
quan
trọng;
các ngành công
nghiệp
mũi
nhọn
kết
cấu hạ
tầng
trong
nền
kinh tế như giao
thông vận
tải,
bưu chính
viển
thông,
năng lượng
Các ngành có ảnh hưởng
vị trí then chốt
được
hiểu
một cách
linh
động.
Nhà nước không độc
quyền
cứng
nhằc
trong
các
lĩnh
vực mà cần có sự hợp tác liên
doanh
với
các thành
phần
kinh
tế
khác,
nhất
là
trong lĩnh
vực
kết
cấu hạ
tầng
và công
nghiệp.
yếu,
nhưng
khi
những
ngành
sản xuất
đã đi vào ổn định
không
nhất
thiết
cần đầu tư
của
Nhà nước thì có
thể
chuyển
giao
cho các thành
phần
kinh tế
khác đảm
nhiệm.
Ngược
lại,
cũng
có
những
lĩnh
vực lúc đầu Nhà
nước
chưa cần đầu tư nhưng đến một lúc nào đó
bù
những
cơ sở
kinh tế
thuộc
tư nhân
đó. kinh tế
nhà nước
phải tạo ra
lượng
hàng hóa
dịch
vụ đủ để
chi phối
giá cả
thị
trường,
dẫn
dằt
giá cả
thị
trường bằn"
chính
chất
lượng
của sản
phẩm và
dịch
vụ do mình
cung
tế hợp
tác
ở
Việt
Nam
kinh tế
-xã
hội,
kinh tế
nhà nước
phải
mạnh
và
giữ vị trí then chốt
trong
nền
kinh
tế
quốc
dân.
Thứ
năm,
kinh
tế
nhà nước
trực
tiếp
tham
gia
khắc
phát,
tệ
nạn xã
hội
không bao
giờ tự
mất
đi.
Do
vậy,
Nhà nước cần có
những
chính sách
kinh tế
- xã
hội
tác động
trực
tiếp
và
tạo
những điều
kiện
thuận
lợi
để-
khắc
phục,
hạn chế những nhược
điểm
tầng,
các công trình phúc
lợi,
bảo vệ môi trường
thường
kinh
tế
nhà nước
phải
đảm
nhận.
Ngoài
ra
kinh
tế
nhà nước còn
giải
quyết
các
vấn
đề xã
hội,
thông qua các quỹ tài chính của mình, điều này vô cùng quan
trọng
vì nó
thể
hiện
tính
chất
nhiệm
đảm bảo ôn
định xã
hội tạo
điều
kiện
cho mỗi cá nhân phát
triển
toàn
diện.
1.2.1.2.
Vai
trò của doanh
nghiệp
nhà nước
Trong
khu vực
kinh
tế
nhà nước mà
lực
lượng nòng
cốt là
doanh
nghiệp
nhà
nước.
Hệ
thống
các doanh
là
nói
tới
hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà nước.
Trong
quá
chuyển
dịch
cơ
cấu
kinh
tế,
nếu xem thành phần
kinh
tê
nhà nước
đồng
nghĩa
với
các
nguồn
lực
kinh
tế
do Nhà nước nắm
giữ
nguồn
lực
kinh
tế
nhà nước chứ không
chỉ
dựa vào hệ
thốngdoanh
nghiệp
nhà
nước.
Từ khía
cạnh
này,
quan hệ của Nhà
nước
với
doanh
nghiệp
nhà nước
cũng
giống
như quan hệ
giữa
Nhà nước
với
các
thành phần
kinh
tế
nghiệp
nhà nước về
hoạt
động
và
vai
trò
vị trí
của nó
trong
nền
kinh
tế
thị
trường định hướng Xã
hội
Chủ
nghĩa
ở
Việt
Nam.
Tuy
những doanh
nghiệp
nhà nước được Nhà nước ưu đãi
rất lớn
như về
vốn,
kỹ
thuật,
kinh
tế hợp
tác
ở
Việt
Nam
quyền,
nhưng cần
phải
phân định rõ về độc
quyền
Nhà nước
với
độc
quyền
doanh
nghiệp.
Nhà nước
với
mục tiêu điều
chỉnh
cân
đối
vĩ mô, ổn định
kinh
tê
xã
hội
nên đã
thực
doanh
nghiệp,
và đây là tư tưởng cần quán
triệt
trong
hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà nước để
từ
đó
doanh
nghiệp
nhà nước có hướng đi phù hơp hơn
trong
xu
hướng
hội
nhập
kinh
tế khu
vực và
kinh
tế
quốc
tế.
Hệ
thống
doanh
kinh
tế
khác phát
triển.
Doanh
nghiệp
nhà nước là chẳ
thể
kinh
tế
nên
phải
hoạt
động có
hiệu
quả để đóng góp
tích cực cho ngân sách nhà nước
,
đảm bảo và
gia
tăng
lực
lượng
kinh
tê mà nhà
nước
đã đầu tư cho
doanh
nghiệp
nhà nước. Các
trò cẳa
doanh
nghiệp
nhà nước đã
chiếm
một vị
trí
rất
quan
trọng trong
quá trình phát
triển
kinh
tế
xã
hội
cẳa
đất
nước.
Mặc dù
vai
trò cẳa
kinh
tế
nhà
nước
cũng
bao gồm cả
vai
trò cẳa hệ
thức
rõ ràng cụ thê
hơn
vai
trò cua
kinh
tế
nhà nước
cũng
như quá trình
đổi
mới
kinh
tế
nhà
nước,
đê
có định hướng phát
triểndoanh
nghiệp
nhà nước một cách
hiệu
quả. Tùy
theo
từng
giai
đoạn phát
triển
màdoanh
nghiệp
cấu
thành khác cẳa hệ
thống
kinh
tế
chính
trị
xã
hội.
Vai
trò cẳa hệ
thống
doanh
nghiệp
nhà nước gắn
liền
với
việc
tham
gia
vào
hoạt
động
kinh
tế
cẳa nhà nước.
Vai
trò được
thể
hiện
phát
triển
theo
định hướng Xã
hội
Chẳ
nghĩa
.
> Mở đường hỗ
trợ
các thành
phần
kinh
tế
khác phát
triển,
thúc đẩy sự
tăng trưởng
nhanh
và bền
vững
cẳa toàn bộ nền
kinh
tế .
> Đảm
nhận
các
lĩnh
vực có tính
chất
kinh
tế hợp
tác
ở
Việt
Nam
> Góp
phần
khắc
phục
những
khiếm
khuyết
của cơ
chế thị
ữường
.Trong
những
lĩnh
vực
mới,
các
lĩnh
vực
kết cấu
hạ
tầng,
công trình công
cộng,
mà nó
nghiệp
nhà nước cần
phải
đi đầu mở
đưởng,
tạo
điều
kiện
cho
các thành
phần
kinh tế
phát
triển.
> Là
lực
lưặng
xung
kích,
tạo
sự
thay đổi
cơ cấu
kinh
tế,
thúc đẩy
nhanh
việc
ứng
dụng
vào nứơc ngoài về
kinh tế trong
điều
kiện hội
nhập
với
khu vực và
thế
giới.
> Thực
hiện
các chính sách xã
hội, tạo việc làm,
cung
cấp hàng hóa công,
là
lực
lưặng nền
tảng
cho chế
độ xã
hội mới.
Tóm
lại
: Vai
trò của
doanh
nghiệp
nhà nước
rất
mà yêu cầu
buộcdoanh
nghiệp
nhà nước
phải
vưặt
qua để
giữ
vững
vai
trò chủ đạo. Thách
thức
này còn to
lớn
và
nặng
nề hơn,
khi
mà hệ
thốngdoanh
nghiệp
nhà nước ở nước
ta
hoạt
động một cách không
hiệu
quả và
hiện
chính phủ đang có
nhiều
Mác - Lênin :
Mác và Enghen là
người
nghiên cứu phương
thức
sản
xuất
Tư bản Chủ
nghĩa
ở
giai
đoạn
tự
do
cạnh
tranh.
Các ông dự báo
rằng,
thời
kỳ quá độ lên Chủ
nghĩa
Xã
hội
không
thể
xảy
ra
riêng ở một nước Tư Bản mà sẽ đồng
loạt
nổ
hiện đại
và trình độ phát
triển
của
lực
lưặn"
sản
xuất
giữa
các
ngành,
các
vùng,
các
doanh
nghiệp
khá đồng đều
nhau.
Chính
trong bối
cảnh
nghiên cứu như
vậy
các ông đã nhìn Chủ
nghĩa
Tư bản là phươns
thức
sản
xuất
thuần
hội
Chủ
nghĩa
-19-