THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC
THANH TRA, NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TẬP TRUNG GIẢI
QUYẾT ĐỂ TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH TRA
I. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC
THANH TRA
1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về công tác thanh tra
Năm 1990, Pháp lệnh Thanh tra được ban hành, đây là văn bản pháp
lý cao nhất, quan trọng nhất quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra.
Pháp lệnh khẳng định vị trí, vai trò công tác thanh tra - là chức năng thiết
yếu của công tác quản lý nhà nước. Tổ chức Thanh tra được thành lập thống
nhất từ Trung ương đến địa phương, bao gồm: Thanh tra nhà nước, Thanh
tra bộ, ngành, Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thanh tra
sở, Thanh tra huyện, quận.
Hoạt động quản lý nhà nước về công tác thanh tra được quy định khá
đầy đủ trong các Điều 11, 14, 17 và trong các quy định khác của Pháp lệnh.
Nội dung hoạt động quản lý nhà nước được xác định cụ thể, tập trung nhất
trong nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra nhà nước, Thanh tra tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương. Hoạt động quản lý nhà nước bao gồm nhiều nội
dung, tuy chưa thật đầy đủ như quy định tại Nghị định 15/CP của Chính phủ,
song đều tập trung nhằm xây dựng hệ thống Thanh tra vững mạnh, hoạt
động có hiệu quả, bảo đảm thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ được
giao.
Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về thanh tra được
đẩy mạnh và thu được nhiều kết quả, phục vụ thiết thực cho công tác thanh
tra. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của công tác thanh tra, công tác quản
lý nhà nước của tổ chức Thanh tra nhà nước bộc lộ nhiều hạn chế, nhiều bất
cập. Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 3 khoá VIII, việc đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra
đòi hỏi cần xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện hoạt động
quản lý nhà nước về công tác thanh tra. Từ đó rút ra những nguyên nhân,
đưa ra những giài pháp khắc phục, làm cơ sở nghiên cứu sửa đổi Pháp lệnh
thanh tra để tiến tới xây dựng Luật Thanh tra.
2. Thực trạng quản lý nhà nước về công tác thanh tra hiện nay
phạm vi cơ cấu tổ chức, nhưng nhìn chung, các bộ, ngành đều rất coi trọng
đến công tác thanh tra, quan tâm đến việc kiện toàn tổ chức Thanh tra. Hầu
hết các bộ, ngành đều đã thành lập tổ chức Thanh tra. Hầu hết các bộ, ngành
đều đã thành lập tổ chức Thanh tra, đầu tư trang thiết bị, bố trí cán bộ có khả
năng đảm đương nhiệm vụ này. Hiện nay, nhiều tổ chức Thanh tra được tổ
chức tốt, hoạt động có hiệu quả, như Thanh tra các bộ, ngành: Quốc phòng,
Nội vụ, Ngân hàng, Tài chính, Y tế, Khoa học - Công nghệ và Môi trường…
Song một số nơi, Thanh tra tuy có được thành lập nhưng số lượng cán bộ
quá ít ỏi, năng lực hạn chế nên không đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ. Thanh tra một số bộ, ngành chỉ có từ 2-6 người, như Bộ Ngoại giao, Ban
cơ yếu Chính phủ, Tổng cục Khí tượng - Thuỷ văn, Tổng cục Du lịch v.v…,
thậm chí có nơi đến nay chưa thành lập như Bộ Kế hoạch - Đầu tư. Đa số
Thanh tra các bộ, ngành số lượng cán bộ không đảm bảo so với quy định và
so với yêu cầu công tác. Nhiều cán bộ được bố trí làm công tác thanh tra
không đủ năng lực, trình độ, có một số người là cán bộ không làm được việc
từ các bộ phận khác chuyển sang. Thực tế cho thấy nhiều năm qua, Thanh
tra các bộ, ngành chỉ đủ khả năng xem xét, giải quyết những vụ việc khiếu
nại, tố cáo, những vụ việc thanh tra vừa và nhỏ. Còn các cuộc thanh tra với
phạm vi và quy mô rộng lớn thì không thể triển khai được, nếu có tiến hành
thì kết quả rất hạn chế. Không ít trường hợp có những vi phạm lớn xẩy ra
trong phạm vi quản lý của bộ, ngành mình, thanh tra không phát hiện được
đến nỗi khi vỡ lở, đổ bể thì mới tiến hành các biện pháp để khắc phục hậu
quả. Mặt khác, chính vì sự non yếu của thanh tra, nên lãnh đạo các bộ,
ngành chưa thật sự tin tưởng để giao cho thanh tra giải quyết những vụ việc
có tính chất phức tạp.
Thực trạng nêu trên càng trở nên phức tạp khi trong một bộ, ngành tồn
tại nhiều loại hình thanh tra. Vừa có Thanh tra nhà nước hoạt động theo quy
định của Pháp lệnh Thanh tra, nhưng lại có Thanh tra chuyên ngành tổ chức
và hoạt động theo quy định của các văn bản pháp luật chuyên ngành (bộ
luật, luật, pháp lệnh…). Việc duy trì nhiều tổ chức Thanh tra cùng thực hiện
nại, tố cáo. Qua thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm trong quản lý kinh tế,
quản lý xã hội và thực hiện chính sách, pháp luật. Đã kiến nghị nhiều vấn đề
có tính chất vĩ mô nhằm điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường
hiệu lực pháp luật.
Tuy vậy, thực tế tổ chức và hoạt động thanh tra ở các địa phương còn
nhiều tồn tại. Thanh tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về mặt tổ
chức tương đối hoàn chỉnh. Song, về chất lượng cán bộ chưa thật sự đáp ứng
yêu cầu. Trong hoạt động còn nhiều hạn chế, nhất là việc triển khai những
cuộc thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện
công tác quản lý nhà nước đối với thanh tra cấp dưới chưa thực hiện một
cách đầy đủ. Thanh tra các quận, huyện, Thanh tra các sở hầu hết số lượng
cán bộ không đủ so với yêu cầu. Năng lực công tác của cán bộ còn nhiều hạn
chế. Những huyện ở miền núi, trung du, công tác thanh tra gặp rất nhiều khó
khăn, nhưng không được đầu tư cán bộ, điều kiện làm việc một cách đúng
mức.
b. Xây dựng chương trình, kế hoạch, hướng dẫn chỉ đạo công tác
thanh tra
Đây là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về
công tác thanh tra. Hàng năm, căn cứ vào chỉ đạo của Chính phủ, yêu cầu
công tác quản lý của các cấp, các ngành, tình hình khiếu nại, tố cáo, Tổng
Thanh tra nhà nước có chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra
trong toàn ngành. Tập trung vào những vấn đề nổi cộm bức xúc, những vụ
việc phức tạp xẩy ra có tính chất phổ biến trong phạm vi cả nước. Chú trọng
xem xét, giải quyết các điểm nóng, những vụ việc phát sinh tại cơ sở. Do có
định hướng đúng, nhiều cuộc thanh tra đã được tiến hành tốt, thu được nhiều
kết quả nên được các cấp, các ngành đánh giá cao như các cuộc thanh tra về
dự trữ quốc gia, tài chính, ngân hàng, năng lượng, bảo hiểm, thực hiện
chương trình, dự án về đầu tư phát triển nông thôn… Trong hoạt động,
Thanh tra nhà nước, Thanh tra các bộ, ngành, Thanh tra các địa phương
thường xuyên phối hợp với lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch giải
của Thanh tra nhà nước, đồng thời định hướng cho Thanh tra các tỉnh, thành
phố. Đối với chương trình của Thanh tra các bộ, ngành thì ít được quan tâm,
nội dung hoạt động của Thanh tra các bộ, ngành chủ yếu do lãnh đạo ở đó
quyết định. Trong thực tế, kết quả hoạt động của Thanh tra các bộ ngành
không được gửi về Thanh tra nhà nước, nhiều báo cáo mang hình thức chiếu
lệ, không đảm bảo khách quan, phản ánh không đẩy đủ hoạt động thanh tra
tại bộ, ngành. Sự không nhất quán trong chỉ đạo, việc thiếu gắn bó, liên kết
giữa Thanh tra nhà nước với Thanh tra bộ, ngành đã và đang làm giảm sút
nghiêm trọng hiệu quả công tác thanh tra.
Ngoài ra, trong việc xử lý các vấn đề sau thanh tra cũng thiếu sự
thống nhất giữa Thanh tra bộ, ngành với Thanh tra tỉnh, thành phố. Giữa
thanh tra địa phương này với thanh tra địa phương khác. Nhiều trường hợp
vì quá lệ thuộc vào quan điểm của lãnh đạo địa phương, bộ, ngành mà làm
cho các quyết định xử lý thiếu trách nhiệm công bằng, do đó không ít trường
hợp đã phát sinh khiếu nại, tố cáo.
Công tác hướng dẫn nghiệp vụ, sự chỉ đạo cụ thể, trực tiếp của Thanh
tra cấp trên đối với Thanh tra cấp dưới chưa được thực hiện tốt. Vì vậy, khi
đụng chạm đến các vấn đề mới, vấn đề có tính chất chuyên sâu, các tổ chức
thanh tra cấp dưới gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong việc xem xét, giải
quyết. Do đó, hiệu quả thanh tra rất hạn chế. Việc tổng kết rút kinh nghiệm
từ các cuộc thanh tra, nhất là các cuộc thanh tra diện rộng có ý nghĩa lớn về
mặt chính trị - xã hội chưa được tổ chức thường xuyên, kịp thời. Vì vậy,
không rút ra được bài học để chỉ đạo chung cho toàn ngành, đồng thời không
đổi mới và nâng cao được nghiệp vụ công tác thanh tra.
c. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra, nghiên cứu
khoa học và xây dựng nghiệp về vụ thanh tra
Hiệu quả công tác thanh tra phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đội ngũ
cán bộ, Thanh tra viên. Một ngành Thanh tra mạnh không thể thiếu được đội
ngũ cán bộ, Thanh tra viên giỏi về chuyên môn, vững vàng về nghiệp vụ, có
năng lực và phẩm chất tốt. Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, trong những
đề khoa học về công tác thanh tra, làm cơ sở ch việc nghiên cứu xây dựng
các văn bản pháp luật về thanh tra. Hoạt động khoa học đã lôi cuốn, thu hút
nhiều cán bộ tham gia, tạo ra không khí nghiên cứu và củng cố, nâng cao tư
duy khoa học cán bộ, Thanh tra viên.
Tuy đạt được những kết quả nhất định, song công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ thanh tra, nghiên cứu khoa học, xây dựng nghiệp vụ công tác
thanh tra còn nhiều điểm bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc
xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra chính quy, hiện đại.
Số cán bộ thanh tra có trình độ đại học chiếm tỷ lệ khá cao, song chủ
yếu được đào tạo một chuyên ngành. Quá trình công tác quá dài, không được
đào tạo, bồi dưỡng lại nên kiến thức cũ kỹ, lạc hậu, nhất là về quản lý kinh tế
và kiến thức pháp luật. Số người có trình độ sau đại học chiếm tỷ lện quá ít,
thiếu những chuyên gia giỏi trong một số lĩnh vực. Việc tuyển dụng cán bộ
chưa thật hợp lý, thiếu chú ý đến tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ. Số cán
bộ tuổi cao chiếm tỷ lệ trong ngành khá cao, do đó dẫn đến tình trạng trì trệ,
yếu kém trong tư duy, thiếu năng động, sáng tạo trong giải quyết công việc.
Hiện tại, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn chắp vá chưa có tính vĩ
mô, quy mô tổng thể trong toàn ngành. Giáo trình bồi dưỡng, đào tạo của
Trường Cán bộ Thanh tra chậm được đổi mới. Chương trình nâng cao chưa
đầy đủ, nội dung nghèo nàn, thiếu những thông tin mới, nhất là kiến thức về
nghiệp vụ thanh tra. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy của
nhà trường còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu hiện nay.
Nhận thức về công tác nghiên cứu khoa học của các cấp còn chưa đầy
đủ, do đó việc đầu tư cho công tác này còn những hạn chế. Trung tâm
nghiên cứu khoa học - Thông tin, số lượng cán bộ nghiên cứu quá mỏng,
kinh phí hạn hẹp, điều kiện làm việc thiếu thốn. Vì vậy, không thể độc lập
triển khai nghiên cứu những vấn đề khoa học có quy mô và phạm vi rộng
lớn.
Đứng trước yêu cầu đổi mới của tình hình phát triển kinh tế - xã hội,
đòi hỏi đổi mới toàn diện và sâu sắc ngành Thanh tra, công tác đào tạo, bồi
dưỡng, đào tạo cho cán bộ thanh tra chưa được thực hiện. Hoạt động đối
ngoại của cơ quan chưa gắn bó, liên quan với hoạt động nghiên cứu khoa
học. Phương thức trao đổi thông tin giữa các bên còn nghèo nàn, đơn điệu.
Bộ phận chuyên trách đối ngoại của Thanh tra nhà nước còn thiếu những cán
bộ năng lực, chuyên môn, do đó hoạt động còn nặng về sự vụ, thiếu tính chủ
động sáng tạo, chưa thật sự trở thành cơ quan tham mưu đầy đủ cho Tổng
Thanh tra nhà nước về công tác đối ngoại.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT VÀ TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH TRA
Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả côngt tác thanh tra phục vụ thiết
thực cho công tác quản lý của các cấp, các ngành. Nghị quyết Trung ương 3
khoá VIII xác định phải kiện toàn, đổi mới, tăng cương, phát huy vai trò của
công tác thanh tra. Do đó, việc tăng cường quản lý nhà nước về công tác
thanh tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Để khắc phục những tồn
tại, những mặt yếu kém về công tác này, cần tập trung giải quyết tốt các vấn
đề sau đây:
- Cần xác định, làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan Thanh tra nhà nước trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Làm
rõ phạm vi ranh giới giữa hoạt động thanh tra với các cơ quan có chức năng
kiểm tra, giám sát, từ đó xác định cơ quan thanh tra nhà nước thuộc hành
pháp hay lập pháp. Cơ quan Thanh tra nhà nước được tổ chức như thế nào,
Thanh tra nhà nước ở Trung ương, Thanh tra bộ, ngành, Thanh tra các địa
phương có nằm trong cùng một hệ thống hay không? Được tổ chức theo
hướgn tập trung thống nhất hay được tổ chức theo nguyên tắc song trùng
trực thuộc? Để giải quyết được cơ bản vấn đề này, trước mắt phải tập trung
sửa đổi Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, xây dựng Luật Thanh tra, làm cơ sở
pháp lý cho tổ chức và hoạt động thanh tra. Sớm ban hành Luật Khiếu nại, tố
cáo thay thế Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân, trong đó làm rõ nội
dung quản lý nhà nước về công tác thanh tra, vai trò, trách nhiệm của các cơ
quan Thanh tra nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về khiếu nại, tố
cáo. Đôn đốc kiểm tra các cấp, các ngành, các đơn vị trong việc thực hiện
các kết luận, quyết định, kiến nghị về thanh tra, các quyết định giải quyết
khiéu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật.
- Kiện toàn các tổ chức Thanh tra các cấp, các ngành, nhất là Thanh
tra sở, ngành, Thanh tra huyện, quận chú trọng tới thanh tra các địa phương
ở miền núi, trung du. Bố trí cán bộ lãnh đạo đúng tiêu chuẩn, tuyển chọn bổ
nhiệm cán bộ, Thanh tra viên bảo đảm đúng năng lực, trình độ. Xây dựng
chiến lược về cán bộ đảm bảo ngành Thanh tra phát triển theo định hướng
chính quy hiện đại.
- Thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm hoạt động công tác thanh tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Chú trọng vào thanh tra các chuyên đề, thanh tra
diện rộng, những vụ việc phức tạp từ đó có bài học kinh nghiệm phổ biến
chung cho toàn ngành. Bổ sung và nâng cao lý luận về nghiệp vụ công tác
thanh tra.
- Đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học. Xây dựng hệ
thống lý luận về thanh tra, về nghiệp vụ thanh tra. Đa dạng hoá các hoạt
động khoa học. Triển khai những vấn đề mang tính vĩ mô, đẩy mạnh hơn
nữa việc nghiên cứu những đề tài vừa và nhỏ để giải quyết những vấn đề bức
xúc đặt ra thường xuyên trong công tác thanh tra. Củng cố Trung tâm nghiên
cứu khoa học - Thông tin Thanh tra, tiến tới thành lập Viện Nghiên cứu
Khoa học Thanh tra./.
NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CÔNG TÁC THANH TRA
NGUYỄN NGỌC TẢN
Thanh tra viên - Thanh tra nhà nước
I. KHÁI QUÁT NHẬN THỨC NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH TRA
1. Nhận thức về quản lý nhà nước
Trong quá trình phát triển của xã hội; sự xuất hiện của Nhà nước là
nhiệm vụ của nhà nước.
2. Về vai trò của công tác thanh tra trong hoạt động quản lý nhà
nước
Nói về vai trò của thanh tra đối với hoạt động quản lý nhà nước, Nghị
quyết số 16/HĐBT ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ về công tác
thanh tra có đoạn: “Thanh tra là công tác quan trọng trong toàn bộ công tác
quản lý của bộ máy nhà nước. Nó có mục đích giúp cơ quan lãnh đạo vừa
kiểm tra sự đúng đắn của bản thân hoạt động lãnh đạo của mình, vừa kiểm
tra việc chấp hành của các cơ quan thuộc quyền, nhằm tìm ra những biện
pháp chỉ đạo và quản lý tốt nhất. Bảo đảm cho những chủ chương, chính
sách của Đảng, Nhà nước và pháp luật được chấp hành đầy đủ và có hiệu
lực”.
Vai trò của công tác thanh tra trong hoạt động quản lý nhà nước được
ghi nhận khá đầy đủ thông qua quy định về nhiệm vụ, quyền hạn chung của
các tổ chức này, tại Điều 8 Pháp lệnh thanh tra năm 1990 có ghi: Các tổ
chức Thanh tra nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn chung sau đây:
- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch
nhà nước của cơ quan, tổ chức và cá nhân…
- Xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết
theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo…
- Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề về
quản lý nhà nước, những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy
định phù hợp với yêu cầu của quản lý nhà nước…
Như vậy, trong quản lý nhà nước, vai trò của thanh tra không chỉ là
hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch
của Nhà nước, kịp thời phát hiện, kíên nghị xử lý nghiêm khắc đối với
những hành vi vi phạm và đề ra các biện pháp giúp các đối tượng thanh tra
khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, phát huy ưu điểm… mà còn là
“tai mắt” của người quản lý, phát hiện những biểu hiện trì trệ, không phù
hợp với thực tế khách quan của cơ chế và phương pháp quản lý đã và đang
Tương tự như các lĩnh vực quản lý khác, quản lý nhà nước về công tác
thanh tra phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra chủ yếu
thông qua các quy định của pháp luật. Trong hoạt động quản lý nhà nước về
công tác thanh tra phải thể hiện rõ quyền lực nhà nước đối với đối tượng
quản lý, tuy vậy không được tạo ra sự cách biệt tuyệt đối về mặt xã hội đối
với các đối tượng bị quản lý.
- Hoạt động quản lý nhà nước về công tác thanh tra không được tách
rời với hoạt động quản lý nhà nước của Nhà nước.
- Có mục tiêu, chương trình và kế hoạch rõ ràng.
- Chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà
nước về công tác thanh tra.
- Bảo đảm tính liên tục và ổn định trong tổ chức, hoạt động quản lý
nhà nước về công tác thanh tra.
- Bảo đảm tính liên tục và ổn định trong tổ chức, hoạt động quản lý
nhà nước, sự tác động của hoạt động quản lý nhà nước phải được thực hiện
thường xuyên, đều khắp.
II. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH TRA
Xuất phát từ nhận thức về vai trò của hoạt động thanh tra trong quản
lý nhà nước, với quan điểm đẩy mạnh đổi mới để nâng cao hiệu quả công tác
thanh tra góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, trên cơ sở tổng kết
thực tiễn và nghiên cứu vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức
Thanh tra, xin đề xuất một số nội dung và biện pháp tăng cường quản lý nhà
nước về công tác thanh tra như sau:
1. Nghiên cứu xây dựng các dự án pháp luật về thanh tra, kiểm
tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo
a. Tham mưu cho Nhà nước ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu
nại, tố cáo (dưới đây gọi tắt là văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra) để
thanh tra, định hướng chương trình, kế hoạch hoạt động thanh tra.
Có thể nói, hoạch định chính sách và định hướng chương trình hoạt
động thanh tra hướng vào mục tiêu và nhiệm vụ chính trị của công tác thanh
tra là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về công
tác thanh tra. Để làm rõ nội dung này xin lần lượt đi các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu hoạch định chính sách về công tác thanh tra
Bên cạnh việc nghiên cứu xây dựng các dự án pháp luật để Nhà nước
ban hành, việc nghiên cứu hoạch định các chính sách về thanh tra để đề xuất
Nhà nước ban hành là nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về công
tác thanh tra. Trên thực tế, nhiều chính sách là văn bản pháp luật, nhiều quy
phạm pháp luật lại chứa đựng nội dung các chính sách; hay nói cách khác,
chính sách và pháp luật là 2 vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau. Do vậy,
thường xuyên nghiên cứu và chủ động đề xuất với Nhà nước những vấn đề
về chính sách liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra là nội dung
không thể thiếu trong công tác quản lý nhà nước của Thanh tra nhà nước. Để
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, Thanh tra nhà nước cần tham mưu cho
Nhà nước ban hành và thực thi các chính sách sau:
+ Chính sách về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng,
sự tham gia của chính quyền các cấp vào công tác thanh tra.
+ Chính sách hoàn thiện hoặc đổi mới hệ thống các tổ chức Thanh tra
đáp ứng các yêu cầu quản lý trước mắt cũng như lâu dài.
+ Chính sách đổi mới phương thức hoạt động thanh tra nhằm góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước ở tất cả các cấp.
+ Chính sách đối với các cán bộ làm công tác thanh tra, chăm lo tới
điều kiện công tác và đời sống cán bộ thanh tra tạo điều kiện cho họ hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao, loại trừ các hành vi tiêu cực có thể xẩy ra
trong quá trình thực thi công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Định hướng chương trình, kế hoạch hoạt động thanh tra, kiểm tra.
Định hướng chương trình, kế hoạch hoạt động thanh tra để hướng dẫn
các tổ chức Thanh tra, kiểm tra góp phần thực hiện chương trình phát triển
Một là: Tình trạng tăng cường các tổ chức Thanh tra nhà nước quá sự
cần thiết, chẳng hạn như trong một đơn vị thành lập nhiều tổ chức Thanh tra
nhà nước (thành lập các tổ chức Thanh tra nhà nước ở cả các đơn vị không
có chức năng quản lý nhà nước) hoặc trong một tổ chức Thanh tra, cơ cấu
nhiều phòng, ban nghiệp vụ không phù hợp với yêu cầu công tác gây lãng
phí và chồng chéo trong hoạt động.
Hai là: Hạn chế về mặt tổ chức đối với các tổ chức Thanh tra, không
cơ cấu đủ phòng, ban nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu của thực tế, cắt khúc
hoặc xen ghép các đơn vị không cùng chức năng gây khó khăn cho hoạt
động nghiệp vụ, chuyên môn.
Để đảm bảo tính thống nhất về tổ chức thanh tra, hạn chế và đi tới loại
trừ sự chồng chéo trong hoạt động thanh tra, Thanh tra nhà nước cần có thái
độ rõ ràng trong hướng dẫn, chỉ đạo hoặc kiến nghị với cấp có thẩm quyền
về việc thành lập các tổ chức Thanh tra chuyên ngành, sao cho tại một cơ
quan quản lý hành chính nhà nước chỉ có một tổ chức Thanh tra nhà nước.
Trong trường hợp do yêu cầu quản lý đòi hỏi phải có Thanh tra chuyên
ngành thì đơn vị này phải chịu sự quản lý, chỉ đạo của tổ chức Thanh tra nhà
nước.
- Về hoạt động thanh tra: trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của
mình, các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thanh tra việc thực hiện
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước đối với cơ quan, đơn vị
về lĩnh vực quản lý nhà nước của mình. Để các cơ quan quản lý nhà nước
vừa giải quyết những nhiệm vụ theo chức năng quản lý nhà nước của họ,
vừa góp phần giải quyết những vấn đề quản lý vĩ mô của Chính phủ, Thanh
tra nhà nước cần hướng dẫn các cấp, các ngành hướng hoạt động thanh tra
của họ vào những vấn đề kinh tế - xã hội nổi cộm thực tế đang đòi hỏi để
kiến nghị với nhà nước, Chính phủ có biện pháp tháo gỡ, hoặc đề ra cơ chế,
biện pháp quản lý tốt hơn. Lâu nay, trong tổ chức và hoạt động thanh tra của
các cơ quan quản lý nhà nước (nhất là ở các ngành) thường xẩy ra các tình
trạng:
kế hoạch thanh tra chuyên đề rộng; chương trình kế hoạch thanh tra hoặc
giải quyết khiếu nại, tố cáo phục vụ yêu cầu đột xuất của các cấp quản lý;
hướng dẫn tổng kết, sơ kết kết quả hoạt động thanh tra hoặc giải quyết khiếu
nại, tố cáo về lĩnh vực nào đó v.v… Hoặc thông qua hình thức cử cán bộ
xuống chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn trực tiếp. Do đó, để nâng cao hiệu quả
hướng dẫn, chỉ đạo các mặt công tác nói trên, cần giải quyết các vấn đề sau
đây:
Làm tốt công tác thông tin từ trên xuống và báo cáo từ dưới lên, tạo ra
hệ thống thông tin liên tục, chính xác và kịp thời. Thông tin từ trên xuống
bao gồm các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoặc ý kiến chỉ đạo trực tiếp (điện
thoại, điện tín)… Các thông tin chỉ đạo từ trên xuống cần được triển khai kịp
thời tạo điều kiện cho các tổ chức Thanh tra cấp dưới có đủ thời gian cần
thiết để xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Nội dung văn
bản phải cụ thể, rõ ràng, các công việc được chỉ đạo thực hiện cần tập trung,
có trọng tâm, trọng điểm. Trong những trường hợp cụ thể, có thể ghi rõ phần
nào là bắt buộc, phần nào là hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức Thanh
tra vừa thực hiện nhiệm vụ do Thanh tra cấp trên chỉ đạo, vừa thực hiện
được các công việc của cấp uỷ và thủ trưởng chính quyền cùng cấp giao cho.
Thông tin báo cáo từ dưới lên cũng có hình thức tuơng tự như thông
tin từ trên xuống, song ý nghĩa mục đích của chúng lại khác. Để nâng cao
chất thông tin từ trên xuống, thông tin báo cáo từ dưới lên giữ vai trò rất
quan trọng. Do đó, ngoài việc yêu cầu về tính chính xác, kịp thời, yêu cầu về
tính trung thực và đầy đủ đối với các thông tin báo cáo từ dưới lên đòi hỏi
mang tính nguyên tắc. Thực tế chỉ đạo hoạt động thanh tra hiện nay, tình
trạng có thông tin song không báo cáo, hoặc báo cáo không hết tình hình kết
quả hoạt động thanh tra vẫn xẩy ra ở một số tổ chức Thanh tra; cần có biện
pháp khắc phục tình trạng này mới góp phần nâng cao chất lượng và hiệu
quả quản lý nhà nước.
- Đẩy mạnh việc cử các tổ công tác hoặc cán bộ xuống các tổ chức
Thanh tra để nắm tình hình, trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo xử lý những vấn đề
vào các chính sách, chế độ và quy định pháp luật của Nhà nước về tổ chức,
cán bộ nói chung và về công tác tổ chức, cán bộ thanh tra nói riêng; cụ thể
là:
- Công tác tổ chức: Hướng dẫn, chỉ đạo các tổ chức Thanh tra thuộc
hệ thống Thanh tra nhà nước kiện toàn tổ chức đủ khả năng, điều kiện thực
hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan nhà
nước về công tác tổ chức đối với các tổ chức Thanh tra; đảm bảo thống nhất
về mặt tổ chức trong toàn hệ thống Thanh tra.
Hướng dẫn, chỉ đạo các tổ chức Thanh tra, thông qua thực tế tổ chức
và hoạt động thanh tra của mình, nghiên cứu đề xuất với tổ chức Thanh tra
nhà nước cấp trên và thủ trưởng chính quyền cùng cấp những vấn đề cần
chấn chỉnh, đổi mới về mặt tổ chức đối với các tổ chức Thanh tra.
- Công tác cán bộ: Hướng dẫn, chỉ đạo tập trung vào 3 vấn đề chính
là: Số lượng cán bộ, chất lượng cán bộ và chế độ với đội ngũ cán bộ làm
công tác thanh tra.