1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
Bộ môn: Kỹ Thuật Nuôi Thuỷ Sản Nước Ngọt PHAN VĂN THÁI
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ KẾT HỢP CÁC LOẠI KÍCH THÍCH
TỐ ĐẾN SỰ SINH SẢN CÁ SẶC RẰN (Trichogaster
pectoralis, Regan 1910) LUÂN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
đề tài.
Cuối cùng em xin gởi lời cảm ơn đến các anh chị ở trung tâm Hoà An,
các bạn trong Trại Cá Nước Ngọt, các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã giúp
đỡ cho em hoàn thành tốt đề tài.
3
TÓM TẮT
Cá Sặc Rằn một loài cá quen thuộc của ĐBSCL với phẩm chất thịt
thơm ngon, khả năng chịu đựng tốt với các điều kiện môi trường nên được chú
ý và ngày càng được nuôi rộng rãi
Đề tài tiến hành kích thích cá Sặc Rằn sinh sản được thực hiện ở trung
tâm Hoà An và Khoa Thuỷ Sản ĐHCT. Ở Trung Tâm Hòa An cho cá sinh sản
được hai đợt ( với liều lượng kích thích tố là 3300UI HCG + 1.5mg Não Thùy
đã cho kết quả tốt nhất ) kết quả thu được tỷ lệ cá đẻ 70 %, sức sinh sản thực
tế 316012 tứng/ kg và cac chỉ tiêu như tỷ lệ thụ tinh 79,6% , tỷ lệ nở là 94,7 %.
Đối với các nghiên cứu ở ĐHCT đã thực hiện hiện kích thích cá Sặc
Rằn sinh sản với các tố hợp chất kích thích tố. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra:
nếu dùng LRH-a + DOM với liều lượng thấp hơn 150µg LRH-a + 10mg DOM
thì cá sặc Rằn không đẻ. Trong khi đó ở các tố hợp chất kích thích khác đều có
tác dụng kích thích cá sặc Rằn đẻ trứng nhưng tổ hợp chất kích thích có hiệu
2.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.1.6. Đặc điểm sinh sản 5
2.2 Cho Cá Sặc Rằn Sinh Sản 6
2.2.1Biện pháp cổ truyền 6
2.2.2 Biện pháp sinh sản nhân tạo 7
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Vật liệu và địa điểm thí nghiệm 10
3.1.1 Vật liệu thí nghiệm…………………………………………… ……… 10
3.1.2 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 10
3.2 Phương pháp nghiên cứu 10
3.2.1Nội dung Thực Hiện Ở Hoà An 10
III.2.2 Nội Dung Thực Hiện Ở Khoa Thuỷ Sản ĐHCT 11
III.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 12
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 Kết quả 13
4.1.1 Kết Quả Thực Hiện Ở Trung Tâm Hoà An 13
4.1.2 Kết Quả Thực Hiện Ở Khoa Thuỷ Sản Trường ĐHCT 16
4.1.2.1 Thí Nghiệm 1 Kích thích cá sinh sản bằng kích thích tố LRH-a + DOM 16
4.1.2.2 Thí Nghiệm 2 Sử dụng kích thích tố là LRH-a + DOM + Não Thuỳ. 17
4.1.2.3 Thí Nghiệm 3 Kết quả sử dụng tổ hợp HCG + LRH-a + DOM kích thích cá Sặc
Rằn sinh sản 19
4.1.2.4 Thí Nghiệm 4 Kích thích cá Sặc rằn sinh sản với tổ hợp HCG + Não thuỳ + LRH-
a + DOM…………………………………………………………… 22
So sánh kết quả trung bình giữa các thí nghiệm 26
4.2 Thảo Luận 29
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 31
5.1 KẾT LUẬN 31
5.2 Đề Xuất 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Nội dung của đề tài
Kích thích cho cá sinh sản.
Theo dõi tỷ lệ cá đẻ
Sức sinh sản thực tế
Tỷ lệ thụ tinh
Tỷ lệ nở
6
PHẦN II
LƯỢC THẢO TÀI LIỆU
2.1. Sơ lược về đặc điểm sinh học cá Sặc Rằn (Trichoraster pectoralis,
Regan 1910)
Hình 2.1 Cá Sặc Rằn đực Hình 2.2 Cá Sặc Rằn cái
2.1.1. Đặc điểm phân loại
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương ( 1993 ) cá Sặc Rằn có
hệ thống phân loại như sau
Ngành: Vertebrata
Ngành phụ: Craniata
Tổng lớp: Gnathostomata
Lớp: Osteichthyas
Lớp phụ: Actinopterygii
Tổng bộ: Percimospha
Bộ: Perciformes
Bộ phụ: Anabantoidei
Họ: Anabantidae
Giống: Trichogastes
Loài: Trichogastes pectoralis (Regan 1910)
2.1. 2. Đặc điểm phân bố
7
Ngoài ra cá cũng sử dụng được nhiều loại thức ăn do con người cung cấp
như: các loại bột ngũ cốc, xác bã động vật, bột cá…Khi thiếu thức ăn, chúng
có thể ăn trứng của chính nó
2.1.6. Đặc điểm sinh sản
Theo Phạm Văn Khánh (2005) trong tự nhiện, cá thành thục sinh dục và
tham gia sinh sản lần đầu khoảng 6 tháng tuổi.
Tuy nhiên, khi nuôi cá trong ao cá đẻ quanh năm và không có mùa rỏ rệt
theo Hora và Pillay ( 1962 ) trích dẫn bởi Châu Thị Hoàng Điệp ( 1998 ), Theo
8
Nguyễn Văn Kiểm ( 2004 ) thì cá đẻ quanh năm nhưng tập trung vẫn là vào
tháng mùa mưa từ tháng 4-10. Đối với một số loài cá ở ĐBSCL thì cá cũng tập
trung sinh sản vào những tháng mùa mưa như theo Ngô Thị Hạnh ( 2001 ) thì
cá Lóc Đen sinh sản quanh năm nhưng thường tập trung từ tháng 5 -7 dương
lịch và đẻ rộ sau những cơn mưa lớn.
Khi trưởng thành và ở giai đoạn thành thục ta cũng có thể dễ dàng phân
biệt được cá đực và cá cái. Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) có thể phân biệt cá
đực là có vây lưng dài và nhọn, thân hình thon, bụng nhỏ, màu sắc cá đực
cũng sặc sỡ hơn cá cái. Ngược lại cá cái có vây lưng tròn và ngắn, thường
không vượt qua cuốn vây đuôi. Cá cái thành thục bụng cá cái mang trứng căng
tròn.
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) trong tự nhiên cá đẻ trong ruộng lúa, ao
nuôi, nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh. Khi sinh sản, cá đực và cá cái bắt cặp tìm
nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh, ven bờ và kín đáo. Cá đực làm tổ bằng nước bọt
dưới những tán hay lùm của cây cỏ. Sau đó cá đực đưa cá cái đến gần tổ và
cong mình ép cá cái đẻ trứng vào trong tổ. Trứng cá sặc rằn thuộc loại trứng
nổi do có giọt dầu lớn, và màu vàng nhạt. Những trứng rơi vảy ra ngoài được
cá đực gom lại và đưa vào tổ. Sau khi cá đẻ xong, cá đực bảo vệ trứng chống
lại những cá khác xâm nhập vào tổ, ngay cả cá cái.
Theo Nguyễn Văn Bình (2000) kể từ khi trứng được thụ tinh trong điều
kiện nhiệt độ nước từ 27-29
mương, cá sống ở đây thêm 1-2 tháng nửa cho tới thu hoạch rồi sau đó lại tiếp
tục một chu kỳ nuôi mới.
2.2.2 Biện pháp sinh sản nhân tạo
Việc cho cá sinh sản tự nhiên theo phương pháp cổ truyền đã không
mang lại hiệu quả kinh tế cao và không chủ động nguồn con giống do nhu cầu
nuôi ngày càng tăng. Theo Phạm Văn Khánh (2005) thì cá sặc rằn là loài cá
bản địa của ĐBSCL. Từ những năm 1985-1990 cá sặc rằn là đối tượng nuôi
trong cơ cấu đàn cá của một số tỉnh ĐBSCL. Con giống thả nuôi được đánh
bắt chủ yếu ngoài tự nhiên.
Theo Phạm Văn Khánh (2005) thì từ những năm 2000 được sự hỗ trợ
của dực án khuyến ngư, cá sặc rằn đã được nghiêm cứu về sinh học và đã cho
đẻ nhân tạo thành công tại Tiền Giang. Do đó việc cho cá sinh sản nhân tạo đã
được nghiên cứu và mang lại những thành công nhất định và được chuyển
giao cho nhiều người dân.
Để nâng cao hiệu quả sinh sản cá, con người đã dùng nhiều phương pháp
tác động đến quá trình sinh sản bằng cách gây ra những tác động bên ngoài và
bên trong cơ thể cá. Nhưng phổ biến nhất là dùng kích thích tố để kích thích
cho cá sinh sản, kích thích tố thường dùng là: HCG, LRH-a, não thuỳ cá…
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) khi kích thích thích cho cá sinh sản có thể sử
dụng kết hợp nhiều loại kích thích tố khi cho cá đẻ để phát huy tính cộng
hưởng tác dụng của kích thích tố, từ đó có thể nâng cao được hiệu quả sinh
sản. Mục đích của sự kết hợp này làm tăng hoạt tính và bổ sung sự khiếm
khuyết một yếu tố nào đó của kích thích tố. Từ đó sẽ làm tăng khả năng rụng
10
trứng và đẻ trứng của cá. Ngoài ra sự kết hợp kích thích tố cũng có khả năng
tiết kiệm một loại kích thích tố nào đó.
HCG
HCG là kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau thai được Zondec
và Aschaein phát hiện năm 1927 trong nước tiểu của phụ nữ có thai.
Vào năm 1936 Morozova đã thành công khi dùng nước tiểu của phụ nữ
Việc định liều lượng não cho cá bố mẹ các loài phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như : chất lượng hoạt tính của não thuỳ, tình trạng thành thục của cá bố mẹ(
mức độ thành thục, hệ số thành thục, các điều kiện môi trường…theo Nguyễn
Tường Anh(1999) trích dẫn bởi Trần Thị Trang (2001)
LRH-a ( Lutienizing Releasing Hormon)
LRH-a là một dạng của GnRH-a_Hormon phóng kích dục tố.
LRH-a thường được sử dụng kèm với các chất kháng Dopamin ( chất
gây ức chế sự tiết kích dục tố ). Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) chất kháng
dopamin hiện nay sử dụng kết hợp với GnRHa domperidin hoặc pimozide.
Motilium là một trong những sản phẩm thương mại của domperidone. GnRHa
được sử dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay vì có một số ưu điểm
+GnRH có thể tổng hợp được nên hoạt tính luôn ổn định.
+Tránh được sự lan truyền của bệnh ( vấn đề thường gặp khi sử dụng
não thuỳ ).
+ Sử dụng được trên nhiều loại cá khác nhau.
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) thì LRH-a là loại kích thích cá tiết GtH-
I, GtH-II điều khiển phản ứng 1 và 2. Đây là loại kích dục tố đạt hiệu quả cao
khi kích thích nhiều loài cá sinh sản.
Tuy nhiên theo Nguyễn Thị Ngọc Thuý ( 1998 ) khi sử dụng hormone
kích thích cá sing sản cần chú ý tới các yếu tố sau:
Thời vụ
Kích cở cá bố mẹ
Số lần tiêm
Chất lượng kích dục tố
.
13
Kích thích cho cá sinh sản
Kích thích tố sử dụng để kích thích cho cá sinh sản là HCG + Não thùy.
Cá đực được tiêm bằng 1/3 liều lượng của cá cái
Bảng 3.1 Kích thích tố sử dụng cho cá cái sinh sản
Đợt Sản xuất
Liều lượng kích thích thích tố/kg
cá cái Số cá bố mẹ
Đợt 1 27/3/09 4000UI HCG + 2mg Não 34 cặp
Đợt 2 17/4/09 3300UI HCG + 1,5mg Não 30 cặp
Cá chích xong được bố trí vào xô. Mỗi xô chứa 2 cặp cá bố mẹ. Dùng
lá môn úp lên trên mặt nước mỗi xô. Sau khoảng thời gian hiệu ứng thuốc cá
bắt đầu sinh sản. Sau khi cá sinh sản xong tiến hành thu trứng, xác định số
trứng thu được, tỉ lệ cá đẻ. Sau đó đem trứng đi ấp và xác định tỉ lệ thụ tinh và
tỉ lệ nở. Cá đẻ xong sau khoảng 1 ngày, cá bột được thả xuống ao để ương.
III.2.2 Nội Dung Thực Hiện Ở Khoa Thuỷ Sản ĐHCT
Cá bố mẹ sử dụng cho thí nghiệm được mua từ người dân. Cá bố mẹ
mua về được trữ lại trong bể một đêm mới tiến hành cho sinh sản. Thí nghiệm
tiến hành kích thích cho cá cái sinh sản với các loại kích dục tố với các liều
lượng khác nhau. Riêng ở cá đực sử dụng một loại kích htích tố là LRH-a +
DOM với liều lượng là 50µg LRH-a + 50mg DOM. Số lượng cá bố mẹ tham
gia mỗi thí nghiệm là 9 cặp, trung bình mỗi cá cái có trọng lượng khoảng
100gram và cá đực khoảng 70gram
Bảng 3.2 Các Loại Kích Thích Tố Và Liều Lượng Sử Dụng
Loại Kích Thích
Tố Liều Lượng Kích Thích Tố
Số Cá
Bố Mẹ
Thí nghi
ệm 1
ặp
150µg LRH
-
a
+ 5
mg DOM+ 2
m
g Não
3 c
ặp
Thí nghi
ệm 3
HCG + LRH-a +
DOM
1000UI HCG + 50µg LR
H
-
a + 5
mg DOM
3 c
ặp
+ 3
m
g Não + 1000UI HCG
3 c
ặp
14
III.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Ghi nhận các chỉ tiêu trong quá trình kích thích cho cá sinh sản. Sau đó
số liệu được xử lý chủ yếu bằng chương trình SPSS 10.0.
Một số chỉ tiêu được ghi nhận
+ Thời gian hiệu ứng thuốc: được tính từ khi tiêm liều quyết định đến khi
cá đẻ
Số cá đẻ trứng
+ Tỉ lệ cá đẻ = x 100
Số cá tham gia sinh sản
Số lượng trứng cá đẻ ra
+ Sức sinh sản thực tế =
Trọng lượng cá sinh sản
Số trứng thụ tinh
+ Tỉ lệ thụ tinh = x 100
Số trứng quan sát
+ Thời qian cá nở: tính từ lúc cá đẻ đến lúc trứng nở
Số trứng nở
S
ức sinh sản thực tế trứng/ kg
244978 ± 2098,47
316
012 ± 3053,46
TL th
ụ tinh (%)
72,3 ± 1,92
79,6 ± 1,87
TL n
ở (%)
90,3 ± 1,15
94,7 ± 0,95
Ghi chú
Đợt 1 4000UI HCG + 2mg Não Thùy được tiến hành vào 27/03/2009
Đợt 2 3300UI HCG + 1,5mg Não Thùy được tiến hành vào 17/04/2009
Qua bảng kết quả ta nhận xét là thời gian hiệu ứng thuốc của của hai
đợt sản không có sự khác biệt nhau nhiều. Mặt dù liều lượng kích thích tố ở
đợt 1 có cao hơn đợt 2. Bởi vì thời gian hiệu ứng thuốc ngoài ảnh hưởng của
liều lượng kích thích tố còn bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường và sự thành
thục của cá.
300000
400000
Đợt 1 Đợt 2
Đợt sản xuất
Số
trứng/kg
Tỷ lệ cá đẻ
61.8
70
56
58
60
62
64
66
68
70
72
Đợt 1 Đợt 2
Đợt Sản Xuất
Phần trăm
17
hơn ). Vì thế, liều lượng kích thích tố cao đã không ảnh hưởng rỏ ràng tới sức
sinh sản của cá khi tuyến sinh dục của cá chưa ở trạng thái sẳn sàng sinh sản.
Hình 4.3 Tỷ lệ thụ tinh thí nghiệm ở Hoà An
Tỷ lệ thụ tinh của hai đợt nhìn chung không được cao, nhưng tỷ lệ thụ
tinh của trứng ở hai đợt cao hơn 70 %. Nếu so với kết quả nghiên cứu của một
số tác giả trước đây trên cá Sặc Rằn thì tỷ lệ thụ tinh của trứng ở nghiên cứu
này thì chấp nhận được
Hình 4.4 Tỷ lệ nở thí nghiệm ở Hoà An
Phần trăm
18
thứ nhất. Bởi vậy nếu cho cá đẻ sớm khi cá chưa hoàn toàn ở trạng thái sinh
sản thì hiệu quả sản xuất không cao.
4.1.2 Kết Quả Thực Hiện Ở Khoa Thuỷ Sản Trường ĐHCT
4.1.2.1 Thí Nghiệm 1 Kích thích cá sinh sản bằng kích thích tố LRH-a +
DOM.
Bảng 4.2 Kích thích cá sinh sản bằng kích thích tố là LRH-a + DOM
Chất Kích
Thích
Liều Lượng Kích Thích Tố
Số Cá
Bố Mẹ
Thời
gian
hiệu
ứng
Tỷ
lê
cá
đẻ
Số
trứng
thu
Tỷ
lệ
thụ
tinh
(> 80%), màu sắc đều và sáng.
19
4.1.2.2 Thí Nghiệm 2 Sử dụng kích thích tố là LRH-a + DOM + Não
Thuỳ.
Trong tổ hợp chất kích thích tố ở thí nghiện 2 có thêm não thuỳ thuộc
họ cá Chép. Các hoạt chất có trong não thuỳ tiêm cùng với LRH-a + DOM có
thể có tác dụng hổ trợ cho quá trình rụng trứng và đẻ trứng ở cá Sặc Rằn
Bảng 4.3 Kết quả kích thích sinh sản bằng LRH-a + DOM + Não Thuỳ
Nghiệm
Thức
Thời gian
hiệu
ứng(giờ)
TL cá
đẻ(%)
Sức sinh sản thực tế
trứng/ kg
TL thụ
tinh(%)
TL nở(%)
1 23h45 66,7 125.860
a
± 5514,02 66
a
± 6,65 98,5
± 0,57
2 23h25 66,7 143.840
b
145000
150000
NT1 NT2 NT3
Nghiệm thức
Số
trứng/kg
20
Khi so sánh sức sinh sản ở cả ba nghiệm thức ta thấy rằng sức sinh
sản ở nghiệm thức 1 thấp nhất ( 125,860 trứng/ kg ) và có sự khác biệt so với
sức sinh sản của cá ở nghiệm thức nghiệm thức 2 ( 143,840 trứng / kg ). Sức
sinh sản đã tăng dần theo liều lượng kích thích tố từ nghiệm thức 1 đến
nghiệm thức 2 nhưng đã giảm khi ở mức liều lượng ở nghiệm thức 3 và cũng
là nghiệm tức có mức liều lượng cao nhất so với hai nghiệm thức còn lại. Như
vậy mức liều lượng nghiệm thức 2 đã cho kết quả cao nhất và có thể đây là
liều lượng thích hợp nhất để kích thích cá Sặc Rằn sinh sản khi sử dụng kích
thích tố là LRH-a + DOM và Não thùy.
Hình 4.6 Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở thí nghiệm 2
Qua bảng 4.3 và hình 4.6 ta thấy tỷ lệ thụ tinh ở nghiệm thức 3 cao nhất
( 75,6 % ) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 2 nghiệm thức còn lại. Tỷ lệ
thụ tinh đã tăng dần qua các nghiệm thức mặc dù lượng chất kích thích sử
dụng để kích thích cá đực ở các nghiệm thức là như nhau. Như vậy tỷ lệ thụ
tinh của trứng ở các nghiệm thức ngoài việc phụ thuộc vào phẩm chất của
trứng còn phụ thuộc vào phậm chất tinh trùngNhưng nhìn chung thì tỷ lệ thụ
tinh ở cả ba nghiệm thức đều còn hơi thấp. Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở các
nghiệm thức khác nhau có thể do nhiều nguyên nhân. Nhưng ở thí nghiệm này
có thể cho rằng do sức khoẻ của cá cái và cá đực đã ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ
tinh. Bởi vì, thí nghiệm này được tiến hành vào khoảng giữa mùa sinh sản của
cá Sặc Rằn.
Tỷ lệ thụ tinh
66
cho hiệu quả sinh sản cao hơn so với việc sử dụng chất kích thích là LRH-a +
DOM của thí nghiệm thứ nhất. Mặc dù liều lượng sử dụng DOM ở thí nghiệm
1 có cao hơn ở thí nghiệm 2 là 5mg nhưng do có kết hợp thêm 2mg não thùy
của thí nghiệm 2 nên hiệu quả của việc kết hợp chất kích thích trong quá trình
cho cá đẻ là rõ ràng. Ở thí nghiệm này não thùy đã làm tăng thêm khả năng
kích thích sinh sản của cá so với chỉ sử dụng LRH-a + DOM. Theo Nguyễn
Văn Kiểm ( 2004 ) thì có thể sử dụng kích thích tố đơn là Não thùy để kích
thích cho cá sinh sản với liều lượng là 4-6 mg/ kg cá cái.
Qua thí nghiệm này nhận thấy rằng ở mức liều lượng của nghiệm thức
2 mức liều lượng là 100µg LRH-a + 5mg DOM + 2mg não thuỳ có hiệu quả
hơn các liều lượng kích thích tố khác trong việc kích thích cho cá sinh sản.
4.1.2.3 Thí Nghiệm 3 Kết quả sử dụng tổ hợp HCG + LRH-a + DOM kích
thích cá Sặc Rằn sinh sản.
Mục đích thí nghiệm 4 là sử dụng tổ hợp các hoạt chất có tác dụng đối với quá
trình đẻ trứng của cá. HCG là hoạt chất có tác dụng trực tiếp tới quá trình rụng
trứng, LRH-a là chất có tác dụng kích thích sự tiết kích dục của não thuỳ của
cá và DOM là chất phụ gia có tác dụng ức chế lại trình bài tiết chất Dopamin
(một chất có tác dụng ức chế tiết kích thích tố) của não thuỳ.
22
Bảng 4.4 Kết quả kích thích cá sinh sản bằng HCG + LRH-a + DOM
Nghiệm
Thức
Thời gian
hiệu ứng
(giờ)
TL
cá đẻ
( % )
Sức SS thực tế
trứng/ kg Tỷ lệ cá đẻ
66.7
100
66.7
0
50
100
150
NT1 NT2 NT3
Nghiệm thức
Phần
trăm
23
Hình 4.9 Sức sinh sản của cá Sặc Rằn ở thí nghiệm 3
So sánh chỉ tiêu sức sinh sản nhận thấy rằng ở cả ba nghiệm thức đều
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhau. Trong đó ở nghiệm thức 1 là có
sức sinh sản rất thấp so với nghiệm thức 2 và 3. Ở thí nghiệm này thì sức sinh
sản cũng tăng theo lượng kích thích tố từ nghiệm thức 1 đến nghiệm thức 2
nhưng cũng đã giảm khi ở lượng kích thích tố cao nhất. Sức sinh sản của cá ở
nghiệm thức 3 thấp hơn nghiệm thức 2, ngoài nguyên nhân cá thành thục
không tốt thì rất có thể do liều lượng kích thích tố quá cao đã gây ra sự tiết
Oestrogene quá mức từ đó làm mất cân bằng lượng Na
+
và K
+
trong máu từ đó
chưa đủ để thụ tinh tốt cho số lượng trứng nhiều hơn.
Hình 4.11 Tỷ lệ nở của trứng ở thí nghiệm 3
Qua hình 4.10 nhận thấy tỷ lệ nở giảm dần qua các nghiệm thức nhưng
tỷ lệ nở ở cả ba nghiệm thức đều rất cao và khác biệt nhau không có ý nghĩa
thống kê.
Như vậy ở thí nghiệm 3 thì tổ hợp chất kích thích tố 1500UI HCG +
50µg LRH-a + 5mg DOM có hiệu quả nhất khi kích thích cá Sặc Rằn sinh sản.
4.1.2.4 Thí Nghiệm 4 Kích thích cá Sặc rằn sinh sản với tổ hợp HCG +
Não thuỳ + LRH-a + DOM.
Tỷ lệ nở
96.6
95.4
93.6
92
93
94
95
96
97
NT1 NT2 NT3
Nghiệm thức
Phần
trăm
Tỷ lệ thụ tinh
60.3
51.6
56.9
45
50
55
107880
a
± 4607,65
96
,
3
c
± 2,22
98
,
6
a
± 1,053
2
21h
66
,
7
179800
b
± 3,41
96
,
2
a
± 1,3
Qua bảng 4.5 nhận xét rằng thời gian hiệu ứng thuốc với chất kích thích
của thí nghiệm này ngắn hơn so với các thí nghiệm trước (20 – 21 giờ). Thời
gian hiệu ứng của cá đối với chất kích thích có mối tương quan với sức khoẻ,
mức độ chín muồi sinh dục và một số yếu tố môi trường khác như nhiệt đô,
oxy hoà tan…Trong tất cả các thí nghiệm đều được bố trí trong nhà được cung
cấp đầy đủ oxy và nhiệt độ được khống chế. Vì vậy có thể khẳng định thời
gian hiệu ứng của cá ở các thí nghiệm này là do độ chín muồi của tuyến sinh
dục và liều lượng kích thích phù hợp với cá.
Hình 4.12 Tỷ lệ cá đẻ ở thí nghiệm 4
Tỷ lệ đẻ ở nghiệm thức 1 và 3 là 100% trong khi tỷ lệ cá đẻ ở nghiệm
thức 2 chỉ có 66,6%. Măc dù lượng kích thích tố nghiệm thức 2 cao hơn ở
nghiệm thức 1 nhưng tỷ lệ cá đẻ lại ít hơn, đều này có thể do có những con cá
cái nhận không đủ lương kích thích tố cần thiết vì khi mổ cá quan sát màu sắc
Tỷ lệ cá đẻ ( % )
100
66.7
100
0
20
40