Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá và quốc tế hoá ngày càng mở ra cho nhân loại nhiều thuận
lợi trong việc giao lưu đầy triển vọng. Ngày nay, các nước đang xích lại gần
nhau hơn thông qua cầu nối thương mại quốc tế. Càng ngày những luồng chu
chuyển hàng hoá, dịch vụ, tiền tệ ngày càng nhiều, đã tạo nên sự gắn kết giữa
những nước có trình độ kinh tế khác nhau và kéo theo sự phức tạp ngày càng
lớn trong khâu cuối cùng của quá trình trao đổi là thanh toán quốc tế.
Với xu hướng quốc tế ngày càng tăng và giao lưu thương mại ngày càng
mở rộng đã đặt ra cho các ngân hàng thương mại trong việc phát triển các dịch
vụ kinh tế đối ngoại tương ứng, trong đó không thể không kể tới hoạt động
thanh toán quốc tế với nhiều phương thức đa dạng và phong phú. Trong các
phương thức này, tín dụng chứng từ là một phương thức được sử dụng phổ
biến nhất do tính ưu việt của nó. Tuy nhiên, đây là nghiệp vụ không phải đơn
giản và thực tế công tác này gặp phải nhiều khó khăn, gây thiệt hại cả về tài
chính lẫn uy tín cho ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp Việt Nam.
Là một trong những ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập từ
lâu, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã đổi mới phương thức hoạt
động phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ, đáp ứng và phục vụ yêu cầu của
khách hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế mới được triển khai chưa lâu, do
vậy phòng ngừa rủi ro trong thanh toán quốc tế đặc biệt là phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ là một việc làm cần thiết và cấp bách.
Với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào công tác phòng ngừa
rủi ro tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN, em đã chọn đề tài: “Một số
biện pháp nhằm hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ tại SGDI-NHĐT&PTVN” là nội dung nghiên
cứu của luận văn tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm có 3 chương:
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
1
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ PHƯƠNG
THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1. Thanh toán quốc tế và các phương thức thanh toán
quốc tế thông dụng.
1.1. Khái niệm và vai trò của thanh toán quốc tế:
1.1.1. Khái niệm về thanh toán quốc tế:
Trong quan hệ kinh tế thì thanh toán quốc tế được hiểu đó là việc
thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế,
thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các
hãng, các cá nhân ở các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động
trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
Theo một cách hiểu khác thì thanh toán quốc tế là sự vận dụng các
điều kiện thanh toán quốc tế. Các điều kiện thanh toán quốc tế bao gồm:
Điều kiện về tiền tệ, về địa điểm thanh toán, về thời gian thanh toán, về
phương thức thanh toán.
Những điều kiện này được quy định một cách cụ thể trong các điều
khoản ký kết giữa các nước trong các hiệp định thương mại và cụ thể hơn nó
được quy định trong các điều khoản của hợp đồng ngoại thương ký kết giữa
người xuất khẩu và người nhập khẩu.
Yêu cầu đặt ra đối với những người làm công tác thanh toán là phải
hiểu rõ các điều kiện thanh toán quốc tế nhằm vận dụng nó một cách có hiệu
quả trong việc ký kết các hợp đồng ngoại thương với mục đích mang lại lợi
nhuận cho doanh nghiệp và đồng thời cũng phải phù hợp với chính sách kinh
tế đối ngoại và chính sách tiền tệ của quốc gia.
1.1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế:
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
3
4
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
ngân hàng, bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác như: huy động vốn
ngoại tệ, đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu…cùng phát
triển. Ngoài ra, hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút
thêm khách hàng có nhu cầu giao dịch kinh doanh quốc tế, nâng cao uy tín
của ngân hàng đối với khách hàng.
Tóm lại, trong xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường ngày càng
phát triển thì hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng
không chỉ đối với nền kinh tế nói chung mà còn có ý nghĩa đối với các ngân
hàng thương mại nói riêng.
1.2.Các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng:
Phương thức thanh toán quốc tế là một trong những điều kiện không
thể thiếu và quan trọng nhất trong các điều kiện thanh toán quốc tế. Phương
thức thanh toán quốc tế được hiểu là cách thức mà người bán sử dụng để thu
tiền từ người mua, và cách mà người mua dùng để trả tiền cho người bán.
Trong buôn bán quốc tế, người mua và người bán có thể lựa chọn
nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Việc lựa chọn phương thức thanh
toán nào cũng phải xuất phát từ nhu cầu: người bán mong muốn thu được
tiền hàng về một cách nhanh chóng và đầy đủ; người mua mong muốn sau
khi trả tiền hàng thì phải nhận được hàng đúng số lượng, chất lượng, thời
gian giao hàng theo đúng thời gian quy định trong hợp đồng.
Người mua và người bán có thể lựa chọn các phương thức thanh toán
khác nhau. Tuy nhiên trên thực tế, có một số phương thức thanh toán mà
người mua và người bán hay sử dụng là:
1.2.1. Phương thức chuyển tiền:
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán mà một khách
hàng (được gọi là người chuyển tiền) yêu cầu đối với ngân hàng phục vụ
mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác(được gọi là người
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
6
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
trình giao hàng không gắn liền với nhau. Tuy nhiên rủi ro cũng có thể xảy ra
đối với người nhập khẩu trong trường hợp hối phiếu đòi tiền đến trước bộ
chứng từ hàng hoá. Trong phương thức nhờ thu phiếu trơn, ngân hàng cũng
chỉ đóng vai trò là trung gian thu hộ số tiền cho người bán và nhận phí.
Phương thức nhờ thu chỉ áp dụng đối với việc thanh toán giữa công ty
mẹ với công ty con, các bên có quan hệ buôn bán lâu đời và tin tưởng lẫn
nhau.
* Nhờ thu kèm chứng từ: là phương thức thanh toán trong đó người
bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì lập một bộ chứng từ thanh
toán nhờ thu gửi đến ngân hàng phục vụ mình,nhờ ngân hàng thu hộ số tiền
ghi trên hối phiếu với điều kiện người mua trả tiền hối phiếu hoặc ký chấp
nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao cho người mua bộ chứng từ để
đi nhận hàng.
Trong phương thức này ngân hàng có trách nhiệm cao hơn. Ngân
hàng không chỉ thu hộ số tiền người mua mà còn khống chế hộ người bán bộ
chứng từ. Do vậy quyền lợi của người bán được bảo đảm hơn. Tuy nhiên rủi
ro vẫn xảy ra đối với người bán vì người bán mới chỉ khống chế được quyền
nhận hàng của người mua mà chưa khống chế được việc thanh toán của
người mua.
Phương thức này cũng chỉ áp dụng đối với các lô hàng có giá trị nhỏ,
hai bên có quan hệ buôn bán lâu đời và tin tưởng lẫn nhau.
1.2.3. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những phương
thức được sử dụng phổ biến nhất trong thanh toán quốc tế. Sở dĩ như vậy vì
việc thanh toán chặt chẽ dựa trên bộ chứng từ hàng hoá và trong phương
thức này trách nhiệm của ngân hàng đã được nâng cao hơn. Với sự tham gia
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
8
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
( CAD- Cash against documents). Phương thức này tuy đơn giản nhưng
trong thanh toán quốc tế hiện nay ít dùng vì rủi ro cao và hiệu quả thấp.
Phương thức ghi sổ (Open account). Đây là phương thức thanh toán
trong đó người bán mở một tài khoản( Hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người
mua. Sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ,
theo đó, đến thời hạn quy định ( tháng, quý, năm…) người mua sẽ trả tiền
cho người bán. Đặc điểm của phương thức này là đơn giản, chỉ có hai bên
mua và bán tham gia thanh toán, ngân hàng không tham gia với chức năng
mở tài khoản để thực thi thanh toán, chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở
tài khoản song biên. Nếu người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản đó chỉ
là tài khoản theo dõi, không có giá trị quyết toán giữa hai bên. Do vậy
phương thức này chỉ thích hợp trong thanh toán mua bán nội địa; thanh toán
tiền gửi bán hàng ở nước ngoài; dùng cho phương thức hàng đổi hàng; thanh
toán khi đôi bên thực sự tin cậy lẫn nhau; dùng để thanh toán tiền phí dịch
vụ như: tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp
vụ môi giới uỷ thác…
2. Khái niệm và đặc điểm của phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ:
2.1. Khái niệm phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:
Theo “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” số 500,
bản sửa đổi năm 1993- gọi tắt là UCP500 của phòng thương mại quốc tế
Paris thì: Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh
toán trong đó một ngân hàng( ngân hàng mở thư tín dụng) sẽ theo yêu cầu
của khách hàng( người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền
nhất định cho một người thứ ba(được gọi là người hưởng lợi) hoặc chấp
nhận hối phiếu do người thứ ba này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
10
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
mở rộng quan hệ buôn bán quốc tế. Vì thế năm 1993 ICC đã xuất bản: “Quy
tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ”. Tuy nhiên, trong giai
đoạn hiện nay, khi mà công nghệ và thông tin liên lạc thay đổi và cải tiến
nhanh chóng thì việc sửa đổi định kỳ các quy tắc của ICC để thuận tiện hơn
cho việc buôn bán là điều kiện không tránh khỏi. Các quy tắc được sửa đổi
không những phải theo kịp sự phát triển của công nghệ mới mà còn phải
quan tâm tới luật pháp hiện hành của các quốc gia trên thế giới cũng như luật
pháp quốc tế. Qua nhiều lần sửa đổi, ấn bản số 500 là bản điều lệ hoàn chỉnh
nhất, đáp ứng được yêu cầu của các bên tham gia vào quan hệ thương mại
quốc tế, đặc biệt phần lớn các quy định trong bản điều lệ số 500 có liên quan
tới hoạt động của ngân hàng.
Đến nay bản điều lệ số 500 đã tỏ rõ vai trò không thể thiếu trong việc
hướng dẫn và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ, tạo điều kiện cho
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngày càng phát triển và hoàn
thiện hơn, đồng thời góp phần làm hạn chế những rủi ro có thể phát sinh
trong phương thức thanh toán này.
* Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ
trong thanh toán tín dụng chứng từ( The International Standard Banking
Practise - ISBP).
Tại cuộc họp tháng 5-2000. Uỷ ban kỹ thuật và Tập quán Ngân hàng
của phòng thương mại quốc tế Paris đã lập nên nhóm công tác soạn thảo văn
bản “Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế” để kiểm tra chứng từ xuất
trình theo thư tín dụng được ban hành kèm theo Quy tắc và Tập quán thống
nhất về tín dụng chứng từ _ văn bản số 500 của phòng thương mại quốc tế.
ISBP là sự bổ sung mang tính chất thực tiễn cho UCP500. ISBP
không sửa đổi UCP mà nó chỉ giải thích chi tiết và rõ ràng hơn cách áp dụng
03/09/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngoài ra còn
tham khảo một số tài liệu và căn cứ pháp lý sau:Quy tắc và thực hành thống
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
12
Lun vn tt nghip i hc Kinh t quc dõn
nht quc t v tớn dng chng t ca phũng thng mi quc t n bn s
500; Quy tc thng nht v hon tr gia cỏc ngõn hng theo tớn dng chng
t do phũng Thng mi quc t ban hnh s xut bn 525; Quyt nh
s711/2001/Q-NHNN ngy 25/05/2001 ca Ngõn hng nh nc ban hnh
Quy ch m th tớn dng tr chm.
4. Ni dung ca phng thc thanh toỏn tớn dng chng
t:
4.1. Quy trỡnh thanh toỏn theo phng thc thanh toỏn tớn dng
chng t:
(1) Sau khi ký kt hp ng, ngi nhp khu lm n xin m th tớn
dng gi n ngõn hng phc v mỡnh, yờu cu ngõn hng m mt L/C cam
kt tr tin cho ngi xut khu.
(2) Cn c vo yờu cu v ni dung ca n xin m L/C, ngõn hng
m th tớn dng s lp ra mt bc th tớn dng, qua ngõn hng i lý ca
mỡnh thụng bỏo v gi bc th tớn dng ny n cho ngi xut khu.
(3) Nhn c thụng bỏo, ngõn hng thụng bỏo L/C s bỏo ngay cho
ngi xut khu bit v thụng bỏo v ton b ni dung ca L/C, v khi nhn
c bn L/C thỡ chuyn ngay n cho ngi xut khu.
Lờ Th Thu Nng Thng mi quc t
44
Ngân hàng
mở L/C
Ngân hàng
thông báo L/C
trong một khoảng thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện
đúng và đầy đủ những điều khoản đã quy định trong bức thư đó.
Thư tín dụng được mở ra trên cơ sở của hợp đồng mua bán nhưng thư
tín dụng lại do một ngân hàng mở ra để cam kết trả tiền theo yêu cầu của
người mua, cho nên sau khi thư tín dụng đã được mở tại một ngân hàng nhất
định nào đó vào một thời gian nhất định thì nó hoàn toàn độc lập với hợp
đồng mua bán. Tính chất độc lập này thể hiện ở chỗ, nó thể hiện nghĩa vụ
của ngân hàng đối với người hưởng lợi thư tín dụng. Việc thanh toán của
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
14
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
ngân hàng không căn cứ vào tình hình thực tế của việc thực hiện hợp đồng
mà chỉ căn cứ vào L/C mà thôi.
Trong trường hợp vì lý do nào đó mà người mua không thanh toán
cho ngân hàng thì ngân hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ trả tiền của mình
đối với người bán khi người này làm đầy đủ và đúng các điều khoản của thư
tín dụng.
4.2.2. Nội dung của thư tín dụng:
Trong một bức thư tín dụng có những điều khoản chủ yếu sau đây:
- Số hiệu, địa chỉ và ngày mở L/C:
- Tên và địa chỉ của những bên có liên quan : người nhập khẩu, người
xuất khẩu, các ngân hàng( ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân
hàng trả tiền, ngân hàng xác nhận).
- Loại thư tín dụng.
- Số tiền của thư tín dụng.
- Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng ghi trong L/C.
- Nội dung về hàng hoá, về vận tải, về giao nhận hàng hoá.
- Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình.
- Cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C.
5.1. Khái niệm vể rủi ro:
Rủi ro theo nghĩa chung được hiểu là sự kiện không mong đợi, không
thuận lợi có thể xảy đến gây ra mất mát, hư hỏng và thiệt hại.
Đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, tuy rằng đây là
phương thức thanh toán có nhiều ưu điểm, đã dung hoà được lợi ích của các
bên. Song, bản thân phương thức này vẫn còn tồn tại những rủi ro có thể xảy
ra đối với cả người mua, người bán và ngân hàng.
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
16
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
5.2. Rủi ro đối với các bên có liên quan trong phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ:
5.2.1 Rủi ro đối với người nhập khẩu:
Rủi ro xảy ra đối với người nhập khẩu đó là khi anh ta đã trả tiền bộ
chứng từ cho ngân hàng phát hành, nhưng trên thực tế không nhận được
hàng hoá hoặc nhận được không đúng như thoả thuận của hai bên mua- bán
đã đề ra trong hợp đồng ngoại thương. Nguyên nhân của rủi ro này xuất phát
từ người xuất khẩu đã không trung thực.
Thêm vào đó rủi ro có thể xảy ra khi người nhập khẩu nhận phải bộ
chứng từ giả, tức là người xuất khẩu đã không gửi hàng nhưng đã lập nên bộ
chứng từ giả để rút tiền của người nhập khẩu và ngân hàng. Ngân hàng chỉ
có trách nhiệm kiểm tra tính chân thực của bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp
với L/C thì tiến hành thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu, và đòi tiền nhà
nhập khẩu. Để có thể hạn chế được rủi ro này thì nhà nhập khẩu thường nhờ
ngân hàng thu hộ mình một bộ chứng từ thật chi tiết và hoàn hảo.
Ngoài ra, người nhập khẩu có thể gặp phải rủi ro về tài chính. Đó có
thể là do người nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ nhưng hàng hoá đã
cập cảng, trong trường hợp họ cần hàng gấp thì cần phải nhờ đến ngân hàng
phát hành L/C phát hành một thư bảo lãnh gửi đến hãng tàu để nhận hàng,
Rủi ro xuất phát từ phía người nhập khẩu khi họ mất khả năng thanh
toán hoặc trì hoãn/không chịu thanh toán. Nguyên nhân có thể là do ngân
hàng khi tiến hành mở L/C đã không thẩm định kỹ về khả năng tài chính của
doanh nghiệp; hoặc nhà nhập khẩu sau khi nhập hàng về không bán được
hàng, không thu hồi được vốn nên trì hoãn thanh toán cho ngân hàng.Rủi ro
này cũng có thể bắt nguồn từ rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng
hoá.Trong quá trình ký kết hợp đồng ngoại thương hai bên mua và bán đã
thoả thuận với nhau bên nào có quyền thuê người chuyên chở hoặc mua bảo
hiểm cho hàng hoá. Nếu trong quá trình vận chuyển tàu trở hàng bị rủi ro mà
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
18
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
lỗi không phải do người vận tải thì khi người nhập khẩu không mua bảo
hiểm cho hàng hoá thì họ sẽ mất toàn bộ/một phần giá trị của lô hàng. Vì
vậy họ có thể trì hoãn việc thanh toán cho ngân hàng.
Rủi ro cũng có thể xảy ra khi nhà xuất khẩu có hành vi lừa đảo trong
việc lập nên bộ chứng từ hoàn hảo xuất trình cho ngân hàng để được thanh
toán. Mặc dù ngân hàng đã có sự kiểm tra cẩn thận nhưng cũng không phát
hiện ra. Nếu người xuất khẩu bị phá sản và người nhập khẩu không đủ năng
lực tài chính để bồi thường cho ngân hàng thì ngân hàng mở L/C sẽ phải
chịu rủi ro này.
Một rủi ro nữa cũng có thể xảy ra đó là do sự biến động của tỷ giá hối
đoái. Trong thời gian từ khi ký hợp đồng cho tới khi thanh toán tiền hàng là
thời gian dài, tỷ giá hối đoái trên thị trường có thể thay đổi,nếu người nhập
khẩu không tính toán đến khả năng mất giá của đồng nội tệ so với đồng
ngoại tệ thì khiến cho họ không muốn nhận hàng vì hàng bán sẽ bị lỗ. Do đó,
nếu số tiền ký quỹ cho ngân hàng khi họ mở L/C mà không bù đắp được
mức độ trượt giá của đồng nội tệ thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro về tài chính tức
là tiền lãi mà ngân hàng thu được trên số tiền ký quỹ nhỏ hơn so với số tiền
có khả năng trả tiền cho người bán thì trách nhiệm này sẽ thuộc về ngân
hàng xác nhận.Vì vậy, rủi ro xảy ra khi ngân hàng xác nhận chưa kiểm tra
khả năng thanh toán của ngân hàng mở đã vội xác nhận cho L/C theo yêu
cầu của ngân hàng mở để cuối cùng phải lãnh trách nhiệm thanh toán cho
người bán khi ngân hàng mở L/C bị phá sản hoặc mất khả năng thanh toán.
* Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu/trả tiền(Negotiating
bank/Paying bank): là ngân hàng mở L/C hoặc là ngân hàng do ngân hàng
mở L/C uỷ nhiệm. Trong trường hợp ngân hàng trả tiền không phải là ngân
hàng mở L/C thì theo lệ ngân hàng này không có trách nhiệm nào phải thanh
toán cho người xuất khẩu trước khi nhận được tiền từ ngân hàng phát hành
L/C. Tuy nhiên trên thực tế, theo cơ sở của bộ chứng từ được xuất trình thì
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
20
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
ngân hàng chiết khấu sẽ ứng trước cho người xuất khẩu với điều kiện truy
đòi để trợ giúp cho người xuất khẩu. Chình vì vậy rủi ro xảy ra đối với ngân
hàng này có thể xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Do ngân hàng mở L/C bị phá sản và do đó sẽ không thanh toán tiền
cho ngân hàng chiết khấu. Cũng có thể xảy ra những nguyên nhân bất khả
kháng như chiến tranh,khủng hoảng kinh tế…mà ngày xuất trình chứng từ
hoặc ngày hết hạn hiệu lực của L/C rơi đúng vào thời gian các sự kiện trên
xảy ra, thì theo quy định của UCP500 ngân hàng mở L/C sẽ được miễn trách
trả tiền cho người xuất khẩu. Trong khi đó trên thực tế người xuất khẩu đã
giao hàng và đã chiết khấu bộ chứng từ.
Rủi ro cũng có thể xuất phát từ người nhập khẩu khi họ cố tình trì
hoãn thanh toán. Họ có thể yêu cầu ngân hàng mở L/C thông báo rằng bộ
chứng từ có lỗi trong thời gian 7 ngày làm việc của ngân hàng để từ chối
thanh toán sau này.Do đã ứng trước tiền cho xuất khẩu nên với thời gian trì
hoãn càng dài thì ngân hàng chiết khấu sẽ bị động về vốn vì không thu được
của hàng hoá. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó nếu việc kiểm tra chứng từ không kỹ
lưỡng như số lượng các loại chứng từ, người cấp giấy chứng nhận..thì sau
này khi xảy ra tranh chấp sẽ gặp phải khó khăn trong việc khiếu kiện. Cũng
có thể do cán bộ đã mắc sai sót trong việc thu thập thông tin, tìm hiểu đối tác
làm ăn. Một nguyên nhân nữa là do chưa nắm bắt được các luật tố tụng, các
quy định và thông lệ quốc tế. Khi xảy ra khúc mắc, nếu người mua không
khiếu nại kịp thời thì họ sẽ bị lỡ cơ hội kinh doanh, mất mát tổn thất về hàng
hoá và về tài chính.
Đối với người bán, rủi ro xảy ra khi họ lập bộ chứng từ không phù
hợp với yêu cầu của L/C như sai chính tả, hối phiếu ghi sai người ký phát…
Họ cũng gặp rủi ro khi giao hàng hoá không phù hợp với quy định của L/C,
do xuất trình chứng từ muộn. Chính điều này là cơ hội để người nhập khẩu
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
22
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
từ chối hoặc trì hoãn việc thanh toán, đòi giảm giá hàng bán. Rủi ro cũng
xảy ra khi họ không nắm bắt được các thủ tục tố tụng, khi quá trình thanh
toán xảy ra khúc mắc nếu người bán không khiếu kiện kịp thời, đúng chỗ thì
họ sẽ bị mất quyền lợi.
Đối với ngân hàng thương mại, nguyên nhân chủ yếu để gây ra rủi ro
là do trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng. Họ có thể mắc sai sót khi
kiểm tra bộ chứng từ, khi tìm hiểu khách hàng đặc biệt là những thông tin về
tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh; do việc không hiểu và vận dụng
không thống nhất các nguồn luật điều chỉnh L/C.
5.3.2 Rủi ro chính trị:
Rủi ro chính trị là những rủi ro về sự thay đổi chính trị, kinh tế, chính
sách của một quốc gia khiến cho người bán không nhận được tiền, người
mua không nhận được hàng. Điều đó là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến
24
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC
THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SỞ GIAO DỊCH I TRONG THỜI
GIAN QUA
1. Khái quát về NHĐT&PTVN và Sở giao dịch I:
1.1. Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam:
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam có tên tiếng Anh: Bank for
Investment and Development of VietNam; tên viết tắt là BIDV; tên giao dịch
quốc tế là Vietinde; có trụ sở tại 191 Bà Triệu- toà nhà VINCOM.
NHĐT&PTVN được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957
của thủ tướng chính phủ. Trong quá trình hoạt động và trưởng thành, ngân
hàng được mang các tên gọi khác nhau phù hợp với thời kỳ xây dựng và
phát triển của đất nước:
- Ngân hàng Kiến thiết Việt nam từ ngày 26/04/1957.
- Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt nam từ ngày 24/06/1981.
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam từ ngày 14/11/1990.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam(NHĐT&PTVN) là một
trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất ở Việt nam được hình
thành sớm nhất và lâu đời nhất, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt,
được tổ chức hoạt động theo mô hình Tổng công ty nhà nước. Tính đến ngày
31/12/2005, tổng tài sản của NHĐT&PTVN đạt 131.800 tỷ đồng. Hệ thống
tổ chức được hình thành và hoàn thiện dần theo mô hình của một tập đoàn
trong tương lai. Hiện nay, mô hình tổ chức của NHĐT&PTVN gồm 5 khối
lớn: Khối ngân hàng thương mại quốc doanh( bao gồm 3 sở giao dịch và các
chi nhánh trên toàn quốc); khối công ty; khối các đơn vị sự nghiệp; khối liên
Lê Thị Thuỳ Nương Thương mại quốc tế
44
25