Tài liệu Luận văn: “Nguồn gốc và bản chất của ý thức” - Pdf 10



1
Luận văn:
“Nguồn gốc và bản chất của ý thức”
2
A. PHẦN MỞ ĐẦU

Bước vào thế kỷ mới, một câu hỏi lớn đang nổi cộm trong tư duy chính
trị là: Thế giới sẽ sống như thế nào với nước Mỹ lên ngôi đế chế và nước Mỹ
sẽ hành sử thế nào với phần còn lại của thế giới.
Một sự mất cân bằng lớn đang diễn ra trên mọi lĩnh vực < chính trị -
kinh tế - văn hoá - nghệ thuật - tôn giáo > dưới một góc độ, trên tầm bao
quát vĩ mô nhất, cũng nhưẩn chứa len lỏi dưới mọi tầng nấc vi mô nhất. Đây
là nỗi bản khoản, bức xúc tới mức ám ảnh trong đời sống tinh thần của nhân
loại. Tất cả những vấn đề trên đây sẽđược tần nào sáng tỏ, hệ thống qua việc
tìm hiểu, hệ thống về “ý thức và vai trò của nó trong đời sống xã hội".
* Đối với mỗi con người nói riêng và quốc gia trên thế giới tại sao lại không
muốn có một xã hội công bằng - văn minh với những con người văn minh,
một xã hội không có sự bóc lột, tràđạp. Để hiểu rõ vấn đề ta đi sau vào nghiên
cứu đề tài: "Nguồn gốc và bản chất của ý thức. Ý nghĩa đối với bản thân
trong việc phát huy tính năng động chủ quan của con người. Sự vận dụng
4
là chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộóc con người vàđược
cải biến trong đó .ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp
gồm ý thức tri thức ,tình cảm ,ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất ,là
phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hình thành và phát triển của ý thức có
liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự
nhiên.Tri thức càng được tích luỹ con người càng đi sâu vào bản chất của sự
vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý thức nhờđó mà
tăng hơn. Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng cóý nghĩa
chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm ,niềm tin …Quan điểm đó
chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng .Tuy nhiên việc nhấn
mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố
vai trò tình cảm ý chí.
Tựý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực
thểđộc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự
khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tựý thức làý
thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên
ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt mình ,đối lập
mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động ,có
cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội .Mặt khác sự giao tiếp
xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình
và tựđiều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra .Ngoài ra văn hoá
cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho con người tựý thức bản thân .
Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động xảy
ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến
các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan đến các hành
vi trước kia đãđược ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh thói quen ,có thể
diễn ra tựđộng bên ngoài sự chỉđạo của ý thức.Vô thức ảnh hưởng đến nhiều

người với bộóc của mình mới cóý thức theo đúng nghĩa của từđó. 6
* Nguồn gốc xã hội.
Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan
trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ. Điều kiện quyết định cho sự ra đời
của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. Ý thức ra đời cùng với quá
trình hình thành bộóc người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội.
Ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó phụ thuộc vào xã hội, và ngay
từđầu đã mang tính chất xã hội.
Loài vật tồn tại nhờ vào những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên dưới
dạng trực tiếp, còn loài người thì khác hẳn. Những vật phẩm cần thiết cho sự
sống thường không có sẵn trong tự nhiên. Con người phải tạo từ những vật
phẩm ấy. Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách
quan mà con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới cóý
thức về thế giới đó.
Quá trình hình thành ý thức không phải là quá trình con người thu nhận
thụđộng. Nhờ có lao động con người tác động vào các đối tượng hiện thực,
bắt chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận
động của mình thành những hiện tượng nhất định và các hiện tượng này tác
động vào bộóc người. Ý thức được hình thành không phải chủ yếu là do tác
động thuần tuý tự nhiên của thế giới khách quan, làm biến đổi thế giới đó.
Quá trình hình thành ý thức là kết quả hoạt động chủđộngu của con người.
Như vậy, không phải ngẫu nihên thế giới khách quan tác động vào bộóc người
để con người có thức, mà trái lại, con người cóý thức chính vì con người
chủđộng tác động vào thế giới thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thế
giới. Con người chỉ cóý thức do có tác động vào thế giới. Nói cách khác, ý
thức chỉđược hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Nhờ
tác động vào thế giới mà con người khám phá ra những bí mật của thế giới,

Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy kháh
quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan. 8
Ý thức ngay từđầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo cải
biến và thống trị tự nhiên của con người vàđã trở thành mặt không thể thiếu
của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại
một cách thụđộng nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình thu nhập
thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của ý thức còn
thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở quá trình
chủđộng ,tác động vào thế giới đó.
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách rời,
không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh làđiểm xuất phát là cơ
sở của sáng tạo. Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin ,là sự thống
nhất mặt khách quan chủ quan của ý thức.
Ý thức chỉđược nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của
con người.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã
hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những
gìđang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong
quan hệ xã hội.Do đóý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội
và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá nhân mang trong
lòng nóý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính
phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan
của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tốý thức trong hoạt động
cải tạo thế giới quan của con người.
2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
a. Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội àa do những nguyên
nhân sau đây:

vào những điều kiện lịch sử cụ thể: vào tính chất của các mối quan hệ kinh
tếmà trên đó tư tưởng nảy sinh; vào vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ 10
tư tưởng; vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng trong quần chúng.
Cũng do đóởđây cần phân biệt vai trò của ý thức tư tưởng tiến bộ vàý thức tư
tưởng phản tiến bộđối với sự phát triển xã hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những đối lập với chủ nghĩa duy tâm
trong sự tuyệt đối hoá vai trò của ý thức xã hội, mà còn bác bỏ cả quan điểm
của chủ nghĩa duy vật tàm thường (hay chủ nghĩa duy kinh tế) phủ nhận tác
dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã hội.
Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương
đối của ý thức xã hội và của đời sống tinh thần xã hội nói chung, bác bỏ mọi
quan điểm siêu hình, máy móc, tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội
vàý thức xã hội.
II.ÝNGHĨA, VAITRÒCỦAÝTHỨCTRONGĐỜISỐNGXÃHỘI.
Nhận thấy ý thức con người được phản ánh thông qua những tình thái ý
thức xã hội, mà những tình thái đó có tác động trực tiếp tới đời sống xã hội
con người. Đặc biệt trong vấn đề về tư tưởng chính trị pháp quyền - tình cảm
- tri thức vì vậy ta hãy xét tới sự tác động hay vai trò những tình thái ý thức
xã hội này trong đời sống xã hội con người.
1. Tư tưởng chính trị và pháp quyền.
Tình thái ý thức chính trị xuất hiện trong xã hội có giai cấp và nhà nước nó
phản ánh các quan hẹe chính trị, kinh tế xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các
quốc gia. Nó thể hiện thái độ các giai cấp đối với quyền lực nhà nước.
Chiến tranh vùng vịnh, chiến tranh cô xô vô nổ ra cùng tới một con
kịch phát chưa từng có của chủ nghĩa hẹp hòi, tôn giáo cực đoan lan tràn khắp
nơi và rồi ánh bình mình của thế kỷ XXI đã nhuốm màu bạo lực với sự kiện
ngày 11 -9 -2001 và tiếp nối ngay sau đó là cuộc chiến tranh Atgamixtan cuộc

bộ xã hội, của sự nhân đạo hoá xã hội. Và cũng do đó, các quan niệm về thiện
vàác, về hạnh phúc, công bằng, lương tâm, danh dự, lòng tự trọng trở thành 12
những giá trị phổ biến nhất của ý thức đạo đức trong đời sống văn hoá tinh
thần của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng.
b) Trong tiến trình phát triển của xã hội đã hình thành những giá trịđạo
đức mang tính toàn nhân loại, tồn tại trong mọi xã hội và trong các hệ thống
đạo đức khác nhau, có tác dụng điều chỉnh hành vi của mọi người, nhằm giữ
gìn trật tự xã hội chung và sinh hoạt thường ngày của từng cá nhân và cộng
đồng bất kể họ thuộc giai cấp nào, dân tộc nào, quốc gia nào.
c) Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp đối kháng thì nội dung của đạo
đức bị chi phối bởi nội dung giai cấp. Trong nội dung của các phạm trùđạo
đức luôn luôn phản ánh địa vị và lợi ích của giai cấp. Mỗi giai cấp trong
những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội đều tạo ra những quan
điểm đạo đức riêng của mình. Giai cấp tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên
của xã hội thìđại diện cho một nền đạo đức tiến bộ. Còn các giai cấp đã rời
khỏi vũđại lịch sử thìđại diện cho một nền đạo đức suy thoái. Ph.Ănghen viết:
“Chung quy lại thì mọi thuyết đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản phẩm
của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và cũng như xã hội cho tới nay
đã phát triển trong sựđối lập giai cấp, đạo đức luôn luôn làđạo đức của giai
cấp. Cho nên hoặc giả nó bênh vực sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống
trị, hoặc giả, khi giai cấp bị trịđã trở nên khá mạnh, thì nó tiêu biểu cho sự nổi
dậy chống kẻ thống trị, hoặc giả, khi giai cấp bị trịđã trở nên khá mạnh, thì nó
tiêu biểu cho sự nổi dậy chống kẻ thống trị và biểu cho lợi ích tương laicủa
những người bịáp bức”.
Hiện nay ở một số nước tư bản phương Tây đang lưu hành một quan
niệm sai lầm cho rằng trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệđã xuất hiện một kiểu đạo đức mới không có tính giai cấp. Trong đó,

nhu cầu thẩm mỹ của con người. Khi phản ánh thế giới hiện thực trong các
hình tượng nghệ thuật, nghệ thuật đã tác động đến lý trí và tình cảm của con
người, kích thích tính tích cực hoạt động của con người, xây dựng ở con 14
người những hành vi đạo đức tốt đẹp. Thông qua những tác phẩm có giá trị
truyền qua các thế hệ mà nghệ thuật còn giúp con người nhận thức đời sống
xã hội. Như vậy, nghệ thuật đóng vai trò to lớn trong các nhân tố giáo dục con
người, nhận thức và cải tạo hiện thực.
5. Ý thức tôn giáo.
Các biến đổi dữ dội làm đảo lộn thế giới trong thế kỷđầy bão tốđã gây
nên “cuộc khủng hoảng xã hội và thế giới”. Đó là lời đánh giá của chính một
nhân vật quan trọng của toà thánh Vatican, cha Peter Gumpel lúc này có một
cái nhìn toàn cảnh về bức tranh tôn giáo toàn cầu cuối thế kỷ là cần thiết. Có
thể nói bức tranh phức tạp pha trộn nhiều màu sắc thiếu hài hoà.
Ngày nay với sự bùng nổ của nhiều giáo phái khiến trào lưu xã hội có
niều thay đổi, có nhiều giáo phái được hình thành với nghi lễ mới dung tục
học quyền bỏ. Nhiều khi mang tính pha tạp hỗn hợp giả danh khoa học hoặc
trộn lẫn các tín ngưỡng đã có cả trường hợp cực đoan, dẫn đến tự sát tập thể.
Tuy nihên ta nhận thấy mục đích của những đạo giáo này đều hướng con
người tới cái thiện, cái đẹp.
6. Hình thái ý thức khoa học nhân dạng - tâm linh - tín ngưỡng.
Đến cuối thế kỷ 20 ở Phương Đông cũng nhưở phát triển khoa học -
nhân dạng trôi nổi biến tướng nhiều dạng. Xấu nhiều, tốt ít phản khoa học và
bị lợi dụng trở thành một công cụ truyền bá mê tín, có lúc phục vụ cho ýđồ
vàâm mưu chính trị. Khoa học nhận dạng được chuyển thành hai xu hướng:
Một làđược người cầm quyền sử dụng làm thành một công cụ thống trị
có tác dụng được đề cao trong xã hội.
Hai là bịđào thải vì quá nhiều bọn xấu lợi dụng trở thành nghề bói toán

XHCN và quản lý kinh tế lại phạm những sai lầm mới rong lĩnh vực phân
phối lưu thông .Nhìn chung vẫn chưa đạt được mục tiêu đại hội V đề ra . 16
Tất nhiên ngoài những yếu tố chủ quan còn có yếu tố khách quan dẫn
đến sự trì trệ của nền kinh tế do chiến tranh ,bối cảnh quốc tế … song chúng
ta vẫn mắc sai lầm chủ quan trong việc quản lý cán bộ ,phát triển LLSX .
Nhắc lại thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất ,thấy rõ
tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới
.Phép BCDV khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bịđào
thải .
Trước tình hình kinh tếđó ,Đảng và nhà nước đãđi sâu nghiên cứu
,phân tích tình hình ,lấy ý kiến của nhân dân vàđặc biệt làđổi mới tư duy về
kinh tế .Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm lớn trong đó có:phải luôn luôn
xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan .Đảng
đãđề ra đường lối đổi mới ,mở ra bước ngoặt trong sự việc xây dựng CNXH ở
nước ta .
Tại đại hội VI Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình ,tìm ra đúng nguyên
nhân khủng hoảng kinh tế xã hội vàđãđề ra nhiều phương hướng nhiệm vụ
trong việc đổi mới ,nhất là về kinh tế ,thực hiện chương trình kinh tế với 3
mục tiêu : lương thực -thực phẩm ,hàng tiêu dùng ,xuất khẩu ,hình thành nền
kinh tế nhiêu thành phần ,thừa nhận kinh tế tư sản sản xuất hàng hoá và kinh
tế tư bản tư nhân ,đổi mới cơ chế quản lý .Trong quá trình thực hiện nghị
quyết của Đảng ,những diễn biến quốc tếđãảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
nước ta nhưng Đảng ,nhà nước và nhân dân đã nỗ lực khắc phục những khó
khăn và tìm tòi khai phá ra đường lối đổi mới . Tại đại hội VII ta đãđánh giá
tình hình kinh tế chính trị của nước ta sau hơn nhiều năm thực hiện đổi mới
đãđạt được các bước tiến quan trọng .Tình hình hình chính trịổn định nên nền
kinh tế cóđiều kiện phát triển bươc đầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

được nhiều tồn tại trong 3 năm qua .Lạm phát được đẩy lùi .Tổng sản phẩm
GDP tăng bình quân 8.2% so với mức đề ra năm 91-95 là 5,5-5,6%.Sản xuất
nông nghiệp tương đối toàn diện sản lượng lương thực 26% so với 5 năm
trước đó ,tạo đIều kiện thuận lợi để cuộc sống đầy đủ ,phát triển được nhiều 18
ngành nghề .Vấn đề lương thực đãđược giải quyết tốt .Quan hệ kinh tếđối
ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hoá ,thị trường xuất nhập khẩu được
mở rộng , nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh ,tăng kim ngạch xuất khẩu
91-95 là 17 tỉ USD so với kế hoạch là 12-15 tỉ USD. Khoa học công nghệ có
bước phát triển lớn phục vụ cho việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng
,lĩnh vực văn hoá tinh thần được nâng cao ,đời sống nhân dân được cải thiện
,quốc phòng an ninh được giữ vững.
Hội nghịđại biểu toàn quốc chỉ nêu lên thành tựu tiếp tục giữ vững và
củng cốổn định chính trị ,mở rộng quan hệđối ngoại ,tạo đIều kiện cho công
cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc .
Như vậy , cũng thấy rõ tác động của kinh tế với chính trị và xã hội ,đối
với công tác đối ngoại ,quốc phòng ,an ninh…đổi mới kinh tế nhưng các nhân
tố chính trị xã hội ,đối ngoại…cũng tác động tích cực trở lại đối với kinh tế
.Vận dụn đúng đắn các mối quan hệ biện chứng duy vật . tại hội nghịđại biểu
toàn quốc đã vạch ra những điểm yếu kém ,vấn đề kinh tế như "nền kinh tế
vẫn còn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu ,công nghiệp nhỏ bé ,kết cấu hạ
tầng kém phát triển,kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất chất lượng
hiệu quả còn kém …" và vẫn còn những tồn tại về mặt văn hoá ,xã hội…để có
những thay đổi tốt hơn ,Đảng đãđề ra những nhiệm vụ chủ yếu thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá ,chăm
lo đến các vấn đề văn hoá xã hội , đảm bảo an ninh -quốc phòng, xây dựng
nhà nước văn hoá của dân ,do dân và vì dân đổi mới chỉnh đốn đảng và củng
cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân .

và bảo vệ tổ quốc.
Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao ,1996 là 9,3%,1997 là 8,2% 1998 là
5,8% ,lạm phát chiếm dưới 10%.Tốc độ tăng trưởng công nghiệp vẫn là hai
con số…đời sống nhân dân càng ổn định tăng cao .
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đúng đắn ,chính vìĐảng
ngày càng nắm vững và vận dụng đúng đắn phương pháp luận triết học toàn 20
diện Mác-Lênin .Mối quan hệ kinh tế biện chứng giữa kinh tế và chính trị
ngày càng rõ nét ,đơn cử từ việc thiếu ăn bây giờ Việt Nam trở thành nước
thứ 3 xuất khẩu gạo trên thế giới. Lòng tin của nhân dân ngày càng tăng cao
.Ngoài ra còn tăng truởng về tổng sản phẩm quốc dân ,về tốc độ thu hút vốn
đầu tư nước ngoài ,về xuất khẩu …
Đổi mới là khó khăn nhưng nhờ có chính sách vàđường lối đúng đắn
và có sự tìm tòi học hỏi từ nền kinh tế tư bản của nhiều nước ,cùng các diễn
biến phức tạp của tình hình thế giới,những biến dộng nhiều mặt của đất nước
càng đòi hỏi lòng kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn
để thích ứng kịp thời với sự biến đổi từng ngày từng giờ.
Người cán bộ kinh tế phảI quán triệt sâu sắc vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác -Lênin ,tư tưởng Hồ Chi Minh là phải nghiên cứu đề xuất vàáp
dụng đúng đắn các chủ trương và chính sách kinh tếđểđưa nền kinh tế nước ta
vượt qua tình trạng nghèo đói và kém phát triển ,tránh khỏi nguy cơ tụt hậu so
với kinh tế thế giới .Trong việc xoá bỏ quan liêu bao cấp nghĩa làđòi hỏi
người làm công tác quản lý phải sáng tạo ,năng động nắm bắt được thực tếđể
vận dụng và phát triển nó .Từ kinh nghiệm thực tế chỉ cần không nhận định
đúng một vấn đề ,1 chủ trương ,1 thông tin ,1 từ ngữ trong bản hợp đồng kinh
tế ,1 hành động chậm trễ hay vội vã là có thể lớn về nền kinh tế .Ngược lại
nếu biết nắm bắt kịp thời 1 thông tin dù nhỏ vẫn có thể dẫn tới một thắng lợi
lớn.Nên sự kết hợp giữa thực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan ,kết

hoá dân tộc, đểđưa đất nước phát triển nhưng đồng thời cũng không tàn mất
đi bản sắc văn hoá dân tộc.

22
TÀILIỆUTHAMKHẢO

+ Giáo trình triết.
+ Giáo trình kinh tế - chính trị.
+ Báo an ninh thế giới (1- 2003).
+ Khoa học nhân dạng
+ Những vấn đềđạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường.
+ Bàn về thanh niên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status