Tài liệu Đề Tài: " NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN " doc - Pdf 98

Luận văn Đề Tài:NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT
CỦA LỢI NHUẬN 1
CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN

Phải phân tích kinh tế xã hội với tư cách là một chỉnh thể.
2. Quan điểm của trường phái cổ điển về lợi nhuận.
Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là
trong lĩnh vực lưu thông. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên
chuyển đối tượng nghiên cứu lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Lần đầu
tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của nền kinh tế thị trường
như phạm trù lợi nhuận, địa tô, lợi tức trong đó có một số quan điểm về lợi
nhuận, nổi bật là quan điểm của Kene, A.D Smith, Ricacdo.
a. Quan điểm của Kene.
Kene được C. Mac đánh giá là cha đẻ của kinh tế chính trị học cổ điển và
ông có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế. Kene đã đặt nền tảng cho việc nghiên
cứu sản phẩm tức là nền móng cho việc nghiên cứu quan hệ thặng dư sau này. ông
đã đưa ra những quan điểm kinh tế để tiến hành phê phán chủ nghĩa trọng thương.
Kene cho rằng trao đổi thương mại chỉ đơn thuần là việc đổi giá trị này lấy giá trị
sử dụng khác theo nguyên tắc ngang giá cả. Hai bên không có gì để mất hoặc được
cả. Bởi vậy thương nghiệp không thể đẻ ra tiền được. Theo ông lợi nhuận thương
nghiệp có được do tiết kiệm các khoản chi phí về thương mại và của cải chỉ có thể
tạo ra trong việc sản xuất nông nghiệp. Chính quan điểm này đã chuyển việc
nghiên cứu của cải từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra ông còn
có lý luận về sản phẩm thặng dư. ông cho rằng sản phẩm thặng dư chỉ được tạo ra
sản xuất nông nghiệp kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa bởi vì trong lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp đã tạo ra được chất mới nhờ có được sự giúp đỡ của tự nhiên. 3

Đây là một quan điểm sai lầm. Nhưng ông cũng manh nha bước đầu tìm ra được

4

thời kì công trường thủ công còn Ricacdo là nhà tư tưởng của thời đại cách mạng
công nghiệp. Ông sử dụng phương pháp khoa học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu
tượng hoá, đồng thời áp dụng các phương pháp khoa học chính xác, đặc biệt là
phương pháp suy diễn để nghiên cứu kinh tế chính trị học.
Về lợi nhuận, Ricacdo cho rằng : “Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương
mà nha tư bản trả cho công nhân”. Ông đã thấy xu hướng giảm sút tỉ suất lợi nhuận
và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận động, biến đổi thu
nhập giữa ba giai cấp: địa chủ ,công nhân và nhà tư bản. Ông cho rằng quy luật
màu mỡ đất đai ngày càng giảm, giá cả nông phẩm tăng lên làm cho tiền lương
công nhân tăng và địa tô tăng lên còn lợi nhuận không tăng. Như vậy, theo ông địa
chủ là người có lợi, công nhân không có lợi cũng không bị hại, còn nhà tư bản thì
có hại vì tỉ suất lợi nhuận giảm xuống. Nhưng hạn chế của ông là không phân biệt
thặng dư.
3. Quan điểm của trường phái:
Theo lợi nhuận lãnh doanh là lợi tức ẩn, lợi nhuận là phần thưởng cho việc
gánh chịu rủi ro cho sự đổi mới, lợi nhuận là lợi tức độc quyền. Bởi ông cho rằng
lợi nhuận kinh doanh là tổng hợp của nhiều khoản khác nhau. Phần lớn giá trị lợi
nhuận kinh doanh được báo cáo chỉ là phần lợi tức của các chủ sở hữu công ty do
lao động của họ do vốn đầu tư của họ mang lại. Nghĩa là tiền trả cho các yếu tố sản
xuất do họ cung cấp. Nếu loại bỏ tất cả lợi tức ẩn thì ta được lợi nhuận thuần tuý và
đó là phần thưởng cho các hoạt động đầu tư có lợi bất định. Khi phân tích phần
thưởng cho sự gánh chịu rủi ro nói trên chúng ta không tính tới các rủi ro do vỡ nợ
hay các rủi ro có bảo hiểm. Có một dạng rủi ro cần lưu ý khi tính toán lợi nhuận đó
là rủi ro không được bảo hiểm doanh thu công ty phụ thuộc rất lớn vào thăng trầm
trong chu kì kinh doanh. Do các nhà đầu tư rất không thích các trường hợp rủi ro 6

phạm trù lịch sử. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hành hoá là một phạm trù lịch
sử. Lao động trừu tượng nó tạo ra giá trị của hàng hoá .
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản
xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã
hội của những người sản xuất hàng hoá. Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng
hoá giản đơn. Mâu thuẫn này còn biểu hiện ở lao động cụ thể với lao động trừu
tượng, ở giá trị sử dụng với giá trị của hàng hoá. “Tính chất hai mặt của lao động
sản xuất hàng hoá là điểm mấu chốt để hiểu biết kinh tế chính trị học”. Nó là sự
phát triển vượt bậc so với các học thuyết kinh tế cổ đại.
Mac và Anghen cũng là người đầu tiên đã xây dựng nên lý luận về giá trị
thặng dư một cách hoàn chỉnh, vì vậy lý luận giá trị thặng dư được xem là hòn đá
tảng to lớn nhất trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Mac. Qua thực tế xã hội tư
bản lúc bấy giờ Mac thấy rằng giai cấp tư bản thì ngày càng giàu thêm còn giai cấp
vô sản thì ngày càng nghèo khổ và ông đã đi tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại có
hiện tượng này. Cuối cùng ông phát hiện ra rằng nếu tư bản đưa ra một lượng tiền
là T vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá thì số tiền thu về lớn hơn số tiền
ứng ra. Ta gọi là T’ ( T’>T) hay T’= T+ T.
C.Mac gọi T là giá trị thặng dư. Ông cũng thấy rằng mục đích của lưu
thông tiền tệ với tư cách là tư bản không phải trả giá trị sử dụng mà là giá trị. Mục
đích của lưu thông T-H-T’ là sự lớn lên của giá trị thặng dư nên sự vận động của T-
H-T’ là không có giới hạn. Công thức này được Mac gọi là công thức chung của tư
bản.
Qua nghiên cứu Mac đi đến kết luận : “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu
thông và cũng không thể xuất hiện ở người lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu

bản khả biến đã được ứng trước với những tỉ lệ tương đương. Và qua sự phân chia
ta rút ra tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động.
Còn tư bản bất biến có vai trò gián tiếp trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Từ đây ta
có kết luận: “Giá trị của một hàng hoá bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứa 8

đựng, cộng với giá trị của tư bản khả biến đó (tức là giá trị thặng dư đã được sản
xuất ra). Nó được biểu diễn bằng công thức :
Giá trị = c+v+m;
Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến đã vạch rõ thực
chất bóc lột tư bản chủ nghĩa, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra
giá trị thặng dư của nhà tư bản (tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do công
nhân tạo ra). Nó được biểu diễn một cách ngắn gọn qua quá trình :
Giá trị = c+v+m;
Giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm : c
Giá trị sức lao động của người công nhân (mà nhà tư bản trả cho người công nhân)
: v
M = m’.V =
v
Vm.

Giá trị mới do người công nhân tạo ra : v+m
Như thế tư bản bỏ ra một lượng tư bản để tạo ra giá trị là c+v. Nhưng giá trị
mà tư bản thu vào là c+v+m. Phần M dôi ra là phần mà tư bản bóc lột của người
công nhân.

kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động cần thiết không
thay đổi. Nhưng phương pháp này còn có hạn chế về thời gian, về thể chất và tinh
thần người công nhân. Sự bóc lột này đã dẫn đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh
của các nghiệp đoàn. Mặt khác, đến giai đoạn phát triển cao có thể làm cho năng
suất lao động để tăng giá trị thặng dư và nâng cao trình độ bóc lột.
Nhà tư bản sản xuất ngày càng giá trị thặng dư bằng cách rút ngắn thời gian
lao động cần thiết do đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư trong điều
kiện độ dài ngày lao động không đổi. Phương pháp này không có giới hạn.
Bên cạnh đó các nhà tư bản ngày nay đang tìm cách cải tạo kỹ thuật, đưa kỹ thuật
mới vào, nâng cao tay nghề công nhân tạo điều kiện về tinh thần tốt để tạo ra năng
suất lao động, cá biệt lớn hơn năng suất lao động xã hội. Phần giá trị thặng dư dôi
ra ngoài giá trị thặng dư thông thường do thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời
gian lao động xã hội cần thiết gọi là giá trị thặng dư siêu bền. Phương pháp này sản
xuất m siêu ngạch. 10

Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là sự biểu hiện qua sản phẩm còn
thực tế để thu được tiền thì sự chuyển hoá giá trị thặng dư như thế nào. Vì công
thức chung của tư bản là T-H-T’ nên mục đích cuối cùng là thu được T’ còn m chỉ
là tiền đề là nền tảng để thu được T’ ( T’>T). Mac đã giúp ta giải quyết vấn đề này
vì ông đã tìm ra một đại lượng biểu hiện giá trị thặng dư đó là lợi nhuận (P). Vởy :
“Giá trị thặng dư khi được đem so sánhvới tổng tư bản ứng trước thì mang hình
thức biến tướng thành lợi nhuận” từ đó ta có thể thấy P chính là con đẻ của tổng tư
bản ứng trước c+v.
Để hiểu rõ hơn về P chúng ta có thể đi sâu vào phân tích chi phí thực tế xã

trị nhỏ hơn giá trị của nó thì P<m.Chính điều này đã làm cho họ cho rằng lợi nhuận
là do việc mua bán, do lưu thông tạo ra, do tài kinh doanh của nhà tư bản mà có.
Điều này dẫn đế sự che giấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Nhưng lòng
tham của nhà tư bản là vô đáy vì thế sau khi đã có lợi nhuận rồi thì họ không dừng
lại tại đó mà họ còn muốn tìm ra số tiền mà họ đầu tư đó thì họ đầu tư vào đâu để
thu được P lớn nhất. Từ đây nảy sinh khái niệm về tỉ suất lợi nhuận.
Tỉ suất lợi nhuận (P)là tỉ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn
bộ tư bản ứng trước.
P =
v
c
m

%100.

Tỉ suất lợi nhuận không phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản mà nó nói
lên mức lãi của việc đầu tư. Nó cho nhà tư bản biết họ đầu tư vào đâu thì có lợi. Do
đó việc thu P và theo đuổi P là động lực thúc đẩy nhà tư bản, là mục tiêu cạnh tranh
của các nhà tư bản.
Do mục tiêu đạt được lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà tư bản luôn luôn diễn ra
sự cạnh tranh gay gắt. Các quá trình cạnh tranh của nhà tư bản được Mac phân chia
thành hai loại : cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một
ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi
hơn để th lợi nhuận siêu ngạch.
13

chúng cũng theo một tỉ lệ như thế. Chỉ có bán hàng hoá theo những giá cả đó thì tỉ
suất lợi nhuận trong các công ty mới có thể đồng nhất và ngang với nhau, dù cấu
thành hữu cơ của các tư bản đều khác nhau. “Những giá cả có được bằng cách lấy
chi phí sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân gọi là giá cả sản xuất”.
Vậy : Giá cả sản xuất = k+P
Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỉ suất lợi nhuận bình quân. Điều
kiện để giá trị biến thành giá cả sản xuất gồm có : đại công nghiệp cơ khí tư bản
chủ nghĩa phát triển; sự liên hệ đầy đủ giữa các ngành sản xuất ; quan hệ tín dụng
phát triển, tư bản tự do chuyển từ ngành này sang ngành khác.
Trước đây khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả xoay quanh
giá trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh giá cả sản xuất. Về mặt
lượng giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau. Chính trong mối quan hệ
này, giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả sản xuất, giá cả thị trường.
Thực chất hoạt động của quy luật giá cả sản xuất là sự biểu hiện hoạt động
của quy luật giá trị trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản.
Lợi nhuận được biểu hiện dưới dạng P công nghiệp , P thương nghiệp, P ngân
hàng, lợi tức cho vay.
Trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường các nhà
sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh họ mong muốn chi
phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất, củng cố và tăng cường vị trí của mình trên
thị trường. Lợi nhuận ở đây chính là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng
chi phí. Còn tối đa hoá lợi nhuận hoặc giảm chi phí sản xuất, tức là phải làm gì để
đạt được lợi nhuận cực đại cho doanh nghiệp. Tổng doanh thu của doanh nghiệp là
số tiền mà doanh nghiệp đó kiếm được nhờ bán hàng hoá, dịch vụ trong một thời
kỳ nhất định. Và quá trình bán này cũng được tư bản công nghiệp chia cho một

trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó. Vì nhà tư bản thương nghiệp tham
gia vào việc phân chia m nên đời sống của xã hội tư bản hình thành hai loại giá cả
sản xuất : giá cả sản xuất thương nghiệp và giá cả sản xuất thực tế. Sự hình thành P
thương nghiệp đã che dấu thêm một bước quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Do 15

việc phân phối P giữa tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp diễn ra theo quy
luật tỉ suất lợi nhuận bình quân thông qua cạnh tranh.
Lợi tức và tỉ suất lợi tức
Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp, luôn có số tư bản
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi ví dụ như tiền lương quỹ khấu hao của tư bản cố định, tiền
dùng để mua nguyên liệu vật liệu nhưng chưa đến kỳ mua, bộ phận giá trị thặng dư
tích luỹ (dưới dạng tiền) để mở rộng sản xuất nhưng chưa sử dụng số tiền nhàn
rỗi như thế không mang lại một thu nhập nào cho nhà tư bản. Nhưng đối với nhà tư
bản thì tiền phải đẻ ra tiền. Vì vậy nhà tư bản phải cho người khác vay để kiếm lãi.
Vì trong cùng một thời gian đó có những nhà tư bản khác rất cần tiền để mở rộng
sản xuất do đó họ có nhu cầu vay. “Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ mà người chủ
của nó nhường cho một người khác sử dụng trong một thời gian để được một số lời
lãi nào đó. Số lời lãi đó gọi là lợi tức”. Bản chất của lợi tức là một phần lợi nhuận
bình quân mà nhà tư bản đi vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử dụng. Nguồn gốc
của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản
xuất. Nhưng việc nhà tư bản cho vay thu được lợi tức che dấu mất thực chất bóc lột
của tư bản chủ nghĩa. Dựa vào công thức tư bản vận động cho vay, chúng ta hoàn
toàn vạch trần được điều đó.
Lợi tức vận động theo quy luật tỉ suất lợi tức. Tỉ suất lợi tức là tỉ lệ tính theo

phần không cố định mà phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty.
Cổ phiếu được mua bán trên thị trường gọi là trị giá cổ phiếu.Thị giá cổ
phiếu không phải là số tiền ghi trên mặt phiếu, mà là một số tiền đem gửi ngân
hàng sẽ thu được một số lợi tức bằng lợi tức cổ phần.
Công ty cổ phần ngoài phát hành cổ phiếu còn phát hành trái khoán. Người
mua trái khoán được nhận lợi tức cố định nhưng không được dự đại hội lợi tức cổ
đông.
Thị trường chứng khoán là nơi mua bán các chứng khoán có giá trị. Giao
dịch theo hình thức tín dụng người mua chứng khoán chi trả một phần, phần còn lại 17

do người môi giới của số dịch vụ ứng trước và hưởng lợi tức về số tiền ứng trước
cho người mua.
Địa tô:
Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất và công nhân để tiến hành
sản xuất, do đó tư bản phải trích ra một phần do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ
dưới hình thức địa tô.
Địa tô TBCN là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã trừ đi phần lợi nhuận
bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất.
Địa tô=m-P.
Cơ chế kinh tế của tư bản độc quền từ đó suy ra lợi nhuận độc quyền. Độc quyền ra
đời từ tự do cạnh tranh, nó loại bỏ sự thống trị của tự do cạnh tranh nhưng không
thủ tiêu được cạnh tranh mà cạnh tranh càng trở nên gay gắt . Cạnh tranh dẫn đến
độc quyền cũng để cạnh tranh tốt hơn bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc
quyền vẫn dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.

chính mục đích áp dụng kỹ thuật mới đã làm cho các nhà tư bản đầu tư ngày càng
nhiều vào vấn đề nghiên cứu khoa học. Những phát minh khoa học lần lượt ra đời
đặc biệt là trong thế kỷ 19-20. Nó đã được lực lượng sản xuất phát triển một cách
nhanh chóng . Yếu tố này đã giúp cho nhà tư bản không chỉ thu được lợi nhuận đơn
thuần mà còn thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Người công nhân chính là người trực tiếp sử dụng vận hành các công nghệ
mới vì vậy để quá trình sử dụng được tiếp diễn với hiệu quả kinh tế cao thì người
công nhân bắt buộc phải nâng cao trình độ,nâng cao tay nghề nếu không họ sẽ bị
đào thải bởi quy luật phát triển. Còn về mặt nhà tư bản thì họ cũng hiểu rằng để đạt
được hiệu quả cao, tận dụng hết được chức năng của công nghệ tiên tiến thì họ phải
có một đội ngũ công nhân lành nghề với trình độ kỹ thuật cao. Vì vậy quá trình đầu
tư cho chiến lược nâng cao trình độ trở thành yêu cầu cấp tất yếu của các nước phát
triển và các nước đang phát triển. Do nhận biết được vai trò quan trọng của những
lao động có tay nghề cao nên hiện nay đang diễn ra tình trạng mua chuộc, lôi kéo 19

những nhà khoa học, những công nhân giỏi về phía mình bằng các biện pháp kinh
tế, tinh thần. Điều này dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám ở các nước đang phát
triển và trở thành một tình trạng báo động cần ngăn chặn.
b. P thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn luôn có mối quan hệ biện
chứng với nhau tức là khi lực lượng sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất cũng
phải phát triển và ngược lại.
Do tác động của lợi nhuận, do sự phân chia lợi nhuận dưới nhiều hình thức
khác nhau một cách hết sức chặt chẽ giữa các bên tham gia vào quá trình phân chia

Theo quá trình phát triển của lịch sử, nền kinh tế đã trải qua rất nhiều hình thức
khác nhau từ hình thức lạc hậu đến hình thức tiên tiến hiện đại. Đi từ kinh tế tự
nhiên đến kinh tế hàng hoá rồi đến kinh tế thị trường quá trình này phát triển song
song với mục đích thu được lợi nhuận ngày càng cao. Nhằm đảm bảo nhu cầu tốt
hơn về cuộc sống. Bắt đầu từ nền kinh tế tự nhiên đó là nền kinh tế tự cung tự cấp,
sản phẩm lao động sản xuất ra dều thoã mãn nhu cầu con người thì luôn phát triển
và quá trình phát triển luôn hướng tới những gì phù hợp hơn. Họ không chỉ muốn
có những cái mà họ làm ra mà còn muốn những cái mà người khác có, họ không
chỉ muốn các sản phẩm vừa đủ mà còn muốn có dư để dự trữ điều đó dẫn đến quá
trình trao đổi sản phẩm đơn thuần diễn ra. Cùng với những nhược điểm của nó con
người ta đã qua quá trình quy đổi và cuối cùng quá trình mua bán với đồng tiền
chung được quy định. Kinh tế hàng hoá xuất hiện. Với nền sản xuất hàng hoá sản
phẩm sản xuất ra để bán trên thị trường mọi người được tự do buôn bán trên thị
trường, thị trường được mở rộng ngày càng nhiều. Cơ sở của sự ra đời và tồn tại
của sản xuất hàng hoá là phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa
những người sản xuất này với người sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất quy định.
Khi kinh tế hàng hoá phát triển sẽ làm cho quá trình sản xuất mua bán diễn ra mạnh
mẽ và các nhà kinh tế luôn tìm kiếm và năng động hơn trong hoạt động sản xuất
cũng như phân phối lưu thông, lợi nhuận đã làm cho họ cố gắng đạt được bằng 21

nhiều hình thức khác nhau. Cùng một lúc mà có nhiều nhà tư bản cùng tham gia thì
vấn đề thời cơ lại trở nên rất cần thiết. Lúc này nhà kinh tế sẽ có nhiều hình thức
khác nhau để đi đến mức lợi nhuận cao. Sự cản trở ở một khâu nào đó trong quá

Sự tích luỹ này do các chủ thể sở hữu về tư liệu sản xuất hoặc tư nhân hoặc Nhà
nước tiến hành. Như vậy dù ở dạng nào thì vốn cũng là một phần lợi nhuận (thực
hiện giá trị thặng dư) tạo thành. Và lợi nhuận đóng vai trò quyết định cho quá trình
tái sản xuất xã hội.
d. Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế.
P là lý do làm phát sinh và phát triển nền kinh tế thị trường. Nó thúc đẩy quá
trình mở rộng trao đổi hàng hoá và khoa học kỹ thuật. Mở cửa nền kinh tế nhằm
thu hút nguồn lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế trong nước làm
thay đổi mạnh mẽ về trình độ công nghệ trong nước, cấu thành ngành và sản phẩm,
mở rộng phân công lao động quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết hợp tác là cơ
sở tăng cường tính độc lập và phụ thuộc lẫn nhau trên nguyên tắc bình đẳng và
cùng có lợi.
e. Vai trò của P đối với mọi mặt đời sống xã hội.
Phân phối theo lao động và phân phối theo tài sản vốn đều là tất yếu khách
quan trong quá quá độ hiện nay vì các hình thức đó đều nhằm mục đích thúc đẩy
nền sản xuất phát triển cao và tạo lập sự cân bằng xã hội giữa mọi thành viên trong
xã hội. Nhưng ngoài những người có sức đang làm việc và được trả công theo lao
động, những người có vốn và tài sản đóng góp vào quá trình sản xuất để được nhận
lợi tức và lợi nhuận, thì trong xã hội còn có những người vì lẽ này lẽ khách không
thể tham gia lao động được trả công của xã hội. Đời sống số đông người này là do
gia đình này họ hoặc xã hội bảo đảm. Mặt khác ngay mức sống của cán bộ, công
nhân viên chức Nhà nước và những người làm việc trong tất cả các thành phần kinh
tế cũng không phải chỉ dựa vào tiền công cá nhân mà còn dựa vào các quỹ phúc lợi
công cộng của nhà nước, của xí nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội khác. áp dụng
hình thức phân phối ngoài thù lao lao động, thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Đây
không phải là phân phối theo lao động nhưng cũng chưa phải là phân phối theo nhu
24

Đối với các quá trình cạnh tranh trong nội bộ ngành nhằm thu lợi nhuận siêu
ngạch các nhà sản xuất đã phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ tư bản,
nâng cao năng suất lao động nhằm làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá xí nghiệp
sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả của cạnh
tranh là hình thành lên giá trị xã hội của từng loại hàng hoá. Cạnh tranh giữa các
ngành sử dụng biện pháp tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác dẫn
đến hình thành dần tỉ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hoá chuyển thành giá
trị sản xuất.
- Cạnh tranh trong sản xuất là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong sản xuất.
Biện pháp : tăng năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật
Kết quả : hình thành nên giá thị trường từng loại hàng hoá.
i. Hậu quả do theo đuổi lợi nhuận gây ra
Việc sử dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật đòi hỏi quy mô sản
xuất và tư bản phải lớn. Vì vậy đặt ra yêu cầu phải tích tụ và tập trung sản xuất do
đó ra đời các xí nghiệp lớn. Do mục tiêu lợi nhuận dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt
làm cho tư bản loại vừa và nhỏ phá sản còn tư bản lớn thì càng mạnh hơn. Khi sự
tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ cao sẽ hình thành các tổ
chức độc quyền. Chủ nghĩa độc quyền càng phát triển thì lợi nhuận của độc quyền
ngày càng nhiều, nhưng hậu quả như lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng lại trút
xuống đầu giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mâu thuẫn giai cấp càng trở
nên sâu sắc.
Nếu đứng trên tầng vĩ mô ta thấy rằng vào cuối thế kỷ XIX các nước tư bản đã tích
luỹ được trọng lượng tương đối lớn “tư bản thừa” số này đầu tư trong nước thì lợi
nhuận thấp. Vì thế nó có nhu cầu xuất khẩu tư bản tới các nước lạc hậu về kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status