Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận - Pdf 27


LỜI NÓI ĐẦU

Sự phát triển của Việt Nam cũng như của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) khác
được đánh dấu bằng sự chuyển hướng trong tư tưởng,nhận thức của các Đảng va Nhà
Nước về Chủ Nghĩa Xã Hội(CNXH) và con đường đi lên CNXH.Ở Việt Nam,từ sau
những năm đổi mới đến nay mới chỉ có hơn 15 năm,đó thực sự chỉ là một khoảng thời
gian rất ngắn so với lịch sử phát triển của một dân tộc,một đất nước.
Tuy nhiên,trong 15 năm đó,Việt Nam đã có những sự thay đổi và phát triển vượt
bậc.Từ một nước nghèo đói va thiếu ăn quanh năm,luôn phải trông chờ vào các khoản
viện trợ,trợ giúp của các nước khác,Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng
thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan).Các nghành sản xuất Công-Nông Nghiệp và Dịch Vụ
đã đạt được những thành quả đáng kể,đời sống của nhân dân được cải thiện vv...Có được
sự phát triển đó,như trên đã nêu,chính là nhờ sự đổi mới trong nhận thức,tư duy về
CNXH và con đường
đi lên CNXH .Trong số những nhận thức đó,đặc biệt quan trọng,là sự đổi mới trong nhận
thức về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận nói chung cũng như sự đánh giá lại vai trò
của lợi nhuận trong công cuộc xây dựng CNXH nói riêng .Đảng và Nhà Nước ta đã
khẳng
định rằng chỉ dựa trên cơ sở có những hiểu biết đúng đắn về nguồn gốc,bản chất và vai
trò của lợi nhuận thì chúng ta mới có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển,sớm đưa Việt
Nam hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như xây dựng thành công
CNXH.
Vậy thì lợi nhuận là gì?Nguồn gốc,bản chất của lợi nhuận?Vai trò của lợi nhuận trong
việc phát triển nền kinh tế là như thế nào?Những câu hỏi nay không phải dến bây giờ
mới được đặt ra mà từ rất lâu rồi con người đã có nhiều những quan điểm khác nhau về
lợi nhuận.Từ những quan điểm của các trường phái lý luận trước Mác cho đến những

1
trường phái lý luận ngày nay,mỗi trường phái đều có những luận điểm,học thuyết của
mình để trả lời những câu hỏi đó.Trong số những quan điểm đó,học thuyết của Chủ

"các dân tộc chống đối nhau như những kẻ bủn xỉn,hai tay ôm khư khư túi tiền quí báu,
nhìn sang người láng giềng với con mắt ghen tỵ,đa nghi".
Do được hình thành trong một hoàn cảnh lịch sử như vậy cho nên toàn bộ học thuyết
của CNTT nói chung và quan điểm về lợi nhuận nói riêng đều được xây dựng trên cơ sở
đồng nhất giá trị với tiền bạc và lấy đối tượng nghiên cứu của Kinh Tế Chính Trị(KTCT)
là lĩnh vực lưu thông,coi KTCT "là khoa học về của cải thương mại mà nhiệm vụ của nó
là bán nhiều mua ít".Chính vì vậy,CNTT cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông,do
sự mua bán trao đổi mà sinh ra.Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều ,mua rẻ bán đắt
mà có.Họ cho rằng muốn có đượclợi nhuận thì không có cách nào khác ngoài việc trao
đổi buôn bán.
Về vai trò của lợi nhuận thì CNTT đã khẳng định rằng lợi nhuận luôn là mục tiêu của
mọi hoạt động trao đổi mua bán trên thị trường.Điều này được thể hiện qua việc một
quốc gia phải luôn đảm bảo xuất siêu như Thomas Mun đã viết:" Chúng ta phải thường
xuyên giữ vững nguyên tắc là hàng năm bán cho người nước ngoài với số lượng hàng
hoá lớn hơn số lượng chúng ta phải mua của họ".Còn đối với các thương nhân thì mục
tiêu của họ luôn là mua rẻ bán đắt nhằm thu được phần lợi nhuận chênh lệch.

3
Nhìn chung thì các quan điểm về lợi nhuận của CNTT,cũng như các quan điểm khác
của họ,chưa có được sự nhận thức,phân tích mang tính khoa học sâu sắc ,chưa mang tính
quy luật.Tuy nhiên,các quan điểm này cũng đóng vai trò khá quan trọng, làm tiền đề cho
các học thuyết kinh tế sau này. 2/Quan điểm của trường phái Tư Sản Cổ Điển về lợi nhuận:
Có thể nói rằng,trong giai đoạn trước Mác,trường phái Tư Sản Cổ Điển(TSCĐ) là
trường phái tiến bộ nhất.Đây cũng là một trong ba trường phái được Mác chọn làm tiền
đề lý luận cho học thuyết của mình.Sở dĩ trường phái TSCĐ được đánh giá cao như vậy
là do đây là trường phái đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu của KTCT từ lĩnh vực lưu
thông sang lĩnh vực sản xuất.Đó cũng là lần đầu tiên các nhà kinh tế học không dừng lại

người lao động,địa tô trả cho địa chủ và lợi nhuận trả cho nhà tư bản.Nói như vậy có
nghĩa là nếu như ta coi địa tô là khoản khấu trừ thứ nhất thì lợi nhuận chính là khoản
khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao động và chúng đều có chung một nguồn
gốc là lao động không dược trả công của người lao động.Xét về mặt lượng thì địa tô và
lợi nhuận chính là những khoản dôi ra ngoài tiền lương của người lao động còn xét về
mặt chất thì chúng phản ánh quan hệ bóc lột của tư bản và địa chủ đối với người lao
động.Ông chỉ rõ rằng " Khi sở hữu TBCN xuất hiện,người công nhân trở thành lao động
làm thuê thì tiền lương của họ không phải là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ
sản xuất ra nữa,mà chỉ là một bộ phận của giá trị đó".Ngoài ra,A.Smith cũng đã thấy
được xu hướng bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận và xu hướng tỷ suất lợi nhuận giảm sút
do khối lượng tư bản đầu tư tăng lên.
D.Ricardo đã kế thừa một cách xuất sắc những tư tưởng của A.Smith.Là người sống
trong thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp nên D.Ricardo đã có được những điều
kiện khách quan để tiếp tục phát triển học thuyết của A.Smith.Về lợi nhuận,D.Ricardo
cho rằng lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương mà nhà tư bản trả cho người công
nhân.Tiến bộ hơn A.Smith,Ricardo không những đã thấy được xu hướng giảm sút của tỷ
suất lợi nhuận bình quân mà còn giải thích được nguyên nhân của sự giảm sút là do sự
vận động , biến đổi của thu nhập giữa ba giai cấp địa chủ,công nhân và nhà tư bản.Ông

5
giải thích rằng do trong nông nghiệp có tồn tại quy luật màu mỡ của đất đai ngày càng
giảm,vì vậy,giá cả của nông phẩm sẽ ngày càng tăng lên làm cho tiền công của công
nhân và địa tô của địa chủ cũng tăng lên trong khi lợi nhuận của nhà tư bản thì không
tăng theo.Do vậy mà tỷ suất lợi nhuận sẽ ngày càng giảm xuống,gây thiệt hại cho nhà tư
bản.Tuy nhiên, đây chỉ là những luận giải được thiết lập trên cơ sở những quan sát bên
ngoài sự vật,hiện tượng chứ không hề mang tính khoa học.Chỉ đến khi Chủ Nghĩa Mác-
Lênin(CN M-L) xuất hiện,với việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả
biến,mới giải thích được đúng đắn quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm dần.
Trên đây,chúng ta đã xét tới một số trường phái lý luận trước Mác,các trường phái này
đều là các trường phái có những quan điểm tiến bộ ,về lợi nhuận nói riêng và về các

Trường phái Hậu Cổ Điển(HCĐ),mặc dù xuất hiện ngay sau trường phái TSCĐ nhưng
các nhà lý luận của trường phái HCĐ lại hoàn toàn xa rời những lý luận cuả trường phái
TSCĐ.Họ rời bỏ phương pháp trừu tượng hoá khoa học,không đi sâu vào phân tích bản
chất của sự vật,hiện tượng mà chỉ xem xét hời hợt bên ngoài.Đặc biệt là họ đã áp dụng
phương pháp tâm lý chủ quan trong phân tích kinh tế,"coi KTCT là khoa học nghiên cứu
về đạo đức xã hội".Hơn nữa,họ lại xa rời lý thuyết về giá trị lao động và đưa ra các lý
luận về giá trị ích lợi hay giá trị các nhân tố sản xuất vv...Ta có thể thấy được điều đó
qua các học thuyết của một số đại diện tiêu biểu cho trường phái này như R.Malthus và
J.B.Say.
Đối với Malthus,trên cơ sở quan điểm sai lầm của A.Smith về giá trị,ông đã phát triển
lên và cho rằng:"Giá trị của hàng hoá do lao động mà hàng hoá đó có thể mua được bằng
những chi phí để sản xuất ra nó.Các chi phí này bao gồm chi phí về lao động sống,chi
phí về lao động vật hoá cộng với lợi nhuận tư bản ứng trước".Như vậy là dựa trên quan
điểm sai lầm về giá trị,Malthus đã đưa ra quan niệm sai lầm về lợi nhuận,coi lợi
nhuận"là khoản dôi ra ngoài chi phí về lao động sống và lao động vật hoá".Với quan
niệm này về lợi nhuận
vô hình chung,Malthus đã dẫn tới một cách giải thích sai lầm về nguồn gốc của lợi
nhuận,cho rằng không chỉ sức lao động của người công nhân mà cả các công cụ lao động
và đối tượng lao động cũng tham gia vào quá trình hình thành lợi nhuận.

7
Còn theo J.B.Say,người ủng hộ quan điểm giá trị ích lợi,thì cho rằng ích lợi của vật
quyết định giá trị của nó,ích lợi càng cao thì giá trị của vật càng lớn,coi ích lợi là thước
đo của giá trị.Dựa trên cơ sở thuyết giá trị ích lợi,Say đã đưa ra lý thuyết về ba nhân tố
sản xuất.Ông cho rằng có ba nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất là lao động,đất đai
và tư bản,mỗi nhân tố có ích lợi riêng và tạo ra những phần giá trị tương ứng.Do vậy,Say
đã coi lợi nhuận như là phần giá trị của hàng hoá được tạo ra do ích lợi của tư bản,có
nghĩa là ,coi lợi nhuận như là hiệu suất đầu tư của tư bản.Luận điểm này tất yếu dẫn tới
việc cho rằng những máy móc tham gia vào quá trình sản xuất cũng tham gia vào quá
trình tạo ra giá trị chứ không phải chỉ riêng lao động của công nhân mới tạo ra giá

trọn vẹn.Sở dĩ như vậy là vì các quan điểm này được xây dựng trên cơ sở những luận
điểm,hoặc là chưa đúng đắn,chính xác hoặc là sai lầm hoàn toàn,về giá trị.Vì vậy mà
ngay cả những nhà tư tưởng tiến bộ nhất của trường phái TSCĐ cũng chưa thể xác định
được đầy đủ và chính xác về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận.Chỉ đến khi CN Mác
xuất hiện,trên cơ sở kế thừa và phát triển tiếp tục những quan điểm đúng đắn của các
trường phái trước đó,mới có thể giải thích một cách khoa học,chính xác và đầy đủ về
nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận. II/Quan điểm về lợi nhuận trong học thuyết của Mác:

Như trên đã phân tích,chỉ đến khi CN Mác xuất hiện thì nguồn gốc và bản chất của lợi
nhuận mới được làm sáng tỏ thông qua các học thuyết kinh tế của CN Mác.Dựa trên việc
kế thừa những tư tưởng tiến bộ,khoa học của các trường phái lý luận trước đó,Mác đã
sáng tạo ra học thuyết của mình mà trong đó,nổi bật và có vai trò như "một hòn đá tảng"
trong toàn bộ học thuyết chính là những lý luận về giá trị thặng dư(GTTD).Dựa cơ sở
đó,Mác đã phân tích và làm sáng tỏ nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận cũng như đã
giải thích được sự hình thành của tỷ suất lợi nhuận bình quân và bản chất của quy luật tỷ
suất lợi nhuận có xu hướng giảm dần.Ngoài ra,Mác cũng đã thấy được và phân tích một
cách khoa học sự phân chia của lợi nhuận thành các hình thức khác nhau như lợi nhuận
công nghiệp(LNCN),lợi nhuận thương nghiệp(LNTN),lợi tức cho vay(LTCV),lợi nhuận
ngân hàng(LNNH),địa tô(ĐT) và cuối cùng là lợi nhuận độc quyền(LNĐQ).

9
Sau đây,chúng ta sẽ lần lượt xem xét các vấn đề trên trong học thuyết của Mác. 1/Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận:
Để thấy được sự hình thành của lợi nhuận,trước tiên ta hãy xem xét về khái niệm mà
mác gọi là chi phí sản xuất(CPSX).

của toàn bộ lượng tư bản mà nhà tư bản đã ứng ra.Có nghĩa là,cả bộ phận tư bản bỏ vào
lao động (v) và bộ phận tư bản bỏ vào TLSX (c) đều có vai trò như nhau trong việc tạo
ra phần giá trị mới,như Mác đã viết:"Bộ phận tư bản bỏ vào lao động,khác với bộ phận
tư bản bỏ vào TLSX,vào bông hay than chẳng hạn,ở chỗ là nó được dùng để trả tiền cho
một yếu tố sản xuất khác về mặt vật chất,chứ hoàn toàn không phải là vì,do chức năng
của nó,nó đã đóng một vai trò khác trong quá trình sáng tạo ra giá trị của hàng hoá và do
đó trong quá trình làm cho tư bản tăng thêm giá trị".Như vậy là,với sự hình thành khái
niệm CPSX ,vô hình chung đã xoá đi sự khác nhau giữa tư bản bất biến(TBBB) và tư
bản khả biến(TBKB) trong chức năng sáng tạo ra giá trị.
Như vậy,phần giá trị mới,được tạo ra trong quá trình sản xuất,nếu coi là phần dôi ra
ngoài giá trị sức lao động do người công nhân tạo ra thì được gọi là GTTD còn nếu,vẫn
với lượng giá trị đó,mà được đem so sánh với toàn bộ tư bản ứng trước thì sẽ mang hình
thức chuyển hoá là lợi nhuận.Vậy,xét cho cùng,lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái
chuyển hoá của GTTD," một hình thái mà PTSX TBCN tất nhiên phải đẻ ra" nhằm che
đậy bản chất bóc lột của nó.
Nếu ký hiệu lợi nhuận là (p) thì công thức giá trị của hàng hoá trước là : gt=c+v+m
nay sẽ chuyển thành :gt=k+p,với k (=c+v) chính là CPSX để tạo ra hàng hoá.Từ công
thức này,ta có thể thấy rằng CPSX của một hàng hoá luôn nhỏ hơn giá trị thực tế của
hàng hoá đó một lượng đúng bằng phần GTTD được tạo ra.Như vậy,nếu hàng hoá được
bán đúng với giá trị của nó thì nhà tư bản sẽ thu về được một khoản lợi nhuận đúng bằng
phần GTTD (m) chứa đựng trong hàng hoá đó.Tuy nhiên,nhà tư bản cũng vẫn có thể bán
một hàng hoá nhất định nào đó với giá cả nhỏ hơn hoặc lớn hơn giá trị thực tế của
nó.Chừng nào mà giá bán vẫn còn cao hơn CPSX để sản xuất ra hàng hoá đó thì nhà tư

11
bản còn thu được lợi nhuận.Chính vì vậy đã làm cho lợi nhuận dường như là kết quả của
hoạt động kinh doanh, do tài nghệ kinh doanh của nhà tư bản tạo ra.Đây cũng chính là
nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và tồn tại của một số quan điểm sai lầm về lợi nhuận
mà ta đã nghiên cứu ở phần trên.


TLSX,nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá.Trong nền kinh tế TBCN,do chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN cho nên sự tồn tại tình
trạng cạnh tranh là tất yếu dưới hai dạng là cạnh tranh trong nội bộ nghành và cạnh tranh
giữa các nghành.Mỗi hình thức cạnh tranh sẽ đem lại một kết quả khác nhau.Với cạnh
tranh trong nội bộ nghành,kết quả cuối cùng là làm cho tỷ suất lợi nhuận của nghành
giảm xuống.Còn cạnh tranh giữa các nghành thì lại dẫn tới sự hình thành nên tỷ suất lợi
nhuận bình quân.Sở dĩ như vậy là do,như ta đã biết,mỗi nghành sản xuất có một tỷ suất
lợi nhuận riêng rất khác nhau,nó phụ thuộc vào cấu tạo hữu cơ của lượng tư bản đầu tư
vào các nghành đó.Do đó,luôn tồn tại những nghành mà ở đó có tỷ suất lợi nhuận cao
hơn các nghành khác mà tỷ suất lợi nhuận của một nghành phản ánh mức lãi đạt được
nếu đầu tư vào nghành đó.Chính vì vậy mà các nhà tư bản sẽ đua nhau rút tư bản ra khỏi
những nghành có tỷ suất lợi nhuận thấp để đầu tư vào những nghành có tỷ suất lợi nhuận
cao.Và kết quả của sự di chuyển tự do,liên tực này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận
bình quân.
Vậy "Tỷ suất lợi nhuận bình quân chính là tỷ số tính theo phần trăm giữa tổng giá trị
thặng dư trong xã hội tư bản và tổng tư bản xã hội đã đầu tư vào tất cả các lĩnh vực,các
nghành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ".Nếu ký hiệu tỷ suất lợi nhuận là p' thì ta có :
p'=
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân đã dẫn tới sự biến đổi từ giá trị hàng hoá
thành giá cả sản xuất.Giá cả sản xuất được định nghĩa "bằng chi phí sản xuất cộng với
lợi nhuận bình quân".Ta có : giá cả sản xuất = k + p .
Ta có thể thấy rằng,trước đây,khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả
xoay quanh giá trị của hàng hoá.Giờ đây,với việc hình thành khái niệm giá cả sản xuất
thì giá cả của hàng hoá lại xoay quanh giá cả sản xuất.Đã từng có một số nhà kinh tế học
tư sản,dựa vào sự thật là giá cả sản xuất trong một số nghành không phù hợp với giá trị

13
của hàng hoá trong các nghành đó,để hòng bác bỏ lý luận giá trị lao động của Mác.Tuy
nhiên,cần phải thấy rằng quy luật giá trị vẫn hoàn toàn đúng đắn trong giai
đoạnTBCN,giá trị vẫn đóng vai trò là cơ sở là nội dung bên trong của giá cả sản xuất.Nói

TBBB tăng lên tương đối so với TBKB,theo Mác giải thích, là do "...sự phát triển ngày
càng nhanh chóng của CNTB đã đem lại những phương pháp sản xuất mới cho phép vẫn
một số lượng công nhân như thế,vẫn một khối lượng sức lao động như thế do một khối
lượng tư bản khả biến nhất định thuê mướn, cùng trong một khoảng thời gian như thế,lại
sẽ vận động được một khối lượng tư liệu lao động,máy móc và các loại tư bản cố định
ngày càng lớn..." .Ta sẽ xem xét một ví dụ dưới đây để có thể thấy rõ hơn về lý luận trên
:
Giả sử có một lượng TBBB v=100 ; tỷ suất giá trị thặng dư m'=100%
do đó lượng GTTD tương ứng sẽ bằng m'*v = 100%*100=100
Sau đây,với sự tăng lên dần của TBBB (c),ta sẽ thấy rằng tỷ suất lợi nhuận (p') sẽ giảm
dần xuống.Ta có p'=m/(c+v) và nếu :
c=50 ,v=100 thì : p'=100/(50+100)=66,666%
c=200,v=100 thì : p'=100/(200+100)=33,333%
c=300,v=100 thì : p'=100/(300+100)=25%
c=400,v=100 thì : p'=100/(400+100)=20%
Như vậy là,với một lượng TBKB (v) và một trình độ bóc lột (m') không thay đổi thì sự
tăng lên dần của lượng TBKB (c) sẽ gây ra sự giảm dần của tỷ suất lợi nhuận p'.
Mặt khác,có thể nói rằng,nguyên nhân sâu xa của quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu
hướng giản dần chính là sự tăng dần của năng suất lao động xã hội(NSLĐXH).Với nền
đại công nghiệp của CNTB , NSLĐXH ngày càng được nâng cao.Điều đó cho phép một
số lượng ít hơn về lao động có thể vận động được một khối lượng máy móc ngày càng
nhiều hơn để biến một lượng,cũng ngày càng nhiều hơn,các TLLĐ thành sản phẩm hàng

15
hoá.Nói khác đi,trong cơ cấu giá trị của hàng hoá thì phần TBBB (c) ngày càng tăng
trong khi phần TBKB (v) thì ngày càng giảm.Và vì vậy,mặc dù trình độ bóc lột là không
giảm nhưng tỷ suất lợi nhuận vẫn ngày càng giảm.
Tuy nhiên,cần phải thấy rằng,như Mác đã khẳng định,sự đúng đắn của quy luật tỷ suất
lợi nhuận giảm dần không có nghĩa là lượng GTTD,hay chính là lượng lao động không
được trả công mà nhà tư bản chiếm đoạt của người công nhân,không tăng lên một cách

triển của LLSX và vì vậy,tất yếu tới một lúc nào đó,CNTB sẽ bị diệt vong và thay thế nó
sẽ là một xã hội khác tiến bộ hơn. 3/ Các hình thức biểu hiện của lợi nhuận:
Học thuyết kinh tế của Mác xét về hoàn cảnh ra đời đã có một số ưu thế thuận lợi hơn
các học thuyết kinh tế trước đó. Ra đời trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của CNTB vì
vậy học thuyết kinh tế của Mác không chỉ giải thích được nguồn gốc,bản chất của lợi
nhuận mà còn thấy được những hình thái biểu hiện khác của lợi nhuận. Sở dĩ như vậy là
do cùng với quá trình phát triển của mình,CNTB không ngừng tăng cường sự chuyên
môn hoá và hợp tác hoá trong xã hội. Do vậy, nếu trước kia trong xã hội chỉ tồn tại tư
bản trong lĩnh vực sản xuất Công nghiệp thì nay đã được phân chia ra cả các lĩnh vực
khác như Thương nghiệp, tín dụng và cả trong Nông nghiệp nữa . Trên cơ sở sự phân
chia đó của tư bản, học thuyết của Mác cũng đã chỉ ra được sự phân chia tương ứng của
lợi nhuận. Nếu trước đây, toàn bộ phần giá trị thặng dư bị nhà Tư bản Công nghiệp
chiếm đoạt hết thì nay phần giá trị thặng dư đó lại được chia cho các lĩnh vực khác nữa
và từ đó dẫn tới sự hình thành của lợi nhuận Thương nghiệp, lợi tức cho vay và địa tô Tư
bản Chủ nghĩa.
Tuy nhiên, mặc dù lợi nhuận Công nghiệp, lợi nhuận Thương nghiệp, lợi tức cho vay
và địa tô Tư bản Chủ nghĩa đều có cùng nguồn gốc là phần giá trị thặng dư do lao động
không công của người lao động tạo ra, đều là các hình thức biểu hiện khác nhau của lợi
nhuận nhưng mỗi một hình thức lại có một số đặc điểm riêng khác biệt với các hình thức
khác. Để thấy rõ được điều này,sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu, xem xét lần lượt từng
hình thức này.

17
a/ Lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận Thương nghiệp:
Trước tiên, xét trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa ta sẽ thấy tồn tại hai
dạng tư bản là tư bản Thương nghiệp và tư bản Công nghiệp và tương ứng với chúng là
hai hình thức lợi nhuận, lợi nhuận Thương nghiệp và lợi nhuận Công nghiệp . Không

Sở dĩ nhà tư bản Công nghiệp chịu nhường và phải nhường một phần của thặng dư mà
mình chiếm đoạt được hay một phần lợi nhuận của mình cho nhà tư bản Thương nghiệp
là do:
Thứ nhất, với việc hình thành bộ phận tư bản Thương nghiệp chuyên trách việc lưu
thông hàng hoá thì tư bản Công nghiệp đã thu được nhiều lợi nhuận hơn so với khi mà tư
bản Công nghiệp phải đảm nhiệm cả việc lưu thông hàng hoá. Ngay cả khi phải chia sẻ
một phần lợi nhuận cho tư bản Thương nghiệp thì phần lợi nhuận còn lại vẫn nhiều hơn
cho nên nhà tư bản có thể nhường một phần lợi nhuận nhằm duy trì bộ phận tư bản
Thương nghiệp.
Thứ hai là, như trên đã phân tích, nếu chỉ xét tư bản Thương nghiệp với vai trò thuần
tuý là thực hiện giá trị thì tư bản Thương nghiệp không hề tạo ra một chút giá trị nào, tức
là hoạt động đó sẽ không mang lại một chút lợi nhuận nào cho nhà tư bản Thương
nghiệp. Do vậy,nếu muốn tư bản Thương nghiệp tiếp tục đảm nhiệm việc tiêu thụ hàng
hóa, thực hiện gia trị thì nhà tư bản Công nghiệp buộc phải nhường một phần giá trị
thặng dư cho tư bản Thương nghiệp.
Ngoài ra,sự chuyên môn hoá này còn góp phần mở rộng qui mô tái sản xuất,mở rộng
thị trường, tạo điều kiện cho Công nghiệp phát triển. Hơn nữa, tuy không trực tiếp tạo ra
giá trị thặng dư nhưng tư bản Thương nghiệp lại góp phần làm tăng năng suất lao động,
tăng lợi nhuận và do đó, làm cho tỷ suất lợi nhuận chung của xã hội tăng.
Như vậy, khái quát lại thì lợi nhuận Thương nghiệp có nguồn gốc từ phần giá trị thặng
dư được tạo ra trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên lợi nhuận đó được thực hiện như thế
nào? Do tư bản Thương nghiệp chỉ tham gia vào quá trình lưu thông cho nên lợi nhuận
Thương nghiệp chính là phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá.Nhưng nói
thế không có nghĩa là nhà tư bản Thươnh nghiệp phải mua hàng hoá với đúng giá trị của
nó để rồi bán cao hơn giá trị nhằm thu lợi nhuận chênh lệch. Mà thực chất thì nhà Tư bản
Thương nghiệp

19
sẽ mua hàng hoá thấp hơn giá trị và bán đúng bằng giá trị của hàng hoá. Nguyên nhân
của hiện tượng này là do sự hình thành một tỉ suất lợi nhuận bình quân mới là bình quân

thêm một mức nữa quan hệ bóc lột TBCN.

b/ Lợi tức cho vay và lợi nhuận ngân hàng:
Như trên đã phân tích,tư bản Thương nghiệp là một bộ phận tư bản Công nghiệp tách
ra, phục vụ quá trình lưu thông hàng hoá của nhà tư bản Công nghiệp. Còn tư bản cho
vay, thực chất cũng là một bộ phận của tư bản Công nghiệp được tách ra nhưng là
để,một mặt vừa đáp ứng nhu cầu về tư bản,mặt khác là để thoả mãn sự thèm khát lợi
nhuận của nhà tư bản. Sau đây, ta sẽ tiến hành xem xét nguồn gốc hình thành của tư bản
cho vay để làm rõ thêm điều đó.
Trước hết, cần phải thấy rằng trong quá trình chu chuyển của tư bản, có nhiều lúc, nhà
tư bản Công nghiệp hoặc Thương nghiệp có một số tư bản tiền tệ nhàn rỗi, ví dụ như tiền
trong quỹ khấu hao tái sản cố định, tiền dùng để mua nguyên nhiên liệu, vật liệu nhưng
chưa tới kỳ mua.... Nếu nhà tư bản chỉ để tiền ở dạng nhàn rỗi, không hoạt động như vậy
thì lượng tiền đó sẽ không mang lại cho nhà tư bản một thu nhập nào.Mà đối với nhà tư
bản thì tiền phải đẻ ra tiền,bất cứ một đơn vị tư bản nào cũng phải mang lại lợi nhuận.
Do vậy mà nhà tư bản nẩy sinh ý định đem lượng tư bản nhàn rỗi đó cho người khác vay
để kiếm lời.
Mặt khác, cũng chính trong những thời gian đó, lại có những nhà tư bản lại đang rất
cần tiền, ví dụ như đang cần mua nguyên nhiên vật liệu để tiếp tục sản xuất nhưng lại
chưa bán được hàng hoá, cần tiền để đổi mới tài sản cố định nhưng quỹ khấu hao không
đủ... Do đó, những nhà tư bản này tất yếu có nhu cầu vay tư bản của người khác.
Như vậy là cùng một lúc vừa có những nhà tư bản có nhu cầu đi vay lại vừa có những
nhà tư bản có nhu cầu cho vay. Và tất yếu sẽ hình thành nên mối quan hệ tín dụng TBCN
và nhà tư bản Công nghiệp có tư bản nhàn rỗi sẽ trở thành nhà tư bản cho vay.
Vậy tư bản cho vay "là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó nhường cho một người
khác sử dụng trong một thời gian để nhận được một số lời nào đó". Đặc điểm nổi bật của
tư bản cho vay là nó không thuộc sở hữu của nhà tư bản sử dụng nó vào sản xuất. Có

21
nghĩa là khi nhà tư bản cho vay cho người khác vay một lượng tư bản tiền tệ là chỉ cho

Tỉ suất lợi tức phụ thuộc vào mối quan hệ cung cầu về tư bản cho vay.
Nói tóm lại,xuất phát từ việc nảy sinh mối quan hệ tín dụng TBCN cho nên đã nảy
sinh các nhu cầu cho vay và đi vay đã dẫn tới sự hình thành tư bản cho vay và lợi tức cho
vay. Tuy nhiên, quan hệ tín dụng TBCN ở thời kỳ này mới chỉ ở dạng đơn giản mang
tính trực tiếp, tức là nhà tư bản cho vay thiết lập trực tiếp mối quan hệ tín dụng với nhà
tư bản đi vay. Nhưng cùng với sự phát triển của CNTB thì nhu cầu đi vay và cho vay
ngày càng nhiều, các quan hệ tín dụng trong xã hội tư bản trở nên trồng chéo, phức tạp.
Do vậy đã đòi hỏi phải xuất hiện một tổ chức đóng vai trò trung gian để đơn giản hoá các
quan hệ tín dụng này. Đó chính là ngân hàng TBCN, là một tổ chức kinh doanh tư bản
tiền tệ, đóng vai trò môi giới giữa người đi vay và người cho vay. Ngân hàng thực hiện
chức năng môi giới này thông qua hai nghiệp vụ cơ bản của nó là nghiệp vụ cho vay và
nghiệp vụ nhận gửi. Với nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng thu hút tiền vốn vào quỹ của nó
bằng cách tập hợp các tư bản và thu nhập nhàn rỗi không hoat động. Còn với nghiệp vụ
cho vay, ngân hàng cho các nhà tư bản trực tiếp kinh doanh,tức là các nhà tư bản Công
nghiệp và tư bản Thương nghiệp vay tư bản tiền tệ để sử dụng hay nói khác đi nghiệp vụ
cho vay là nghiệp vụ phân phối và sử dụng những tư bản ngân hàng có được qua nghiệp
vụ nhận gửi.
Trong nghiệp vụ nhận gửi,để huy động được các nguồn tư bản nhàn rỗi, Ngân hàng trả
một khoản lợi tức nhận gửi cho các khoản gửi. Đồng thời, trong nghiệp vụ cho vay,
Ngân hàng lại thu một khoản lợi tức cho vay của những người đi vay.Và như mọi tổ
chức kinh doanh TBCN khác,mọi hoạt động của Ngân hàng cũng phải nhằm mục tiêu
đem lại lợi nhuận.Chính vì vậy, dựa trên việc quy định lợi tức nhận gửi nhỏ hơn lợi tức
cho vay, Ngân hàng đã thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của mình.Khoản lợi
nhuận này được gọi là lợi nhuận Ngân hàng,nó chính là khoản chênh lệch giữa lợi tức
cho vay và lợi tức nhận gửi sau khi đã trừ đi những khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ
Ngân hàng và cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ.Khác với lợi tức
vận động theo quy luật tỉ suất lợi tức giảm dần, lợi nhuận ngân hàng hoạt động theo quy

23
luật tỉ suât lợi nhuận bình quân giảm dần,có nghĩa là lợi nhuận ngân hàng ngang bằng

,được hình thành do lao động không công của những công nhân làm thuê trong Nông
nghiệp, sẽ được phân chia khác với trong lĩnh vực Công nghiệp trên cơ sơ đảm bảo lợi
nhuận cho không chỉ giai cấp tư sản Nông nghiệp mà còn cho cả giai cấp địa chủ,những
người mà thực chất là các nhà tư bản đã đầu tư vào ruộng đất. Điều đó có nghĩa là lượng
giá trị thặng dư mà giai cấp tư bản Nông nghiệp chiếm đoạt được sẽ phải không những
đủ để họ có thể thu được lợi nhuận bằng với lợi nhuận bình quân mà còn phải dư ra một
khoản để trả cho chủ ruộng đất mà nhà tư bản đã thuê. Khoản dư ra để trả cho ruộng đất
đó được gọi là địa tô Tư bản Chủ nghĩa.
Vậy địa tô Tư bản Chủ nghĩa “là một phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi
phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất”. Sở dĩ ở đây, phần lợi
nhuận mà nhà tư bản kinh doanh ruộng đất thu được phải bằng với lợi nhuận bình quân
vì nếu nhỏ hơn lợi nhuận bình quân thì các nhà tư bản sẽ rút tư bản ra khỏi lĩnh vực
Nông nghiệp dể đầu tư vào các lĩnh vực khác mang lại lợi nhuận nhiều hơn. Tuy nhiên
nếu lợi nhuận của nhà tư bản Nông nghiệp đã bằng lợi nhuận bình quân,mà như ta đã
biết thì tổng số lợi nhuận bao giờ cũng bằng tổng giá trị thặng dư. Như vậy thì giai cấp tư
sản kinh doanh trong Nông nghiệp đã kiếm đâu ra phần lợi nhuận siêu ngạch để trả cho
giai cấp địa chủ dưới hình thức địa tô Tư bản Chủ nghĩa. Để trả lời câu hỏi này ta sẽ phải
xem xét sự hình thành của địa tô Tư bản Chủ nghĩa để thấy được nguồn gốc, bản chất và
các hình thái của nó.
Trước tiên ta sẽ xem xét nguyên nhân tạo ra phần lợi nhuận siêu ngạch trong sản xuất
Nông nghiệp. Trong lĩnh vực Công nghiệp, lợi nhuận siêu ngạch được hiểu là phần lợi
nhuận chênh lệch so với lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản,có những điều kiện sản
xuất cá biệt tốt hơn điều kiện sản xuất trung bình của toàn xã hội, thu được.Phần lợi
nhuận siêu ngạch này chỉ mang tính tạm thời, cá biệt. Còn trong lĩnh vực Nông
nghiệp,lợi nhuận siêu ngạch cũng mang ý nghĩa tương tự, nó cũng là phần lợi nhuận
chênh lệch mà những nhà tư bản đầu tư vào những mảnh đất mầu mỡ hơn có thể thu
được. Tuy nhiên, khác với trong lĩnh vực Công nghiệp, phần lợi nhuận siêu ngạch trong
lĩnh vực Nông nghiệp mang tính ổn định, lâu dài và khá phổ biến. Sở dĩ như vậy là vì
trong Nông nghiệp, một tư liệu lao đông chủ yếu là đất đai lại có tính chất hạn chế,đại bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status