Luận văn
Nguồn gốc, bản chất và vai
trò của lợi nhuận trong nền
kinh tế thị trường
LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển của Việt Nam cũng như của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) khác
được đánh dấu bằng sự chuyển hướng trong tư tưởng,nhận thức của các Đảng va Nhà
Nước về Chủ Nghĩa Xã Hội(CNXH) và con đường đi lên CNXH.Ở Việt Nam,từ sau
những năm đổi mới đến nay mới chỉ có hơn 15 năm,đó thực sự chỉ là một khoảng thời
gian rất ngắn so với lịch sử phát triển của một dân tộc,một đất nước.
Tuy nhiên,trong 15 năm đó,Việt Nam đã có những sự thay đổi và phát triển vượt
bậc.Từ một nước nghèo đói va thiếu ăn quanh năm,luôn phải trông chờ vào các khoản
viện trợ,trợ giúp của các nước khác,Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng
thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan).Các nghành sản xuất Công-Nông Nghiệp và Dịch Vụ
đã đạt được những thành quả đáng kể,đời sống của nhân dân được cải thiện vv Có được
sự phát triển đó,như trên đã nêu,chính là nhờ sự đổi mới trong nhận thức,tư duy về
CNXH và con đường
đi lên CNXH .Trong số những nhận thức đó,đặc biệt quan trọng,là sự đổi mới trong nhận
thức về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận nói chung cũng như sự đánh giá lại vai trò
2
PHẦN I : Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận
I/ Quan điểm về lợi nhuận trong các học thuyết phi Mác-xít: 1/Quan điểm của trường phái Trọng Thương về lợi nhuận:
Về mặt hoàn cảnh lịch sử,Chủ Nghĩa Trọng Thương(CNTT) được ra đời vào thời kỳ
tích luỹ nguyên thuỷ của giai cấp tư bản.Ở giai đoạn này,vấn đề được quan tâm hàng đầu
và mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đó là tiền.Mọi cá nhân,mọi tổ chức,thậm chí là
mọi quốc gia đều tìm mọi cách để tích trữ thật nhiều tiền,như nhận xét của Engels sau
này thì
"các dân tộc chống đối nhau như những kẻ bủn xỉn,hai tay ôm khư khư túi tiền quí báu,
nhìn sang người láng giềng với con mắt ghen tỵ,đa nghi".
Do được hình thành trong một hoàn cảnh lịch sử như vậy cho nên toàn bộ học thuyết
của CNTT nói chung và quan điểm về lợi nhuận nói riêng đều được xây dựng trên cơ sở
đồng nhất giá trị với tiền bạc và lấy đối tượng nghiên cứu của Kinh Tế Chính Trị(KTCT)
là lĩnh vực lưu thông,coi KTCT "là khoa học về của cải thương mại mà nhiệm vụ của nó
là bán nhiều mua ít".Chính vì vậy,CNTT cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông,do
sự mua bán trao đổi mà sinh ra.Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều ,mua rẻ bán đắt
mà có.Họ cho rằng muốn có đượclợi nhuận thì không có cách nào khác ngoài việc trao
đổi buôn bán.
Về vai trò của lợi nhuận thì CNTT đã khẳng định rằng lợi nhuận luôn là mục tiêu của
mọi hoạt động trao đổi mua bán trên thị trường.Điều này được thể hiện qua việc một
quốc gia phải luôn đảm bảo xuất siêu như Thomas Mun đã viết:" Chúng ta phải thường
xuyên giữ vững nguyên tắc là hàng năm bán cho người nước ngoài với số lượng hàng
hoá lớn hơn số lượng chúng ta phải mua của họ".Còn đối với các thương nhân thì mục
tiêu của họ luôn là mua rẻ bán đắt nhằm thu được phần lợi nhuận chênh lệch.
cho rằng chỉ có lao động nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm thuần tuý tuy nhiên trường
4
phái Trọng Nông đã có một đóng góp quan trọng đó là bước đầu tìm ra nguồn gốc của
cái gọi là sản phẩm thuần tuý,xét về bản chất chính là GTTD.Ngoài ra,trong lý luận của
phái Trọng Nông,đã xuất hiện những mầm mống tư tưởng về lợi nhuận bình quân và xu
hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận.
Đến A.Smith,người được coi là đại biểu của trường phái TSCĐ trong thời kỳ công
trường
thủ công,thì đã có những bước tiến đáng kể về lý luận so với phái Trọng Nông.Ông
khẳng định rằng không chỉ lao động trong nông nghiệp mà tất cả mọi hình thức lao động
khác cũng đều tạo ra giá trị và lao động chính là thước đo của giá trị.Dựa trên quan điểm
đúng đắn về giá trị lao động,A.Smith đã đưa ra những lý luận của mình về lợi nhuận.Ông
cho rằng phần giá trị mà người lao động tạo ra được phân chia thành tiền lương trả cho
người lao động,địa tô trả cho địa chủ và lợi nhuận trả cho nhà tư bản.Nói như vậy có
nghĩa là nếu như ta coi địa tô là khoản khấu trừ thứ nhất thì lợi nhuận chính là khoản
khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao động và chúng đều có chung một nguồn
gốc là lao động không dược trả công của người lao động.Xét về mặt lượng thì địa tô và
lợi nhuận chính là những khoản dôi ra ngoài tiền lương của người lao động còn xét về
mặt chất thì chúng phản ánh quan hệ bóc lột của tư bản và địa chủ đối với người lao
động.Ông chỉ rõ rằng " Khi sở hữu TBCN xuất hiện,người công nhân trở thành lao động
làm thuê thì tiền lương của họ không phải là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ
sản xuất ra nữa,mà chỉ là một bộ phận của giá trị đó".Ngoài ra,A.Smith cũng đã thấy
được xu hướng bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận và xu hướng tỷ suất lợi nhuận giảm sút
do khối lượng tư bản đầu tư tăng lên.
D.Ricardo đã kế thừa một cách xuất sắc những tư tưởng của A.Smith.Là người sống
trong thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp nên D.Ricardo đã có được những điều
kiện khách quan để tiếp tục phát triển học thuyết của A.Smith.Về lợi nhuận,D.Ricardo
cho rằng lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương mà nhà tư bản trả cho người công
nhân.Tiến bộ hơn A.Smith,Ricardo không những đã thấy được xu hướng giảm sút của tỷ
thế PTSX TBCN bằng một PTSX tiến bộ hơn,PTSX XHCN ,thì sức ép lên giai cấp tư
sản ngày càng tăng.Chính vì vậy,trong giai đoạn này,các nhà lý luận của giai cấp tư bản
đã ra sức xuyên tạc,bẻ cong những lú luận đúng đắn trước kia và đưa ra những lý luận
6
sai lầm nhằm giải thích các hiện tượng xã hội kể trên với mục đích che dấu bản chất bóc
lột của CNTB.Do đó
các học thuyết hình thành trong thời kỳ này nói chung và các lý luận về lợi nhuận nói
riêng không còn mang tính khoa học nữa.Sau đây chúng ta sẽ xem xét một số trường
phái như vậy,trên cơ sở phân tích các lý luận về lợi nhuận để thấy rõ bản chất phi khoa
học của các học thuyết này. 3/Quan điểm về lợi nhuận của trường phái Hậu Cổ Điển:
Trường phái Hậu Cổ Điển(HCĐ),mặc dù xuất hiện ngay sau trường phái TSCĐ nhưng
các nhà lý luận của trường phái HCĐ lại hoàn toàn xa rời những lý luận cuả trường phái
TSCĐ.Họ rời bỏ phương pháp trừu tượng hoá khoa học,không đi sâu vào phân tích bản
chất của sự vật,hiện tượng mà chỉ xem xét hời hợt bên ngoài.Đặc biệt là họ đã áp dụng
phương pháp tâm lý chủ quan trong phân tích kinh tế,"coi KTCT là khoa học nghiên cứu
về đạo đức xã hội".Hơn nữa,họ lại xa rời lý thuyết về giá trị lao động và đưa ra các lý
luận về giá trị ích lợi hay giá trị các nhân tố sản xuất vv Ta có thể thấy được điều đó
qua các học thuyết của một số đại diện tiêu biểu cho trường phái này như R.Malthus và
J.B.Say.
Đối với Malthus,trên cơ sở quan điểm sai lầm của A.Smith về giá trị,ông đã phát triển
lên và cho rằng:"Giá trị của hàng hoá do lao động mà hàng hoá đó có thể mua được bằng
những chi phí để sản xuất ra nó.Các chi phí này bao gồm chi phí về lao động sống,chi
phí về lao động vật hoá cộng với lợi nhuận tư bản ứng trước".Như vậy là dựa trên quan
điểm sai lầm về giá trị,Malthus đã đưa ra quan niệm sai lầm về lợi nhuận,coi lợi
nhuận"là khoản dôi ra ngoài chi phí về lao động sống và lao động vật hoá".Với quan
niệm này về lợi nhuận
những quan điểm khác nhau về lợi nhuận.
Với J.B.Clark,ông đã phát triển lý thuyết 'ích lợi giới hạn' lên thành lý thuyết 'năng
suất giới hạn' và từ đó đưa ra lý thuyết 'năng lực chịu trách nhiệm' của các nhân tố sản
xuất.Ông cho rằng thu nhập là năng lực chịu trách của các nhân tố sản xuất,cụ thể là,tiền
lương là năng lực chịu trách nhiệm của lao động,địa tô là năng lực chịu trách nhiệm của
8
đất đai còn lợi nhuận là năng lực chịu trách nhiệm của tư bản.Nói như vậy có nghĩa là lợi
nhuận,thực chất,được coi là tiền lương trả cho nhà sản xuất-kinh doanh.Hoặc như Alfred
Marshall thì lại coi lợi nhuận như là khoản tiền thù lao thuần túy cho năng khiếu quản lý
kinh doanh,sử dụng tư bản và năng lực tổ chức hoạt động sản xuất.
Nhìn chung,các quan điểm về lợi nhuận của một số trường phái phi Mácxit kể
trên,mặc dù có một số trường phái có những quan điểm tiến bộ,đặc biệt là các trường
phái trước Mác, nhưng chúng vẫn chưa thể có được tính chính xác và khoa học một cách
trọn vẹn.Sở dĩ như vậy là vì các quan điểm này được xây dựng trên cơ sở những luận
điểm,hoặc là chưa đúng đắn,chính xác hoặc là sai lầm hoàn toàn,về giá trị.Vì vậy mà
ngay cả những nhà tư tưởng tiến bộ nhất của trường phái TSCĐ cũng chưa thể xác định
được đầy đủ và chính xác về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận.Chỉ đến khi CN Mác
xuất hiện,trên cơ sở kế thừa và phát triển tiếp tục những quan điểm đúng đắn của các
trường phái trước đó,mới có thể giải thích một cách khoa học,chính xác và đầy đủ về
nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận. II/Quan điểm về lợi nhuận trong học thuyết của Mác:
Như trên đã phân tích,chỉ đến khi CN Mác xuất hiện thì nguồn gốc và bản chất của lợi
nhuận mới được làm sáng tỏ thông qua các học thuyết kinh tế của CN Mác.Dựa trên việc
kế thừa những tư tưởng tiến bộ,khoa học của các trường phái lý luận trước đó,Mác đã
sáng tạo ra học thuyết của mình mà trong đó,nổi bật và có vai trò như "một hòn đá tảng"
trong toàn bộ học thuyết chính là những lý luận về giá trị thặng dư(GTTD).Dựa cơ sở
nhuận.Có thể thấy rõ được điều này qua việc nghiên cứu những phân tích của Mác về
công thức của CFSX trên.
Trước tiên,ta hãy xen lại định nghĩa của Mác về GTTD.Theo Mác thì "giá trị thặng dư
là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm
không".Như vậy,theo Mác thì GTTD chính là phần lao động không được trả công của
người công nhân mà nhà tư bản đã chiếm đoạt,điều đó có nghĩa là GTTD (hay chính là
10
phần giá trị mới) dược tạo ra bởi lao động của người công nhân.Nói cách khác,chính lao
động của người công nhân và chỉ duy nhất một mình nó là tạo ra GTTD.Lý luận về
GTTD của Mác đã vạch trần bản chất bóc lột của CNTB,chỉ rõ nguồn gốc sự giàu có của
CNTB nói chung và của nhà tư bản nói riêng chính là nhờ chiếm đoạt GTTD.
Tuy nhiên,với sự hình thành khái niệm CPSX (k=c+v) thì nguồn gốc và bản chất bóc
lột của GTTD đã bị che lấp.Ở đây,dường như phần giá trị mới được tạo ra là do tác động
của toàn bộ lượng tư bản mà nhà tư bản đã ứng ra.Có nghĩa là,cả bộ phận tư bản bỏ vào
lao động (v) và bộ phận tư bản bỏ vào TLSX (c) đều có vai trò như nhau trong việc tạo
ra phần giá trị mới,như Mác đã viết:"Bộ phận tư bản bỏ vào lao động,khác với bộ phận
tư bản bỏ vào TLSX,vào bông hay than chẳng hạn,ở chỗ là nó được dùng để trả tiền cho
một yếu tố sản xuất khác về mặt vật chất,chứ hoàn toàn không phải là vì,do chức năng
của nó,nó đã đóng một vai trò khác trong quá trình sáng tạo ra giá trị của hàng hoá và do
đó trong quá trình làm cho tư bản tăng thêm giá trị".Như vậy là,với sự hình thành khái
niệm CPSX ,vô hình chung đã xoá đi sự khác nhau giữa tư bản bất biến(TBBB) và tư
bản khả biến(TBKB) trong chức năng sáng tạo ra giá trị.
Như vậy,phần giá trị mới,được tạo ra trong quá trình sản xuất,nếu coi là phần dôi ra
ngoài giá trị sức lao động do người công nhân tạo ra thì được gọi là GTTD còn nếu,vẫn
với lượng giá trị đó,mà được đem so sánh với toàn bộ tư bản ứng trước thì sẽ mang hình
thức chuyển hoá là lợi nhuận.Vậy,xét cho cùng,lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái
chuyển hoá của GTTD," một hình thái mà PTSX TBCN tất nhiên phải đẻ ra" nhằm che
đậy bản chất bóc lột của nó.
Nếu ký hiệu lợi nhuận là (p) thì công thức giá trị của hàng hoá trước là : gt=c+v+m
Với sự xuất hiện khái niệm tỷ suất lợi nhuận,ta có thể thấy rằng,một lần nữa bản chất
bóc lột của CNTB lạiđược che dấu đi.Nếu như tỷ suất GTTD (m') đã phản ánh được sự
bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê,là thước đo trình độ bóc lột của giai
cấp tư sản thì tỷ suất lợi nhuận,đơn thuần,chỉ phản ánh mức lãi của việc đầu tư tư bản,nó
chỉ cho nhà tư bản biết nên đầu tư vào đâu thì có lợi hơn.
Trên đây,chúng ta đã nghiên cứu,xem xét về sự hình thành của tỷ suất lợi nhuận cũng
như vai trò của nó trong phản ánh mức lãi của hoạt động đầu tư.Tuy nhiên,tỷ suất lợi
nhuận chỉ phản ánh trong phạm vi một nghành sản xuất,mỗi nghành có một tỷ suất lợi
12
nhuận riêng.Còn trong nền kinh tế TBCN với sự đa dạng về nghành nghề thì tất yếu dẫn
tới sự hình thành khái niệm tỷ suất lợi nhuận bình quân.Sở dĩ hình thành khái niệm này
là do trong nền kinh tế TBCN luôn tồn tại sự cạnh tranh,đó là hình thức đấu tranh gay
gắt giữa những người sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ sở hữu khác nhauvề
TLSX,nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá.Trong nền kinh tế TBCN,do chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN cho nên sự tồn tại tình
trạng cạnh tranh là tất yếu dưới hai dạng là cạnh tranh trong nội bộ nghành và cạnh tranh
giữa các nghành.Mỗi hình thức cạnh tranh sẽ đem lại một kết quả khác nhau.Với cạnh
tranh trong nội bộ nghành,kết quả cuối cùng là làm cho tỷ suất lợi nhuận của nghành
giảm xuống.Còn cạnh tranh giữa các nghành thì lại dẫn tới sự hình thành nên tỷ suất lợi
nhuận bình quân.Sở dĩ như vậy là do,như ta đã biết,mỗi nghành sản xuất có một tỷ suất
lợi nhuận riêng rất khác nhau,nó phụ thuộc vào cấu tạo hữu cơ của lượng tư bản đầu tư
vào các nghành đó.Do đó,luôn tồn tại những nghành mà ở đó có tỷ suất lợi nhuận cao
hơn các nghành khác mà tỷ suất lợi nhuận của một nghành phản ánh mức lãi đạt được
nếu đầu tư vào nghành đó.Chính vì vậy mà các nhà tư bản sẽ đua nhau rút tư bản ra khỏi
những nghành có tỷ suất lợi nhuận thấp để đầu tư vào những nghành có tỷ suất lợi nhuận
cao.Và kết quả của sự di chuyển tự do,liên tực này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận
bình quân.
Vậy "Tỷ suất lợi nhuận bình quân chính là tỷ số tính theo phần trăm giữa tổng giá trị
thặng dư trong xã hội tư bản và tổng tư bản xã hội đã đầu tư vào tất cả các lĩnh vực,các
chất của lợi nhuận cũng như các khái niệm khác liên quan tới lợi nhuận,đặc biệt là những
khái niệm về tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất.Điều này thể hiện sự tiến bộ
vượt trội của học thuyết kinh tế của Mác so với các học thuyết kinh tế khác.Hơn thế nữa,
không chỉ lý giải về sự hình thành của tỷ suất lợi nhuận bình quân mà Mác còn giải thích
và chứng minh một cách đúng đắn và khoa học về quy luật tỷ suất lợi nhuận giảm
dần.Một quy luật mà mặc dù một số nhà lý luận của trường phái TSCĐ như A.Smith hay
D.Ricardo tuy đã nhận thức được về sự hiện diện của quy luật này nhưng vẫn chưa thể
giải thích được nó một cách đúng đắn và khoa học.
14
Mác đã chứng minh rằng sự tồn tại của quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm
dần là do sự tăng lên của TBBB so với tổng tư bản đã dẫn tới sự giảm sút một cách
tương đối của TBKB so với tổng tư bản.Kết quả là TBBB sẽ tăng lên một cách tương đối
so với TBKB và do đó làm cho tỷ suất lợi nhuận cũng giảm dần.Sở dĩ có hiện tượng
TBBB tăng lên tương đối so với TBKB,theo Mác giải thích, là do " sự phát triển ngày
càng nhanh chóng của CNTB đã đem lại những phương pháp sản xuất mới cho phép vẫn
một số lượng công nhân như thế,vẫn một khối lượng sức lao động như thế do một khối
lượng tư bản khả biến nhất định thuê mướn, cùng trong một khoảng thời gian như thế,lại
sẽ vận động được một khối lượng tư liệu lao động,máy móc và các loại tư bản cố định
ngày càng lớn " .Ta sẽ xem xét một ví dụ dưới đây để có thể thấy rõ hơn về lý luận trên
:
Giả sử có một lượng TBBB v=100 ; tỷ suất giá trị thặng dư m'=100%
do đó lượng GTTD tương ứng sẽ bằng m'*v = 100%*100=100
Sau đây,với sự tăng lên dần của TBBB (c),ta sẽ thấy rằng tỷ suất lợi nhuận (p') sẽ giảm
dần xuống.Ta có p'=m/(c+v) và nếu :
c=50 ,v=100 thì : p'=100/(50+100)=66,666%
c=200,v=100 thì : p'=100/(200+100)=33,333%
c=300,v=100 thì : p'=100/(300+100)=25%
c=400,v=100 thì : p'=100/(400+100)=20%
Như vậy là,với một lượng TBKB (v) và một trình độ bóc lột (m') không thay đổi thì sự
các nguyên nhân dẫn tới các cuộc khủng hoảng thừa,loại khủng hoảng đặc trưng của
CNTB.
Nói tóm lại,có thể thấy rằng,quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm dần không
chỉ đơn thuần phản ánh xu hướng giảm dần của tỷ suất lợi nhuận trong xã hội tư bản mà
nó còn làm cho những mâu thuẫn nội tại của CNTB ngày càng trở nên sâu sắc và từ
đó,chỉ ra các hạn chế mang tính chất lịch sử của PTSX TBCN .Vì vậy,việc giải thích một
cách khoa học sự hình thành cũng như các tác động của quy luật tỷ suất lợi nhuận giảm
16
dần trong xã hội tư bản đã làm cho học thuyết kinh tế của Mác nói riêng và toàn bộ hệ
thống lý luận của Mác nói chung tăng thêm tính khoa học và phù hợp với thời đại.Những
lý luận này góp phần làm sáng tỏ những hạn chế mang tính lịch sử của CNTB.Nó chỉ ra
rằng tới một lúc nào đó thì những mâu thuẫn nội tại của CNTB cũng như những hạn chế
lịch sử của nó sẽ làm cho PTSX TBCN trở thành một trở ngại ngăn cản,kìm hãm sự phát
triển của LLSX và vì vậy,tất yếu tới một lúc nào đó,CNTB sẽ bị diệt vong và thay thế nó
sẽ là một xã hội khác tiến bộ hơn. 3/ Các hình thức biểu hiện của lợi nhuận:
Học thuyết kinh tế của Mác xét về hoàn cảnh ra đời đã có một số ưu thế thuận lợi hơn
các học thuyết kinh tế trước đó. Ra đời trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của CNTB vì
vậy học thuyết kinh tế của Mác không chỉ giải thích được nguồn gốc,bản chất của lợi
nhuận mà còn thấy được những hình thái biểu hiện khác của lợi nhuận. Sở dĩ như vậy là
do cùng với quá trình phát triển của mình,CNTB không ngừng tăng cường sự chuyên
môn hoá và hợp tác hoá trong xã hội. Do vậy, nếu trước kia trong xã hội chỉ tồn tại tư
bản trong lĩnh vực sản xuất Công nghiệp thì nay đã được phân chia ra cả các lĩnh vực
khác như Thương nghiệp, tín dụng và cả trong Nông nghiệp nữa . Trên cơ sở sự phân
chia đó của tư bản, học thuyết của Mác cũng đã chỉ ra được sự phân chia tương ứng của
lợi nhuận. Nếu trước đây, toàn bộ phần giá trị thặng dư bị nhà Tư bản Công nghiệp
chiếm đoạt hết thì nay phần giá trị thặng dư đó lại được chia cho các lĩnh vực khác nữa
của tư bản Thương nghiệp thì cả tư bản Công nghiệp và tư bản Thương nghiệp đều thu
được những lợi ích mà được thể hiện ra là lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận Thương
nghiệp. Đối với tư bản Thương nghiệp, mặc dù chỉ tham gia vào lĩnh vực lưu thông, tức
là chỉ tham gia vào việc thực hiện giá trị, trong đó có giá trị thặng dư, chứ không hề tham
gia vào quá trình sản xuất ra giá trị nhưng vẫn thu được một phần lợi nhuận. Phần lợi
nhuận này được gọi là lợi nhuận Thương nghiệp. Nếu chỉ xét tới vai trò của tư bản
Thương nghiệp là thực hiện giá trị của hàng hoá mà tạm thời bỏ qua chức năng tiếp tục
quá trình sản xuất trong lĩnh vực lưu thông của nó thì đúng là tư bản Thương nghiệp
không hề tạo ra giá trị và giá trị thặng dư do vậy nhìn bề ngoài có thể lầm tưởng lợi
nhuận Thương nghiệp là do mua rẻ, bán đắt mà có . Tuy nhiên,lợi nhuận Thương nghiệp
18
thực chất, “là một phần giá trị trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà
nhà tư bản Công nghiệp nhường cho nhà tư bản Thương nghiệp”.
Sở dĩ nhà tư bản Công nghiệp chịu nhường và phải nhường một phần của thặng dư mà
mình chiếm đoạt được hay một phần lợi nhuận của mình cho nhà tư bản Thương nghiệp
là do:
Thứ nhất, với việc hình thành bộ phận tư bản Thương nghiệp chuyên trách việc lưu
thông hàng hoá thì tư bản Công nghiệp đã thu được nhiều lợi nhuận hơn so với khi mà tư
bản Công nghiệp phải đảm nhiệm cả việc lưu thông hàng hoá. Ngay cả khi phải chia sẻ
một phần lợi nhuận cho tư bản Thương nghiệp thì phần lợi nhuận còn lại vẫn nhiều hơn
cho nên nhà tư bản có thể nhường một phần lợi nhuận nhằm duy trì bộ phận tư bản
Thương nghiệp.
Thứ hai là, như trên đã phân tích, nếu chỉ xét tư bản Thương nghiệp với vai trò thuần
tuý là thực hiện giá trị thì tư bản Thương nghiệp không hề tạo ra một chút giá trị nào, tức
là hoạt động đó sẽ không mang lại một chút lợi nhuận nào cho nhà tư bản Thương
nghiệp. Do vậy,nếu muốn tư bản Thương nghiệp tiếp tục đảm nhiệm việc tiêu thụ hàng
hóa, thực hiện gia trị thì nhà tư bản Công nghiệp buộc phải nhường một phần giá trị
thặng dư cho tư bản Thương nghiệp.
Ngoài ra,sự chuyên môn hoá này còn góp phần mở rộng qui mô tái sản xuất,mở rộng
Thương nghiệp tương ứng sẽ bằng:
LnCN = 800 * 10% = 80
LnTN = 200 * 10% = 20
Khi đó nhà tư bản Thương nghiệp sẽ mua hàng hoá từ nhà tư bản Công nghiệp với giá
thấp hơn giá trị:
800 + 80 = 880 (<900)
và sẽ bán với giá đúng bằng giá trị và thu được lợi nhuận Thương nghiệp:
880 + 20 = 900
Như vậy là, với sự hình thành tỉ suất lợi nhuận chung giữa hai ngành Công nghiệp và
Thương nghiệp thì lợi nhuận Thương nghiệp đã được thực hiện. Với sự xuất hiện của lợi
20
nhuận Thương nghiệp trong xã hội tư bản,đã hình thành nên hai loại giá cả sản xuất là
giá cả sản xuất Công nghiệp và giá cả sản xuất thị trường. Nó cũng góp phần che dấu
thêm một mức nữa quan hệ bóc lột TBCN.
b/ Lợi tức cho vay và lợi nhuận ngân hàng:
Như trên đã phân tích,tư bản Thương nghiệp là một bộ phận tư bản Công nghiệp tách
ra, phục vụ quá trình lưu thông hàng hoá của nhà tư bản Công nghiệp. Còn tư bản cho
vay, thực chất cũng là một bộ phận của tư bản Công nghiệp được tách ra nhưng là
để,một mặt vừa đáp ứng nhu cầu về tư bản,mặt khác là để thoả mãn sự thèm khát lợi
nhuận của nhà tư bản. Sau đây, ta sẽ tiến hành xem xét nguồn gốc hình thành của tư bản
cho vay để làm rõ thêm điều đó.
Trước hết, cần phải thấy rằng trong quá trình chu chuyển của tư bản, có nhiều lúc, nhà
tư bản Công nghiệp hoặc Thương nghiệp có một số tư bản tiền tệ nhàn rỗi, ví dụ như tiền
trong quỹ khấu hao tái sản cố định, tiền dùng để mua nguyên nhiên liệu, vật liệu nhưng
chưa tới kỳ mua Nếu nhà tư bản chỉ để tiền ở dạng nhàn rỗi, không hoạt động như vậy
thì lượng tiền đó sẽ không mang lại cho nhà tư bản một thu nhập nào.Mà đối với nhà tư
bản thì tiền phải đẻ ra tiền,bất cứ một đơn vị tư bản nào cũng phải mang lại lợi nhuận.
Do vậy mà nhà tư bản nẩy sinh ý định đem lượng tư bản nhàn rỗi đó cho người khác vay
thành lợi tức cho vay là khoản đem trả cho nhà tư bản cho vay, phần còn lại sau khi trả
lợi tức được gọi là thu nhập của chủ xí nghiệp. Lượng lợi tức đem trả nhiều hay ít tuỳ
theo quan hệ cung cầu về tư bản cho vay và nó phụ thuộc vào tỉ suất lợi tức, là tỉ lệ phần
trăm giữa tổng số lợi tức và tổng số tư bản tiền tệ cho vay.
Nếu kí hiệu lợi tức là Z còn tỉ suất lợi tức là Z’ thì ta có:
Z’ = ( Z/tư bản cho vay) * 100%
Phần lợi tức cao hay thấp là do tỉ suất lợi tức quy định,đến lượt nó thì tỉ suất lợi tức lại
bị quy định bởi các yếu tố:
Giới hạn cao nhất của tỉ suất lợi tức chính là tỉ suất lợi nhuận bình quân do vậy mà sự
thay đổi của tỉ suất lợi nhuận bình quân cũng dẫn tới sự thay đổi thuận chiều tương ứng
22
của tỉ suất lợi tức. Cũng chính vì vậy cho nên,vì tồn tại quy luật giảm dần của tỉ suất lợi
nhuận do đó tỷ suất lợi tức cũng có xu hướng giảm dần.
Tỉ suất lợi tức phụ thuộc vào mối quan hệ cung cầu về tư bản cho vay.
Nói tóm lại,xuất phát từ việc nảy sinh mối quan hệ tín dụng TBCN cho nên đã nảy
sinh các nhu cầu cho vay và đi vay đã dẫn tới sự hình thành tư bản cho vay và lợi tức cho
vay. Tuy nhiên, quan hệ tín dụng TBCN ở thời kỳ này mới chỉ ở dạng đơn giản mang
tính trực tiếp, tức là nhà tư bản cho vay thiết lập trực tiếp mối quan hệ tín dụng với nhà
tư bản đi vay. Nhưng cùng với sự phát triển của CNTB thì nhu cầu đi vay và cho vay
ngày càng nhiều, các quan hệ tín dụng trong xã hội tư bản trở nên trồng chéo, phức tạp.
Do vậy đã đòi hỏi phải xuất hiện một tổ chức đóng vai trò trung gian để đơn giản hoá các
quan hệ tín dụng này. Đó chính là ngân hàng TBCN, là một tổ chức kinh doanh tư bản
tiền tệ, đóng vai trò môi giới giữa người đi vay và người cho vay. Ngân hàng thực hiện
chức năng môi giới này thông qua hai nghiệp vụ cơ bản của nó là nghiệp vụ cho vay và
nghiệp vụ nhận gửi. Với nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng thu hút tiền vốn vào quỹ của nó
bằng cách tập hợp các tư bản và thu nhập nhàn rỗi không hoat động. Còn với nghiệp vụ
cho vay, ngân hàng cho các nhà tư bản trực tiếp kinh doanh,tức là các nhà tư bản Công
nghiệp và tư bản Thương nghiệp vay tư bản tiền tệ để sử dụng hay nói khác đi nghiệp vụ
cho vay là nghiệp vụ phân phối và sử dụng những tư bản ngân hàng có được qua nghiệp
Cách thứ hai là,ngay từ đầu, thông qua con đường Cách mạng Tư sản lật đổ chế độ
kinh tế phong kiến cũ; giải phóng lực lượng sản xuất thoát khỏi xiềng xích nông nô. Trên
cơ sở đã xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lập QHSX TBCN trong Nông nghiệp
từ đó phát triển nhanh chóng Nông nghiệp theo con đường các ấp trại TBCN.
Như vậy, dù sự xâm nhập của PTSX TBCN vào Nông nghiệp được thực hiện theo
cách nào đi chăng nữa thì hậu quả của sự xâm nhập này vẫn là hình thành nên trong nền
Nông nghiệp TBCN ba giai cấp chủ yếu là giai cấp địa chủ,giai cấp tư bản Nông nghiệp
và giai cấp công nhân Nông nghiệp. Nhưng cần phải thấy rằng giai cấp địa chủ lúc này
không phải là những địa chủ xuất thân từ tầng lớp quí tộc, tăng lữ như trong giai đoạn
phong kiến mà địa chủ lúc này, thực chất là những nhà tư sản,đã đầu tư tư bảnđể nhằm
thu gom,thao túng ruộng đất, gây ra tình trạng'lũng đoạn quyền tư hữu ruộng đất'.
24