Mở đầu
Lịch sử loài ngời đã và đang trải qua năm hình thái kinh tế xã hội đó là:
Cộng sản nguyên thuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Chủ nghĩa t bản (CNTB),
Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Mỗi một hình thái kinh tế xã hội tồn tại trên một ph-
ơng thức sản xuất đặc trng riêng, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất. Học thuyết kinh tế chính trị của Mác - Lê Nin khẳng định:
nếu đúng theo nguyên lý về hình thái kinh tế xã hội thì tất cả các quốc gia muốn
phát triển từ phơng thức sản xuất này sang phơng thức sản xuất khác cao hơn thì
tất yếu phải qua một bớc trung gian mà Mác gọi đó là thời kỳ quá độ. Trong
thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu phải trải qua những bớc trung gian để tạo lập
cơ sở vật chất kỹ thuật. Trong những bớc trung gian đó chủ nghĩa t bản nhà nớc
(CNTBNN) đợc coi nh một chiếc cầu nhỏ bắc giữa xã hội cũ tới xã hội chủ
nghĩa (XHCN) và chủ nghĩa t bản độc quyền nhà nớc là sự chuẩn bị vật chất
đầy đủ nhất cho CNXH, là phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử mà
giữa nó với nấc thang đợc gọi là CNXH thì không có một nấc thang nào ở giữa
cả.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, để xây dựng và tạo lập cơ
sở vật chất kỹ thuật thì chúng ta phải có những giải pháp để khai thác triệt để vai
trò của mọi thành phần kinh tế tồn tại trong thời kỳ quá độ, trong đó có thành
phần kinh tế TBNN. Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận của Lê nin về CNTB nhà n-
ớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH, để vận dụng nó vào việc phát triển kinh tế
đất nớc là vô cùng hợp lý.
1
Nội dung
I. Lý luận của Lê nin về CNTB nhà nớc trong thời kỳ quá độ
lên CNXH và thực tiễn CNTBnn thời Lê nin.
1. Lý luận về sự hình thành và phát triển của CNTB nhà nớc của Lê
nin.
1.1. Khái niệm về CNTB nhà nớc.
Dới chế độ TBCN, TBNN đợc thực hiện bằng cách chuyển các xí nghiệp cá
biệt vào trong tay nhà nớc t sản, xây dựng các xí nghiệp mới dựa vào ngân sách
a phải là nhà nớc do giai cấp vô sản lãnh đạo nhng cũng không thuộc về giai cấp
t sản độc quyền, mà thuộc về giai cấp t sản dân tộc. Vì thế, không thể tránh khỏi
những tiêu cực vốn có của bất kỳ nhà nớc t sản nào. Nhng mặt khác, kiểu
CNTBNN này có vai trò tích cực trong việc phát triển kỹ thuật và cải tạo cơ cấu
kinh tế, trong việc củng cố nền độc lập về kinh tế, chống lại thế lực t bản nớc
ngoài, đẩy mạnh sự phát triển tự chủ vì nền độc lập của những nớc đó.
CNTBNN trong điều kiện chuyên chính vô sản là một kiểu CNTBNN cha
hề có trong lịch sử. Chính bản chất mới của nhà nớc này đã làm cho CNTBNN
mang một nội dung mới và có một vai trò mới.
Từ sự phân tích sơ lợc về lịch sử hình thành và các kiểu CNTBNN đã từng
tồn tại trong thực tế đến nay, có thể rút ra một khái niệm chung về CNTBNN
cho dù chúng tồn tại trong điêù kiện lịch sử khác nhau nh thế nào.
Theo quan niệm của Lê nin thì:
CNTBNN là CNTB do nhà nớc kiểm soát và điều tiết sự phát triển, vấn đề
khác nhau chỉ là chỗ kiểm soát và điều tiết nhằm mục đích gì, có lợi cho ai,
trong giới hạn nào, bằng phơng pháp gì và khả năng kiểm soát, điều tiết đạt
mức độ nào.
CNTBNN là chính quyền nhà nớc trực tiếp khống chế những xí nghiệp
TBCN. Sự khống chế trực tiếp ấy đạt tới mức độ nào trong thực tế sẽ quyết
định trình độ và hình thức khác nhau của CNTBNN.
Toàn bộ vấn đề là phải hiểu rõ với điều kiện nào thì phải phát triển CNTB và
nhà nớc là của ai. Cũng từ đây mà hiểu đợc tính chất đặc biệt, không
3
thông thờng của CNTBNN trong điều kiện chính quyền nằm trong tay nhân
dân dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
1.2. CNTBNN trong hệ thống chính sách kinh tế mới của Lê nin.
1.2.1. Chính sách cộng sản thời chiến và sự tất yếu phải chuyển sang
chính sách kinh tế mới (NEP).
Khi cách mạng Tháng Mời vừa thành công thì chính quyền Xô viết phải đ-
ơng đầu với cuộc nội chiến và cuộc can thiệp vũ trang của cả chủ nghĩa đế quốc
kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân thông qua việc sử dụng rộng rãi
quan hệ hàng hoá - tiền tệ dới sự kiểm soát của nhà nớc để phát triển lực lợng
sản xuất, đồng thời NEP cho phép phát triển và hớng kinh tế t bản vào con đờng
CNTBNN. Với nội dung cụ thể của NEP là :
Thay thế chế độ trng thu lơng thực thừa bằng chế độ thuế lơng thực nghĩa là
sau khi thu hoạch ngời nông dân phải nộp thuế cho nhà nớc phần còn lại
thuộc về nông dân và đợc trao đổi tự do trên thị trờng.
Thiết lập một cách đúng đắn quan hệ hàng hoá tiền tệ giữa nhà nớc với nông
dân, giữa công nghiệp XHCN với nông nghiệp.
Chuyển các doanh nghiệp nhà nớc (quốc doanh) sang chế độ hạch toán kinh
tế.
Sử dụng khả năng của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế
trung gian quá độ, đặc biệt là sử dụng CNTB nhà nớc.
Tăng cờng vai trò quản lý vĩ mô của nhà nớc trong quá trình chuyển đổi nền
kinh tế.
Khi chuyển sang NEP, Lê nin đã thẳnh thắn thừa nhận rằng toàn bộ quan
điểm của chúng ta về CNXH đã thay đổi về cơ bản. Trớc đấy, Đảng và nhà nớc
Xô viết đã tính có thể dựa vào nhiệt tình cách mạng mà trực tiếp thực hiện
những nhiệm vụ về kinh tế nh những nhiệm vụ về quân sự; có thể dùng những
biện pháp trực tiếp của nhà nớc vô sản để tổ chức sản xuất và phân phối sản
phẩm theo kiểu cộng sản chủ nghĩa ở một nớc tiểu nông. Nhng chỉ một thời gian
ngắn thực hiện, Lê nin đã thấy rằng không thể xây dựng trực tiếp CNXH ở một
nớc tiểu nông nh nớc Nga lúc đó mà phải ... bắc những chiếc cầu nhỏ, đi xuyên
qua CNTBNN, tiến lên CNXH.
Với chế độ thuế lơng thực thay thế cho chế độ trng thu lơng thực thừa, phần
còn lại sau khi nộp thuế sẽ thuộc về nông dân và có thể tự do trao đổi nó trên thị
5
trờng. Tự do buôn bán có nghĩa là có sự phát triển của CNTB nhng ...CNTB
ấy không đáng sợ làm nh thế sẽ cải thiện đợc nền kinh tế nông dân mà chúng
ta rất cần cải thiện.
trong một nớc tiểu sản xuất chiếm u thế.
2. Thực tiễn thực hiện CNTBNN ở nớc Nga thời Lênin.
2.1. Tính tất yếu của CNTBNN ở nớc Nga.
Chính sách kinh tế mới nói chung, CNTBNN nói riêng ra đời là xuất phát
từ điều kiện thực tế và là sự tất yếu do hoàn cảnh thực tế đề ra. Nớc Nga là nớc
chậm tiến ở Châu Âu, cho nên nớc Nga Xô viết chỉ mới có nguyện vọng kiên
quyết tiến lên con đờng chủ nghĩa xã hội mà cha có nền móng kinh tế của nó.
Trong một nớc nh vậy theo Lê nin, cuộc cách mạng XHCN chỉ có thể thắng lợi
triệt để với hai điều kiện: Điều kiện thứ nhất là có sự ủng hộ kịp thời của cách
mạng XHCN ở một số nớc tiên tiến. Điều kiện thứ hai: Là sự thoả thuận giữa
giai cấp vô sản đang thực hiện sự chuyên chính của mình hoạc đang nắm chính
quyền nhà nớc với đại đa số nông dân. Lê nin khẳng định: chừng nào cách mạng
cha nổ ra ở các nớc khác thì chỉ có thoả thuận với nông dân mới có thể cứu vãn
đợc cuộc cách mạng XHCN. Đó là lý do phải quay về t bản nhà nớc.
Sự thoả thuận giữa hai giai cấp này sau khi kết thúc nội chiến đã trở nên
không vững chắc vì nông dân không hài lòng với hình thức quan hệ hiện có,
không muốn có hình thức quan hệ ấy nữa và không muốn tiết tục sống mãi nh
thế. Do đó phải thiết lập những mối quan hệ mới thông qua các hoạt động kinh
tế và phải thoả mãn đợc những yêu cầu của nông dân. về thực chất có thể thoả
mãn tiểu nông bằng hai việc: Phải có sự tự do trao đổi nhất định và phải kiếm ra
hàng hoá và lơng thực.
Chính sách tự do trao đổi là nhằm kiếm ra hàng hoá căn cứ vào tâm lý
của ngời tiêu dùng. Nhờ chính sách tự do buôn bán mà kích thích ngời nông
dân, vì lợi ích của bản thân mà tạo ra nhiều nông sản, hàng hoá, chính sách tự
do buôn bán là sự thoả thuận với nông dân một cách thực tế, khéo léo, khôn
ngoan và mềm dẻo. Cũng chính từ chính sách tự do trao đổi trong nông dân và
chính sách đó mà xuất hiện hai vấn đề dẫn đến CNTBNN.
Trớc hết, tự do trao đổi là tự do buôn bán , mà tự do buôn bán tức là lùi lại
CNTB. Lê nin đã dự kiến trớc nh vậy nhng không phải vì thế mà ta có thể ngăn
cấm đợc. Từ đó thấy đợc sự cần thiết phải dung nạp CNTB. ở đây diễn ra một
nhập CNTB sẽ mang lại nhứng lợi ích cơ bản và lâu dài.
8
Sự phát triển của CNTB do nhà nớc vô sản kiểm soát và điều tiết có thể đẩy
nhanh sự phát triển ngay tức khắc nền nông nghiệp. Nhờ việc tăng nhanh lực l-
ợng sản xuất trong nông nghiệp mà ổn định xã hội, thoát khỏi khủng hoảng,
thoát khỏi tình cảnh giảm sút tín nhiệm của nông dân đối với chính quyền Xô
viết, khắc phục tình trạng trộm cắp của công...
Bằng sự du nhập chủ nghĩa t bản từ bên ngoài mà tăng nhanh lực lợng
sản xuất, tăng lên ngay hoặc trong một thời gian ngắn. Cải thiện đời sống công
nhân và nông dân, nền đại công nghiệp sẽ đợc phục hồi.
CNTBNN là công cụ để liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tình trạng
phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tiểu t sản và TBCN. CNTBNN là một
bớc tiến lớn, nhờ nó mà chiến thắng đợc tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp
về kinh tế, hiện tợng lỏng lẻo, nhứng thói quen, địa vị kinh tế của giai cấp. Cũng
chính vì thế mà CNTBNN sẽ đa nớc Nga lên CNXH bằng con đờng chắc chắn
nhất.
CNTBNN là công cụ để khắc phục đợc kẻ thù chính trong nội bộ đất n-
ớc, kẻ thù của các biện pháp kinh tế của chính quyền Xô viết. Đó là bọn đầu
cơ, gian thơng, bọn phá hoại độc quyền của nhà nớc. CNTBNN còn đợc xem là
công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ
nghĩa.
Thông qua CNTB và CNTBNN mà giai cấp công nhân có thể học tập đợc
cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức một nền sản xuất lớn. CNTBNN
thông qua sự du nhập của t bản từ bên ngoài là hình thức du nhập tiến bộ kỹ
thuật hiện đại, qua đó có đợc trình độ trang bị cao của CNTB.
CNTBNN thông qua sự phát triển của nó mà phục hồi đợc giai cấp công
nhân. Nếu CNTB đợc lợi thế thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ tăng lên và giai
cấp vô sản cũng theo đó mà lớn mạnh lên.
2.3 Điều kiện cần có để vận dụng các hình thức kinh tế TBNN:
Để sử dụng CNTBNN: Để sử dụng CNTBNN cần có những giới hạn, điều
nô dịch của t bản.
- Ngời nhận tô nhợng có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhân trong xí
nghiệp tô nhợng sao cho đạt tới mức sống trung bình của nớc ngoài. Ngoài ra,
ngời nhận tô nhợng phải bán thêm cho chính quyền Xô viết từ 50 -> 100 % số l-
10