Tài liệu Các loại thuốc tri điều trị bệnh gút - Pdf 10

Các loại thuốc tri điều
trị bệnh gút
Tác dụng phụ hay gặp nhất của allopurinol là phản ứng da. ở một số
trường hợp, phát ban xuất hiện tới 2 nǎm sau khi bắt đầu điều trị.
Ngoài ra, việc dùng allopurinol có thể gây hội chứng ngộ độc nguy hiểm
đến tính mạng.
Tổng quan:
Hiện nay, đã có nhiều thuốc điều trị bệnh gút cấp hoặc mạn tính, bao gồm
colchicin, các thuốc chống viêm phi steroid (NSAID), sulfinpyrazon,
allopurinol, probebecid, corticotropin (ACTH) và các glucocorticoid. Điều
trị bệnh gút bao gồm 3 khía cạnh khác nhau của bệnh: ức chế phản ứng viêm
(colchicin, glucocorticoid, ACTH và NSAID), giảm sản sinh acid uric
(allopurinol), và tǎng thanh thải acid uric (phenylbutazon, probenecid,
sulfinpyrazon). Các thuốc lý tưởng để điều trị cơn gút cấp là colchicin và
NSAID. Các glucocorticoid và ACTH được dành để điều trị cơn cấp ở
những người kháng điều trị hoặc chống chỉ định dùng colchicin và các
NSAID. Bệnh gút mạn tính thường được điều trị bằng các thuốc thải acid
uric niệu, allopurinol hoặc liều thấp colchicin dùng hằng ngày.
Lịch sử:
Colchicin đã được dùng từ lâu trong điều trị viêm khớp gút cấp. Nǎm 1763,
chế phẩm Colchicum autummale, loại cây chứa alkaloid colchicin, lần đầu
tiên được sử dụng trong điều trị cơn gút cấp. Mãi đến nǎm 1820, người ta
mới chiết xuất được colchicin từ cây này. Ngày nay, colchicin vẫn được
dùng phổ biến trong điều trị bệnh gút cấp.
Trong suốt thời gian mà nguồn cung cấp penicillin bị hạn chế, có nhu cầu về
các thuốc giảm bài tiết penicillin qua thận. Probenecid đã được triển khai
nhờ kết quả của một nghiên cứu có tổ chức. Đây là 1 trong 2 thuốc (thuốc
kia là carinamid) làm giảm thanh thải penicillin qua thận. Trong lâm sàng,

Cơ chế tác dụng: Các thuốc điều trị gút khác nhau tác dụng thông qua một số
cơ chế khác nhau. Probenecid và sulfinpyrazon làm tǎng bài tiết acid uric
niệu, trong khi, allopurinol cản trở sự hình thành acid uric. Probenecid và
sulfinpyrazon không tác dụng trên sự hình thành acid uric. Colchicin,
NSAID, corticotropin, và các corticosteroid ức chế chứng viêm phản ứng
với lắng đọng tinh thể urat, do đó, giảm các triệu chứng (thí dụ: viêm khớp
gút) do bệnh gút.
Hoạt động của các thuốc chống viêm dùng điều trị gút khác nhau rõ rệt.
Colchicin tác động bằng cách gắn với các protein vi tiểu quản và cản trở
chức nǎng thoi gián phân dẫn đến giảm di cư bạch cầu, hóa ứng, bám dính
và thực bào. Indomethacin và phenylbutazon có hiệu quả như colchicin
trong việc giảm các triệu chứng viêm của gút. Không như indomethacin,
phenylbutazon cũng có hoạt tính bài tiết acid uric niệu. Sulfinpyrazon,
không giống phenylbutazon, không có đặc tính chống viêm hoặc giảm đau.
Thuốc có hoạt tính thải acid uric niệu mạnh gấp 3-6 lần probenecid.
Sulfinpyrazon cũng kéo dài đời sống tiểu cầu, có lợi trong phòng ngừa nhồi
máu cơ tim và huyết khối.
Các liều dược lý của corticosteroid và ACTH làm giảm viêm do ức chế giải
phóng các acid hydrolase bạch cầu, ngǎn ngừa sự tích tụ đại thực bào tại vị
trí viêm, cản trở sự bám dính của bạch cầu vào thành mao mạch, giảm tính
thấm màng mao mạch (nhờ đó làm giảm phù nề), giảm các thành phần bổ
sung, ức chế giải phóng histamin và kinin, và cản trở sự hình thành mô sẹo.

Các đặc điểm phân biệt: Các thuốc điều trị bệnh gút khác nhau về cơ chế tác
dụng và các tác dụng phụ. Colchicin, loại thuốc lâu đời nhất trong nhóm
thuốc này, được dùng để làm giảm các triệu chứng của cơn gút cấp và bệnh
gút mạn tính nhưng có tác dụng giảm mức acid uric. Ngoài những lợi ích đối
với bệnh gút, colchicin có hiệu quả trong một số chỉ định chưa chính thức
như xơ gan, thoái hóa dạng tinh bột, bệnh Paget, viêm da dạng herpes, sốt
Địa Trung Hải gia đình.

Nguồn sức khỏe cộng đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status