Vị thuốc quý trị ung thư
Người ta đã và đang nghiên cứu các loại thảo dược nào có thể hữu ích cho người
bệnh ung thư. Cỏ lưỡi rắn trắng (bạch hoa xà thiệt thảo) là một trong những thảo
dược “nổi bật” mà người bị ung thư nên biết.
Mô tả cây
Trong Đông y, cỏ lưỡi rắn trắng có tên là bạch hoa xà thiệt thảo (bạch hoa = hoa
trắng; xà = rắn; thiệt = lưỡi; thảo = cỏ).
Tên khoa học là Hedyotis diffusa Willd, thuộc họ cà phê.
Còn có tên là bòi ngòi bò, xà thiệt thảo, xà châm thảo, long thiệt thảo, nhị diệp lục. Bạch hoa xà có rất nhiều giống; ở Trung Quốc nó có tên là xà thiệt thảo, dương thu
thảo; ở Việt Nam gọi là bòi ngòi bò. Chính vì có rất nhiều giống nên tùy loại khác
nhau mà bạch hoa xà có cấu trúc, hình dạng có chút khác nhau chứ không phải là
thật hay giả như nhiều người vẫn đang thắc mắc.
Đặc điểm dễ nhận biết của bạch hoa xà là loại mọc bò, thân bốn cạnh màu nâu
nhạt, lá dài và hơi thuôn, nhọn ở đầu; hoa không cuống, mọc đơn độc và có màu
trắng hoặc hồng.
Theo Đông y, thuốc có vị đắng, ngọt, tính ôn, không độc, quy kinh Tâm, Can, Tỳ.
Thuốc có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu ung kháng nham, lợi thấp. Trị các loại
sưng đau do những ung thư: mắt, mũi - họng, thực quản, phổi, dạ dày, tuỵ, gan,
trực tràng, bàng quang, tiền liệt tuyến, cổ tử cung, xương, lymphô và các loại
nhiễm trùng như: nhiễm khuẩn đường tiết niệu, viêm hạnh nhân, viêm họng, viêm
thanh quản, viêm phế quản cấp mạn, viêm phổi, viêm gan thể vàng da hoặc không
vàng da cấp, viêm ruột thừa, ung nhọt, u bướu, sưng nhọt lở đau, tổn thương do
đòn ngã, rắn độc cắn.
Những nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy thuốc có tác dụng:
Chống khối u: thuốc sắc bạch hoa xà thiệt thảo nồng độ cao in vitro thấy có tác
dụng ức chế đối với tế bào trong bệnh bạch cầu cấp, bạch cầu tăng hạt cấp.
tươi đều 20g, chi tử, bạch anh, hạ khô thảo đều 12g, hoàng liên 8 - 10g. Sắc uống
ngày 1 thang.
Ung thư gan: bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên đều 20g, tiểu kim bất hoán, kê cốt
thảo đều 15g. Ngày 1 thang sắc uống.
Ung thư gan: bạch hoa xà thiệt thảo 30g, chó đẻ răng cưa 30g, cam thảo dây 10g.
Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2 - 3 lần trong ngày.
Ung thư: dạ dày, trực tràng, thực quản, cổ tử cung và các bệnh u bướu: bạch hoa
xà thiệt thảo, bán chi liên, bạch anh, đông quỳ, bán biên liên, trương ương đều 30g.
Ngày 1 thang sắc uống.
Ung thư dạ dày: bạch hoa xà thiệt thảo 60g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 60g, hạt bo
bo 40g, đường đỏ 40g. Sắc uống ngày một thang.
Ung thư tuỵ: bạch hoa xà thiệt thảo, thiết thúc diệp, mẫu lệ nung đều 30g, hạ khô
thảo, hải tảo, hải đới, đảng sâm, phục linh đều 15g, lậu lô, đương quy, xích thược,
bạch truật đều 12g, đan sâm 18g, xuyên luyện tử, uất kim đều 9g. Sắc uống.
Ung thư bàng quang: bạch hoa xà thiệt thảo, long quý, xà môi, bạch anh, hải kim
sa, thổ phục linh, đăng tâm thảo, uy linh tiên.
Ung thư bàng quang, trong nước tiểu có máu, tiểu tiện khó, đau tức ở bụng dưới,
nước tiểu vàng, rêu lưỡi nhớt khô, mạch huyền hoạt sác: bạch hoa xà thiệt thảo,
bán chi liên đều 15g, bạch anh, thổ phục linh, long đởm thảo, chi tử sao, hoàng
cầm, sài hồ, sinh địa, xa tiền thảo, trạch tả đều 12g, mộc thông, biển súc, cù mạch
đều 10g, hoạt thạch 20g.
Ung thư cổ tử cung: bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, côn bố, hải tảo, đương
quy, tục đoạn đều 24g, toàn yết 6g, ngô công 3 con, bạch thược, hương phụ, phục
linh đều 15g, sài hồ 9g. Sắc uống.
Ung thư cổ tử cung do thấp nhiệt độc thịnh: bạch hoa xà thiệt thảo, thổ phục linh
đều 30g, bán chi liên, thảo hà xa đều 15g, sinh ý dĩ 12g, thương truật, biển súc,
xích thược đều 9g, hoàng bá 6g.
Ung thư cổ tử cung do can thận âm hư: bạch hoa xà thiệt thảo 30g, thảo hà xa, hạn
liên thảo, hoài sơn đều 15g, sinh địa 12g, tri mẫu, trạch tả đều 9g, hoàng bá 5g.
Ung thư tiền liệt tuyến: bạch hoa xà thiệt thảo, thổ phục linh, xuyên sơn giáp, sinh
Cách dùng: một thang uống 2 lần. Nước đầu (uống buổi
sáng), dùng 4 chén nước nấu còn lại 2 chén. Nấu bằng siêu
đất hay nồi bằng nhôm đều được cả, không có kỵ. Nước
thứ nhì, uống buổi chiều, cũng dùng 4 chén nước nấu còn lại hai chén.
Chú ý:
- Có thể nấu lần thứ ba với nhiều nước để uống trong ngày thay trà.
nhiều dạng, nhiều vị
trí, người bệnh lại có
thể tạng khác nhau,
nên các thầy thuốc
phải khám bệnh và kê
toa phối các vị (thần -
tá - sứ) cho phù hợp
với mỗi người, mỗi
dạng bệnh. Đã có
nhiều người chữa ung
thư bằng bài thuốc
này tại các viện
YHDT, có kết quả
tốt
- Lúc bình thường mỗi tháng uống một lần rất hay. Vì thuốc này đối với độc nóng
của lục phủ ngũ tạng và các chứng trĩ, áp huyết cao, ho, nóng vân vân đều rất hiệu
nghiệm.
- Nên để nguội sẽ uống, uống trước bữa ăn 1 giờ và sau bữa ăn 2 giờ, nghĩa là lúc
bụng còn đói, thì có hiệu quả nhanh chóng hơn.
- Cần kiên trì uống cho đến khi khỏi bệnh (qua các xét nghiệm chẩn đoán…).
- Phương thuốc này chủ trị các bịnh ung thư. Căn cứ những kết quả đã dùng, thấy
đã chữa khỏi những bịnh ung thư lở loét nơi dạ dày, ruột, gan, tử cung, vú, não
v.v Đặc biệt bịnh ung thư nơi ruột và dạ dày chỉ uống từ 4 hay 5 giờ sau là thấy
hiệu quả khác thường.