Thiết kế phân xưởng chưng cất dầu thô ở áp suất thường - Pdf 10


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP – TÙ DO – HẠNH PHÓC
NHIỆM Vễ
THIẾT KẾ TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Phùng Văn Việt
Khoá: 43
Khoa: Công Nghệ Hóa Học
Ngành học: Công Nghệ Hữu Cơ - Hoá Dầu
1. Đầu đề thiết kế:
Thiết kế phân xưởng chưng cất dầu thô ở áp suất thường
2. Các số liệu ban đầu:
- Công suất 6 triệu tấn/năm
- Dầu thô: Mỏ Bạch Hổ
3. Nội dung các phần thuyết minh và tính toán
- Lời nói đầu
- Tổng quan lý thuyết
- Tính toán
- An toàn lao động
- Thuyết minh xây dung
- Tính toán kinh tế
- Kết luận và tài liệu tham khảo
4. Các loại bản vẽ đồ thị (ghi rõ các loại bản vẽ về kích thước bản vẽ):
1 bản vẽ dây truyền công nghệ A
0
1 bản vẽ thiết bị chính A
1
1 bản vẽ mặt bằng xây dung A
0

CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU DẦU THÔ

I. Nguồn gốc của dầu thô
Thành phần hoá học của dầu thô
1. Thành phần nguyên tố của dầu thô
2. Thành phần hydrocacbon trong dầu thô
3. Các thành phần phi hydrocacbon trong dầu mỏ
II. Các đặc tính vật lý quan trọng của dầu thô
1. Tỷ trọng
2. Độ nhít
3. Thành phần chưng cất của phân đoạn
4. Nhiệt độ sôi trung bình
5. Hệ số đặc trưng K
6. Đường cong điểm sôi thực
7. Nhiệt độ đông đặc, điểm vẩn đục và điểm kết tinh
CHƯƠNG 3: SẢN PHẨM CỦA QUÁ TRÌNH CHƯNG CẤT
I. Khí hydrocacbon
II. Phân đoạn xăng
1. Thành phần hoá học
2. Ứng dông
III. Phân đoạn kerosen
1. Thành phần hoá học
2. Ứng dông
IV. Phân đoạn diezel
1. Thành phần hoá học
2. Ứng dông
V. Phân đoạn dầu nhờn
1. Thành phần hoá học
2. Ứng dông
VI. Phân đoạn mazut

II. Tự động hóa
PHẦN IV: THIẾT KẾ XÂY DỰNG
I. Yêu cầu chung
II. Yêu cầu về kỹ thuật
III. Yêu cầu về vệ sinh công nghiệp
IV. Giải pháp thiết kế xây dựng
4

PHẦN V: TÍNH TOÁN KINH TẾ
1. Mục đích
2. Chế độ công tác của phân xưởng
3. Nhu cầu về nguyên liệu và năng lượng
4. Xác định nhu cầu công nhân cho phân xưởng
5. Chi phí chung cho phân xưởng
6. Chi phí khác cho từng sản phẩm
7. Xác định hiệu quả kinh tế
8. Kết luận
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Mở đầu
Công nghệ chế biến dầu mỏ được xem như bắt đầu ra đời vào năm 1859
khi mà Edwin Drake (Mỹ) khai thác được dầu thô. Lúc này lượng dầu thô
khai thác được còn rất Ýt, chỉ một vài nghỡn lớt trong 1 ngày và chỉ phục vụ
cho mục đích thắp sáng. Nhưng chỉ vài năm sau đó, không chỉ riêng ở Mỹ mà
cả ở các nước khác người ta cũng đã tìm thấy dầu. Từ đó sản lượng dầu khai
thác ngày càng được tăng lên rất nhanh.
Nghành công nghiệp chế biến dầu do tăng trưởng nhanh đã trở thành
nghành công nghiệp mòi nhọn của thế kỷ 20. Đặc biệt từ sau đại chiến thế
giới lần thứ II, công nghiệp dầu khí phát triển nhằm đắp ứng 2 mục tiêu
chính:

tiến trong lĩnh vực hoá dầu là rất quan trọng.
6

TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT
CHƯƠNG 1: NGUYÊN LIỆU DẦU THÔ
I. NGUỒN GỐC
Có khá nhiều giả thuyết mô tả sự biến hoá lâu đời của vật chất để trở
thành các mỏ dầu khổng lồ trong lòng đất, trong đó có một giả thuyết mà cách
lập luận của nó hầu như được nhiều người chấp nhận: nguồn gốc hữu cơ.
Các chất hữu cơ nói chung, cụ thể là các động vật, thực vật lắng chìm
xuống đáy biển, lâu ngày tích tụ lại và trộn lẫn cát mịn dưới đáy biển, tạo
thành một khối bùn thối rữa, còn gọi là cỏc lớp trầm tích, lượng tích tụ tăng
dần theo thời gian, dưới tác dụng của lực địa tầng, tác dụng của nhiệt độ và
hoạt động của các vi khuẩn trong môi trường không có oxy, từng bước khối
7

bùn nhão này chuyển hoá dễ dàng thành dầu mỏ. Trong một số mỏ dầu nhất
định, người ta đã phát hiện được các vi khuẩn, thấy có cả nitơ, lưu huỳnh, đôi
khi cũn cú cả photpho. Ngoài ra, cũn cú một líp nước mặn bao quanh mỏ. Đó
là những điều hỗ trợ thêm cho lập luận nguồn gốc hữu cơ của dầu mỏ.
Nơi hình thành dầu mỏ được gọi là “đỏ mẹ”. Tuy nhiên, dầu mỏ không
bao giê chịu nằm im nơi “đỏ mẹ” sinh sản ra nó. Dưới tác dụng của nhiều áp
lực như: chênh lệch khối lượng riêng với nước biển, các lực địa tầng và líp
cặn biển… dầu mỏ luôn luôn di chuyển để tạo thành một thế cõn bằng mới.
Cuộc di chuyển này tiến hành qua các khối đá xốp hoặc các khe nứt tồn tại
trong lòng đất và thường theo xu hướng “đi lờn” hiếm khi di chuyển xuống.
Cuộc di chuyển của dầu mỏ cứ tiếp tục khi chưa đạt thế cân bằng nhưng sẽ
dừng lại khi khối dầu mỏ này bị rơi vào khối “đỏ bẫy”. Do cấu trúc của khối
đá này có một lớp khụng thẩm thấu bao phủ phía trên nên dầu mỏ phải nằm
lại đó và tạo nên “tỳi dầu”. Tói dầu thường là một khối đá xốp có dạng cái

II. THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA DẦU MỎ
Trong thiên nhiên, dầu mỏ nằm ở dạng chất lỏng nhờn dễ bắt cháy. Khi
khai thác, ở nhiệt độ thường nó có thể ở dạng lỏng hoặc đông đặc, có màu từ
vàng đến đen, là nguyên liệu chính cho qỳa trỡnh chưng cất dầu thô.
1. Thành phần nguyên tố của dầu mỏ
Dầu mỏ là một hỗn hợp rất phức tạp, khi khảo sát thành phần dầu mỏ của
nhiều mỏ dầu trên Thế Giới, đều thấy không dầu nào giống dầu nào. Có bao
nhiêu mỏ dầu khớ thỡ cú bấy nhiêu loại dầu mỏ. Ngay bản thân trong một lỗ
khoan, dầu mỏ lấy ở các tầng chứa dầu khác nhau cũng đều khác nhau.
Về thành phần nguyên tố của dầu mỏ, ngoài C (chiếm 82-87%) và H
(0,001-1,8%) cũn cú S, O (0,05-1,0%), N, một số kim loại như V, Ni, Fe,Cu,
Ca, Na, As…(và trong khớ cũn cú cả He, Ar, N
2
, Fe, Kr, Xe, H …), các
halogen (clo, i ốt). Một điều đáng chú ý là tuy dầu mỏ trên thế giới khác nhau
rất nhiều về thành phần hoá học song về thành phần nguyờn tố (chủ yếu là C
và H) lại rất gần với nhau, thay đổi trong phạm vi rất hẹp.
2. Thành phần hydrocacbon trong dầu mỏ
Hydrocacbon là thành phần chính và quan trọng nhất của dầu mỏ. Trong
dầu thô các hợp chất này có nhiều nhất có thể đến 97 - 98% trọng lượng của
dầu, Ýt nhất cũng trên 50%.
Các hydrocacbon có trong dầu mỏ được chia làm 5 loại sau:
9

- Các parafin cấu trúc thẳng (n-parafin)
- Các parafin có cấu trúc nhánh (iso- parafin)
- Các parafin có cấu trúc vòng (cyclo parafin hay naphaten)
- Các hydrocacbon thơm
- Các hydrocacbon hỗn hợp (hoặc lai hợp) nghĩa là trong phân tử có
mặt nhiều loại hydrocacbon.

Về cấu trúc, hydrocacbon parafin có 2 loại: Loại cấu trúc mạch thẳng còn
gọi là n-parafin và loại cấu trúc mạch nhỏnh cũn gọi là iso- parafin.
Ở điều kiện bình thường (nhiệt độ là 25
o
C, áp suất khí quyển), các parafin
mạch thẳng chứa từ 1 tới 4 nguyên tử C trong phân tử đều nằm ở thể khí. Các
n-parafin mà phân tử chứa từ 5 tới 17 nguyên tử C nằm ở thể lỏng, cũn cỏc
10

parafin chứa từ 18 nguyên tử C trở lên nằm ở dạng tinh thể rắn. Như vậy
trong dầu mỏ các hydrocacbon parafin có tồn tại ở cả 3 dạng: rắn - lỏng -
khớ.
+ Các hydrocacbon n-parafin của dầu mỏ
Hydrocacbon n- parafinic là loại hydrocacbon có phổ biến nhất trong số các
hydrocacbon của dầu mỏ. Dầu mỏ có độ biến chất càng cao, tỷ trọng càng nhẹ
càng có nhiều hydrocacbon loại này. Mặt khác hydrocacbon n-parafinic lại là
loại hydrocacbon dễ tách và dễ xác định nhất trong số các hydrocacbon của
dõự mỏ, cho nên hiện nay với việc sử dụng phương pháp sắc ký kết hợp dây
phân tử để tỏch cỏc n- parafin đã xác định được tất cả các n- parafin từ C
1
đến
C
45
.
Hàm lượng chung các n- parafin trong dầu mỏ thường từ 25-30% thể tích.
Tuỳ theo dầu mỏ được tạo thành vào những thời kỳ địa chất nào và những độ
sâu nào, mà sự phân bố các n- parafin trong dầu sẽ khác nhau. Nói chung sự
phân bố này thường tuân theo 2 quy tắc. Tuổi của dầu càng cao độ sõu lỳn
chỡm càng lớn, thì hàm lượng n-parafin trong phần nhẹ của dầu mỏ càng
nhiều.

công nghệ phức tạp xử lý nhằm mục đích loại các parafin rắn đến mức độ cần
thiết, sao cho sản phẩm có đủ linh động trong điều kiện sử dông.
Ví dụ: Dầu Minas (Indonờsia) có 13% parafin rắn nên ở 33
o
C dầu đã
bị đông đặc.
Dầu LiBi có 10% parafin rắn, nhiệt độ đông đặc là 18
o
C
Dầu Bạch Hổ có nhiệt độ đông đặc là 33
0
C
Dầu Đại Hùng có nhiệt độ đông đặc là 27
o
C
Nếu bơm và vận chuyển các loại dầu này ta phải áp dụng các biện pháp
như: gia nhiệt đường ống, cho thêm phụ gia, tách bớt parafin rắn ngay tại nơi
khai thác để hạ điểm đông đặc. Các biện pháp này gây tốn kém, làm giảm giá
thành dầu thô.
Các parafin rắn tách ra này, rất may chúng là nguyên liệu quý cho các
quá trình chế biến, sản xuất các sản phẩm tiêu dùng như nến, giấy sỏp, diờm
hay các vật liệu chống thấm, hay để điều chế chất tẩy rửa tổng hợp, tơ sợi,
phân bón, chất dẻo… Mặt khác nếu đem oxy hoỏ chỳng, người ta nhận được
các axit béo và alcol cao, đó là cỏc nguyờn liệu quý để tổng hợp các chất hoạt
động bề mặt là loại chất có nhiều ứng dụng trong sinh hoạt.
+ Các hydrocacbon izo-parafinic của dầu mỏ
Loại izo-parafinic thường chỉ nằm ở phần nhẹ và phần có nhiệt độ sôi
trung bình của dầu mỏ, còn ở những phần có nhiệt độ sôi cao thì nói chung
chúng rất Ýt.
Về vị trí của các nhánh phụ, có 2 đặc điểm sau đây:

có nhiệt độ sôi cao của dầu mỏ, nhưng thực tế chưa tách ra được hợp chất như
vậy. Chỉ có loại naphten 5 vòng được xem là naphten có số vòng cao nhất
được tách ra từ dầu mỏ.
Tuy nhiên trong dầu mỏ thì loại naphten một vòng 5 cạnh và 6 cạnh cú cỏc
nhánh phụ chung quanh là loại chiếm phần chủ yếu nhất, và cũng được
nghiên cứu đầy đủ nhất. Vì thế người ta đã tách ra được hàng loạt các naphten
1 vũng cú 1,2,3 nhánh phụ trong nhiều loại dầu mỏ khác nhau. Ở trong những
phần nhẹ của dầu mỏ, thì chủ yếu là các naphten 1 vòng với nhánh phụ rất
ngắn (chủ yếu là metyl) và có thể có nhiều (1, 2, 3). Còn trong những phần có
13
|
CH
3
__
(CH )
2
__
CH
10
3
__
CH
3
|
CH
3
__
(CH )
2
__

c. Các hydrocacbon thơm của dầu mỏ
Hydrocacbon thơm có công thức tổng quát là C
n
H
2n – 6
, có cấu trúc vòng 6
cạnh, các hydrocacbon thơm của dầu mỏ thường gặp là loại 1 vòng thơm và
loại nhiều vòng thơm có cấu trúc ngưng tụ hoặc qua cầu nối.
Loại hydrocacbon thơm 1 vòng và các đồng đẳng của nó là loại có rất phổ
biến. Benzen thường gặp với số lượng Ýt hơn tất cả. Những đồng đẳng của
benzen nói chung đều đó tỏch và xác định được trong nhiều loại dầu mỏ,
những loại alkylbenzen với 1,2,3,4 nhánh phụ như toluen, xylen, 1,2,3-
14

trimetylbenzen đều là những loại chiếm đa số trong các hydrocacbon thơm.
Tuy vậy loại 4 nhánh phụ tetrametylbenzen (1,2,3,4 và 1,2,3,5) thường lại
thấy với tỷ lệ cao nhất. Trong dầu mỏ Aclan (Liờn Xụ) nhận thấy trong số các
hydrocacbon thơm 1 vòng với 2,3,4 nhóm thế metyl thì loại 1,3; 1,3,5; 1,2,4,5
chiếm phần chủ yếu. Theo Smit thì hàm lượng tối đa của toluen trong dầu vào
khoảng 2,3%, xylen và benzen vào khoảng 1- 1,6%.
Hydrocacbon thơm là các cấu tử có trị số octan cao nhất nờn chỳng là
những cấu tử quý cho xăng. Nhưng nếu chúng có mặt trong nhiên liệu phản
lực hay nhiên liệu diezel lại làm giảm chất lượng của nhiên liệu này. Những
hydrocacbon thơm 1 hay 2 vòng có mạch nhánh alkyl dài và có cấu trúc
nhánh cũng là những cấu tử quý để sản suất dầu nhờn có chỉ số nhít cao.
Những hydrocacbon thơm đa vòng ngưng tụ cao hoặc không có nhánh parafin
dài lại là những cấu tử có hại trong sản xuất dầu nhờn có chỉ số nhít cao, cũng
như trong các quá trình chế biến có xúc tác, do chóng nhanh chóng gây ngộ
độc xúc tác.
Loại hydrocacbon thơm 2 vũng cú cấu trúc ngưng tô như naphtalen và

Đối với các hydrocacbon 1 vòng thơm và 1 vòng naphten hỗn hợp, ngoài
dạng ngưng tụ cũng có mặt dạng cầu nối giống như diphenyl.___

Trong dầu Romaskino cũng phát hiện thấy loại cấu trúc nối nhưng cầu dài
hơn: 1- hexyl, 2-phenyletan.

CH
3
CH
2

Loại Hydrocacbon hỗn hợp nhiều vòng thơm và nhiều vòng naphten (2,3
vòng thơm ngưng tụ với 1,2,3 vòng naphten) cũng có mặt trong nhiều loại dầu
16

Tetralin

Indanmỏ. Trong phần nặng hơn thấy loại 3 vòng thơm ngưng tụ với 2 vòng
naphten. Nói chung tổng số vòng tối đa của loại cấu trúc hỗn hợp cũng chỉ
đến 6. Những nhánh phụ đính chung quanh cỏc vũng này cũng mang các đặc
tính như trên nghĩa là chung quanh cỏc vũng thơm thường chỉ có 1 số nhánh
phụ ngắn chủ yếu là metyl, còn họa hoằn lắm mới có 1 số nhánh phụ etyl
trong khi đó quanh cỏc vũng naphten thường có 1 hoặc 2 nhánh dài. Số nhánh
phụ nói chung có thể có từ 2 đến 6.

huỳnh. Những hợp chất này thuộc vào những họ sau:
+ Mercaptan RSH (với R là mạch thẳng hay vòng)
+ Sulfua R- S - R
+ Disulfua R- S - S - R
+ Tiofen (dị vòng)
+ Lưu huỳnh dạng tự do S, H
2
S
- Lưu huỳnh dạng mercaptan: chỉ gặp trong phần nhẹ của dầu mỏ dưới
200
o
C. Các mercaptan này có gốc hydrocacbon với cấu trúc thẳng, nhánh
vòng naphtan. Lưu huỳnh ở dạng mercaptan khi ở nhiệt độ khoảng 300
o
C
dễ bị phân huỷ và tạo thành H
2
S và các sulfit. Ở nhiệt độ cao hơn nữa
chúng có thể phân huỷ tạo thành H
2
S và các hydrocacbon không no tương
ứng với gốc hydrocacbon của nó.
300
O
C
2 C
5
H
11
SH C

H
7
SH +1/2 O
2
C
3
H
7
S S C
3
H
7
+ H
2
O
HNO
3
C
5
H
7
SH C
3
H
7
SO
2
OH
18


Tiofen Benzotiofen Dibenzotiofen Naphtobenzotiofen Naphtotiofen
Những loại này thường chiếm từ 45 – 92% trong tất cả các loại hợp chất
chứa lưu huỳnh của dầu mỏ nhưng trong số đú thỡ tiofen và các đồng đẳng
của nó thường lại Ýt hơn cả thậm chí có những loại dầu mỏ không có (dầu
19
S
S
S
S S
S S

wasson). Những đồng đẳng của tiofen đã xác định được là những loại 1 nhóm
thế (chủ yếu là nhóm metyl) hoặc có cả 2,3 và 4 nhóm thế. Đối với
benzentiofen đã xác định được 4 đồng đẳng 1 nhóm thế metyl, 8 đồng đẳng
có 2 nhóm thế metyl 1 đồng đẳng có 1 nhóm thế propyl.
Ngoài các hợp chất chứa lưu huỳnh trên trong dầu mỏ còn chứa lưu huỳnh
dưới dạng tự do và lưu huỳnh dạng H
2
S không phải trong dầu nào cũng cú,
chỳng thay đổi trong 1 giới hạn rất rộng đối với các loại dầu khác nhau. Thí
dụ: lưu huỳnh nguyên tố có thể khác nhau đến 60 lần nghĩa là có thể có từ
0,008 – 0,48% trong dầu mỏ còn lưu huỳnh H
2
S cũng vậy, có thể từ rất Ýt
cho đến 0,02%. Vì lưu huỳnh dạng H
2
S nằm dưới dạng hoà tan trong dầu mỏ,
dễ dàng thoát ra khỏi dầu khi đun nóng nhẹ, nờn chỳng gõy ăn mòn rất mạnh
các hệ thống đường ống, thiết bị trao đổi nhiệt, chưng cất. Do đó người ta
thường căn cứ vào hàm lượng lưu huỳnh H

6
– C
11
, có 1,2,3 nhóm thế metyl, đồng thời có cả
những nhóm thế etyl và propyl, butyl. Các quinolin với số nguyên tử cacbon
C
9
– C
15
còng tìm thấy trong phân đoạn có nhiệt độ sôi 230 – 330
o
C của dầu
má. Ở phân đoạn có nhiệt độ sôi cao hơn, thấy có những hợp chất 3 vòng như
2,3 - và 2,4- dimetyl bezoquinolin. Nói chung, ở phân đoạn có nhiệt độ sôi
thấp và trung bình của dầu mỏ thì thường được gặp các hợp chất chứa nitơ
dạng piridin, quinolin, còn ở những phân đoạn có nhiệt độ sôi cao cảu dầu
mỏ, thỡ cỏc hợp chất chứa nitơ dạng cacbazol và pirol là chủ yếu. Những hợp
chất chứa 2 nguyên tử nitơ trở lên thường có rất Ýt so với các loại kể trên.
Những loại này thuộc dạng indolquinolin, indolcacbazol và porfirin. Đối với
các porfirin là những chất chứa 4 nguyên tử nitơ, lại thường có xu hướng tạo
nên những phức chất với kim loại như vanadi, niken và sắt. Các hợp chất nitơ
có thể chiếm tới 3% trong dầu. Tuy với số lượng nhỏ hơn lưu huỳnh nhưng
các hợp chất nitơ cũng là các hợp chất có hại, rất độc cho xúc tác trong quỏ
trỡnh chế biến, đồng thời chúng phản ứng tạo nhựa làm tối màu sản phẩm
trong thời gian bảo quản. Khi có mặt trong nhiên liệu các hợp chất nitơ cháy
tạo ra khí NO
X
là những khí rất độc gây ăn mòn mạnh. Do vậy còng như các
hợp chất lưu huỳnh . Khi hàm lượng các hợp chất nitơ vượt quá giới hạn cho
phép người ta cũng phải tiến hành loại bỏ chúng trước khi đưa dầu thô hay

Các xeton mạch thẳng C
2
– C
5
tìm thấy trong phần nhẹ của dầu mỏ. Trong
các phần có nhiệt độ sôi cao thì phát hiện thấy có keton vũng. Cỏc xetol nói
chung không nhiều trong dầu mỏ và ngay cả trong phần nặng của dầu.
d. Các phức cơ kim của dầu mỏ (kim loại trong dầu mỏ)
Kim loại có trong dầu mỏ không nhiều thường từ vài phần triệu đến vài
phần vạn. Chúng nằm trong dầu mỏ thường ở các phân đoạn có nhiệt độ sôi
cao và dưới dạng tạo phức với các hợp chất hữu cơ (cơ - kim) thông thường là
dạng phức với porfirin và dạng phức với các chất hữu cơ khác trong dầu mỏ.
Trong đó dạng phức với porfirin thường có số lượng Ýt hơn.
22

Những kim loại nằm trong phức với porfirin thường là niken và vanadi.
Qua nghiên cứu các phức cơ - kim của một số dầu mỏ Liờn Xụ cho thấy,
trong những loại dầu nhiều S chứa nhiều porfirin dưới dạng phức với vanadi.
Ngược lại trong những dầu Ýt S , đặc biệt dầu có nhiều nitơ thì thường
chứa nhiều porfirin dưới dạng phức với niken. Do đó trong những dầu mỏ
chứa nhiều S, tỉ lệ vanadi/niken >1 (từ 3 –10 lần) còn trong dầu mỏ chứa S, tỉ
lệ vanadin/niken <1 (thường 0,1). Những phức kim loại với các chất hữu cơ
khác trong dầu có đặc tính chung là không phản ứng với các axit khác với các
phức kim loại porfirin. Điều này có thể do cấu trúc của nó. Bên cạnh porfirin
cũn cú thờm những vòng thơm hoặc naphten ngưng tụ. Loại phức như thế này
tuy chiếm phần lớn nhưng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Kim loại trong các phức cơ - kim nói trên ngoài vanadi và niken còn có thể
có sắt, đồng, kẽm, titan, canxi, mangan…. Số lượng các phức kim loại này
thường rất Ýt so với các phức vanadi và niken.
e. Các chất nhựa và asphanten của dầu mỏ

dị vòng trong hệ nhiều vòng thơm ngưng tụ cao, và các hệ vòng thơm này
cũng có thể được nối với nhau qua những cầu nối ngắn để trở thành những
phân tử có trọng lượng phân tử lớn.
+ Các chất nhựa của dầu mỏ
Các chất nhựa, nếu tách ra khỏi dầu mỏ chúng sẽ là những chất nửa lỏng
đặc quánh đôi khi rắn, chúng có màu vàng sẫm hoặc nâu. Tỉ trọng lớn hơn
một, trọng lượng phân tử từ 500 – 2000. Nhựa có thể được hoà tan trong các
loại dầu nhờn của dầu mỏ, xăng nhẹ, còng như trong benzen, cloroform, ete.
Khác với asphanten nhựa khi hoà tan trong các dung môi kể trên chúng tạo
thành một dung dịch thực, thành phần nguyên tố và trọng lượng phân tử của
nhựa thì từ các loại dầu mỏ khác nhau hoặc từ các phân đoạn khác nhau trong
các loại dầu đó hầu như gần giống nhau, có nghĩa chúng khong phụ thuộc vào
gốc. Nhựa của phân đoạn nhẹ bao giê cũng có trọng lượng phân tử bé hơn ở
phân đoạn nặng, đồng thời tỉ lệ C/H của nhựa trong phân đoạn nặng thường
cao hơn nhựa trong phân đoạn có nhiệt độ sôi thấp hơn.
Nhựa có khả năng nhuộm màu rất tốt, đặc biệt là nhựa từ các phân đoạn
nặng hoặc từ dầu thô. Khả năng nhuộm màu của những loại nhựa này gấp 10
– 20 lần so với nhựa của những phân đoạn nhẹ như kerosen. Chính vì vậy,
những sản phẩm trắng (xăng, kerosen, gasoil) khi có lẫn nhựa (hoặc tạo nhựa
24

khi bảo quản) đều trở nên có màu vàng. Những loại dầu Ýt asphanten mà vẫn
có màu sẫm đến nâu là do sự có mặt của các chất nhựa nói trên.
Về tính chất hoá học, nhựa rất giống asphanten, từ nhựa dễ chuyển thành
asphanten, chỉ cần bị oxy hoá nhẹ khi có sự thâm nhập của oxy không khí ở
nhiệt độ thường hay đun nóng thậm chí khi không có không khí chỉ đun nóng
chúng cũng có khả năng từ nhựa chuyển thành asphanten do các quá trình
phản ứng ngưng tụ được thực hiện sâu rộng. Vì thế các loại dầu mỏ khi có độ
biến chất cao thì sự chuyển hoá từ nhựa sang asphanten càng dễ, vì vậy hàm
lượng giảm đi, asphanten tạo thành nhiều lên. Nhưng vì những loại dầu này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status