thiết kế phân xưởng chưng cất dầu thô có nhiều cấu tử nhẹ - Pdf 24

Bộ giáo dục và đào tạo cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
Trường đại học bách khoa hà nội Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
***** o O o
nhiệm vụ thiết kế tốt nghiệp

Họ và tên: Hoàng Danh Kiên
Khoá học: Hoá dầu 2 Khoa: Công nghệ hoá học
Nghành học : Công nghệ hữu cơ - Hoá dầu
1.Đầu đề thiết kế:

Thiết kế phân xưởng chưng cất dầu thô có nhiều cấu tử nhẹ

Năng suất 4.600.000 tấn/năm
2.Các số liệu ban đầu
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………
3. Nội dung phần thuyết minh và tính toán:
- Tổng quan lý thuyết dầu mỏ
-Công nghệ của quá trình chưng cất
-Tính toán công nghệ
-Xây dùng
-Tính toán kinh tế
4. Các bản vẽ(Ghi rõ các loại bản vẽ và kích thước các bản vẽ)
- Dây chuyền sản xuấ t - khổ A
0

2. Phân loại xăng
3. Phân loại kerosene
4. Phân loại diezen
5. Phân loại mazut
6. Phân loại dầu nhờn
7. Phân đoạn Gudron
III. Xử lý dầu thô trước khi chưng cất
1. Tách tạp chất cơ học
IVCác phương pháp chưng cất
1.Chưng đơn giản
2.Chưng Phức tạp
V. Các yếu tố ảnh hưởng
1.Chế độ nhiệt của tháp chưng luyện
2. Yếu tố áp suất của tháp chưng luyện
3. Điều khiển khống chế chế độ làm việc của tháp chưng cất
4. Các loại tháp chưng cất
Phần II
Công nghệ của quá trình
I. Phân loại sơ đồ công nghệ
II. Dây chuyền công nghệ
1.Chọn chế độ công nghệ và sơ đồ công nghệ
2.Chọn sơ đồ công nghệ
3. Thuyết minh sơ đồ chưng cất dầu bằng phương pháp hai tháp
4. Ưu điểm của sơ đồ chưng cất 2 tháp
III. Thiết bị chính trong dây chuyền
1. Tháp chưng cất
2. Các loại tháp chưng luyện
IV.Thiết bị đun nóng
1. Đun nóng bằng khói lò
2. Thiết bị đun nónglò ống

III. Thiết kế tổng mặt bằng nhà máy
Phần VI
An toàn
I. Khi thiết kế mặt bằng xí nghiệp
II. Kỹ thuật an toàn khi thiết kế sử dụng máy móc, thiết bị
III. An toàn điện
IV. An toàn trong xây dựng
V. Biện pháp phòng chống cháy nổ trong nhà máy
Kết luận
TàI liệu tham khảo
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn ts.Nguyễn Hữu Trịnh người đã tận tình
hướng dẫn giúp đỡ em về mặt kiến thức khoa học, với sự ân cần chỉ bảo của
thầy đã giúp đỡ em hiểu được những vấn đề cần thiết và hoàn thành bản đồ
án này đúng thời gian qui định.
Tuy nhiên với khối lượng công việc hoàn thành trong thời gian có
hạnnên em không thể tránh khỏi nhwngx sai sót và vướng mắc nhất định.
Vậy em kính mong thầy giáo, cô giáo chỉ bảo cho em.
Một lần nữa cho em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ác thầy giáo cô
giáo trong Bộ môn Công Nghệ Hữu Cơ - Hoá dầu đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong thời gian vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Hoàng Danh Kiên
Mở đầu
Dầu mỏ được con người biết đến từ thời cổ xưa, đến thế kỉ 18, dầu mỏ
được sử dụng làm nhiên liệu để đốt cháy, thắp sáng. Sang thế kỉ 19, dầu mỏ
được coi nh là nguồn nhiên liệu chính cho mọi phương tiện giao thông và cho
nền kinh tế quốc dân.


bước vào thời kỳ mới, thời kỳ mà cả nước ta đang thực hiện mục tieu công
nghiệp hoá và hiện đại hoá. Chắc chắn ự đóng góp của nghành dầu khí sẽ rất
có ý nghĩa, không những chỉ bằng các chỉ tiêu kinh tế cụ thể mà nghành kinh
tế mũi nhọn này còn là nguồn đoọng viêntinh thần của toàn Đảng ,toàn dân ta
và nhất là các thành viên đang hoạt động trong nghành dầu khíhăng hái lao
động sáng tạo, góp phần xây dựng đÊt nước.
Hiệu quả sử dụng dầu mỏ phụ thuộc vào chất lượng của quá trình chế
biến. Theo các chuyên gia vÒ hoá dầu ở Châu Âu, Việc đưa dầu má qua các
quá trình chế biến nâng cao được hiệu quả sử dụng của dầu mỏ lên 5 lần, và
như vậy tiết kiệm được nguồn tài nguyên quí hiÕm này.
Dầu mỏ là hỗn hợp phhức tạp gồm hydrocacbon, khí thiên nhiên, khí
dầu mỏ và các hợp chất khác nh co
2
, N
2
, H
2
S, He, Ar …. Dầu mỏ muốn sử
dụng được thì phảI tiến hành phân chia thành từng phân đoạn nhỏ.Sự phân
chia đó dựa vào phương pháp chưng cất ở các khoảng nhiệt độ khác nhau
.Quá trình chưng cất dầu là một quá trình vật lý phân chia dầu thô thành các
thành phần gọi là các phân đoạn . Quá trình này được thực hiện bằng các biện
pháp khác nhau nhằm để tách các cấu tử có trong dầu thô theo từng khoảng
nhiệt độ sôi khác nhau mà không làm phân huỷ chúng .Tùy theo biện pháp
tiến hành chưng cất mà người ta phân chia quá trình chưng cất thành chưng
cất đơn giản ,chưng cất phức tạp ,chưng cất nhờ cấu tử bay hơi hay chưng cất
trong chân không.Trong các nhà máy lọc dầu ,phân xưởng chưng cất dầu thô
cho phép ta thu được các phân đoạn dầu mỏ đÓ chế biến tiếp theo.
Trong đồ án này sẽ tiến hành đề cập tới các vấn đề lý thuyết có liên
quan.Trên cơ sở đó thiết kế dây chuyền chưng cất dầu thô nhiều phần nhẹ.

Phân loại dầu mỏ theo họ hydrocacbon là phương pháp phân loại
thông dụng nhất. Theo cách phân loại này dầu mỏ nói chung sẽ mang đặc
tính của loại hydrocacbon nào chiếm ưu thế trong đó nhất. Như vậy trong dầu
mỏ có 3 loại hydrocacbon chính: paraffin, naphaten và hydrocacbon thơm, có
nghĩa là sẽ có 3 loại dầu mỏ tương ứng là dầu mỏ parafinic, dầu mỏ
naphtenic, dầu mỏ aromatic, nếu một trong từng loại trên lần lượt chiếm ưu
thế về số lượng trong dầu mỏ.
Dầu má parafinic sẽ mang tính chất hoá học và vật lý đặc trưng của các
hydrocacbon họ parafinic, tương tự dầu mỏ naphtenic sẽ mang tính chất hoá
học và vật lý đặc trưng của hydrocacbon họ naphtenic. Dầu mỏ aromatic sẽ
mang tính chất hoá học và vật lý đặc trưng của hydrocacbon họ thơm.
Tuy nhiên trong thành phần nặng trên 350
0
C các hydrocacbon thường
không còn nằm ở dạng thuần chủng nữa mà bị hỗn hợp lẫn nhau,lai hoá lẫn
nhau. Do đó để phân loại thường phải xét sự phân bố từng họ hydrocacbon
chỉ trong các phân đoạn chưng cất. Trong thực tế những họ dầu thuần chủng
rất Ýt gặp đặc biệt là họ dầu aromatic hầu nh trên thế giới không có. Vì vậy
những trường hợp mà hydrocacbon trong đó chiếm tỷ lệ không chênh lệch
nhau nhiều, dầu mỏ sẽ mang đặc tính hỗn hợp trung gian giữa những loại
hydrocacbon đó.
Nh vậy 3 họ dầu chính sẽ gặp những họ dầu trung gian giữa parafinic -
naphtenic - aromatic.
Bằng cách nh vậy rõ ràng dầu mỏ có thể phân thành các họ sau:
Có 3 họ chính
+ Họ parafinic
+ Họ naphtenic
+ Họ aromatic
Có 6 họ dầu trung gian:
Họ naphteno – parafinic

C ở áp suất chân không (tương
ứng 390 - 415
0
C ở áp suất thường).
Căn cứ vào tỷ trọng ta đo được 2 phân đoạn và đối chiếu vào giới hạn
qui định cho từng loại dầu trong bảng dưới đây mà xếp dầu thuộc họ nào.
Họ dầu mỏ Phân đoạn 1 Phân đoạn 2
Họ parafinic
Họ parafino - trung gian
Họ trung gian - parafinic
Họ trung gian
Họ trung gian-naphtenic
Họ naphteno- trung gian
Họ naphtenic
≤ 0,8251
≤ 0.8251
0.8256 ữ 0,8597
0.8256 ữ 0,8597
0,8265 ữ 0,8597
≥0,8602
≥0,8602
≤0,8762
0,8767 ữ 0,334
< 0,8762
< 0,8767 ữ 0.9334
≥ 0.9340
0.8767 ữ 0.9334
≥ 0.9304
2. Thành phần hoá học
a) Hydrocacbon họ parafinic

các chất paraffin rắn có liên quan đến độ linh động của dầu mỏ. Hàm lượng
của chúng càng cao, nhiệt độ đông đặc của dầu càng lớn. Tuy nhiên các
parafin rắn tách từ dầu thô lại là nguyên liệu quý để tổng hợp hoá học, nh để
điều chế : Chất tẩy rửa tổng hợp, tơ sợi, phân bón, chất dẻo ….
Các izo-parafin thường chỉ nằm ở phần nhẹ và phần có nhiệt độ sôI
trung bình của dầu. Chúng thường có cấu trúc đơn giản: mạch chính dài,
nhánh phụ Ýt và ngắn, nhánh phụ thường là nhánh metyl. Các izo-parafin có
số các bon từ C
5
- C
10
là các cấu tử rất quí trong phần nhẹ của dầu mỏ, chúng
làm tăng khẳnng chống kích nổ của xăng. So với n-parafin thì izo-parafin có
độ linh động cao hơn.
Thành phần và cấu trúc của cac hydrocacbon họ parafinic này trong
các phân đoạn của dầu mỏ quyết định rất nhiều đến hiệu suất và chất lượng
của các sản phẩm thu được. Những hydrocacbon họ parafinic từ C
17
trở lên
có cấu trcs thẳng n-parafin, trong dầu mỏ là những hydrocacbon rắn, chúng
thường nằm dưới dạng các tinh thể lẫn lộn với các hợp chất khác trong dầu
mỏ. Các parafin này có cấu trúc tinh thể dạng tấm hoặc dạng dài có nhiệt độ
nóng chảy từ 40 - 47
0
C chúng thường có trong các phân đoạn dầu nhờn. Sự
có mặt của các hydrocacbon parafinic loại này trong dầu mỏ tuỳ theo mức độ
nhiều Ýt mà sẽ có ảnh hưởng lớn nhỏ đến tính chất lưu biến của dầu mỏ
nguyên khai.
Các hydrocacbon parafinic trong dầu mỏ (dạng khí và lỏng) còn là một
nguyên liệu ban đầu rất quí để tổng hợp hoá học, vì vậy thường sử dụng hoặc

loại trên khoảng 5 - 30%, chúng thường là hững loại vòng thơm. ảnh hưởng
của hydrocacbon loại này trong thành phần các sản phẩm dầu mỏ thay đổi
khác nhau. Loại hydrocacbon aromatic thường gặp là loại một vòng và đồng
đẳng của chúng (BTX). Các chất này thường nằm trong phần nhẹ và là cấu tử
làm tăbg khẳ năng chống kích nổ của xăng. Các chất ngưng tụ 2,3 hoặc 4
vòng thơm có mặt trong phần có nhiệt độ sôi trung bình à cao của dầu mỏ;
hàm lượng các chất này thường Ýt hơn.
Trong thành phần cặn các loại dầu mỏ đều tập trung các hydrocacbon
loại thơm ngưng tụ cao song ở đây cấu trúc đã bị lai hợp với các mức độ khác
nhau giữa 3 loại: thơm – naphten – parafin.
Ngoài thành phần các hydrocacbon kể trên trong dầu mỏ bao giờ cũng
chứa các hợp chất khác không phải hydrocacbon, ngoài hydro và cacbon
trong phân tử của chúng có chứa các nguyên tố O, N ,S và các kim loại. Đó là
các hợp chất phi hydrocacbon trong đó đáng kể nhất là các hợp chưa S và
nhựa asphanten.
d) Các hợp chất chứa lưu huỳnh
Các hợp chất chứa lưu huỳnh của dầu mỏ có thể ở dạng khí hoà tan trong
dầu (H
2
S) hoặc ở dạng lỏng phân bố hầu hết trong các phân đoạn dầu mỏ.
Phân đoạn càng nặng các hợp chất chứa lưu huỳnh càng nhiều so với các
phân đoạn nhẹ. Các chất hữu cơ có chứa lưu huỳnh là loại hợp chất phổ biến
nhất, làm xấu đi chất lượng của dầu thô.
ảnh hưởng của các hợp chất chứa lưu huỳnh chủ yếu gây ăn mòn thiết
bị công nghệ khi chế biến, ăn mòn độngncơ khi sử dụng, các sản phẩm chứa
nhiếu lưu huỳnh gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy dầu mỏ chứa nhiều các hợp
chất chứa lưu huỳnh phải sử dụng nhiều quá trình công nghệ phụ thêm để
làm sạch các sản phẩm cũng như sử dụng các thiết bị công nghệ với các vật
liệu chịu ăn mòn ( tháp chưng sở khởi) do đó giá thành hạ các sản phẩm khi
chế biến dầu mỏ nhiều S, rất nhiều sản phẩm cũng không đạt chất lượng

5
-
C
10
với nhiệt độ sôi từ 110 - 180
0
C.
- Phân đoạn kerosene có nhiệt độ sôi từ 180 - 250
0
C . Bao gồm
các cấu tử từ C
11
- C
15
.
- Phân đoạn gazoi nhẹ có khoảng nhiệt độ sôI 250 - 350
0
C bao
gồm các cấu tử từ C
10
- C
20
.
- Phân đoạn gazoil nặng hay còn gọi là phân đoạn dầu nhờn bao
gồm các cáu tử từ C
21
- C
35.
- Phân đoạn cặn goudron co nhiệt độ sôi > 500
0

octan cao. Vì vậy phân đoạn xăng lấy trực tiếp từ dầu mỏ thường không đáp
ứng được yêu cầu về khẳ năng chống kích nổ khi ứng dụng làm nguyên liệu
cho động cơ xăng, chúng có trị số octan thấp từ 30 - 60 trong khi yêu cầu trị
số octan cho động cơ xăng phải từ trên 70. Vì vậy để có thể sử dụng được
phải áp dụng các biện pháp nâng cao khả năng chống kích nổ của xăng ( nâng
cao trị số octan) lấy trực tiếp từ dầu mỏ.
Phân đoạn xăng còn được sử dụng vào mục đích sản xuất
nguyên liệu cho hoá dầu, chủ yếu dùng đÓ sản xuất các hydrocacbon
thơm (BTX) và dùng để sản xuất các hydrocacbon olefin nhẹ (etylen,
propylene, butadien).
3. Phân đoạn kerosen
Nhiên liệu dùng cho động cơ phản lực được chế tạo từ phân đoạn
kerosene hoặc từ hỗn hợp giửa phân đoạn kerosene với xăphan đoạn xăng.
Do đặc điểm cơ bản nhất của nhiên liệu ding cho động cơ phản lực là làm
sao có tốc độ cháy lớn, dễ dàng tự bốc cháy ở bất kỳ nhiệt đọ và áp suất nào,
cháy điều hoà không bị tắt trong dòng không khí có tốc độ xoáy lớn nghĩa là
quá trìh cháy phảI có ngọn lửa ổn định. Để đáp ứng yêu cầu trên người ta
they trong thành phần các hydrocacbon của phân đoạn kerosene thì các
hydrocacbon naphten và parafin thích hợp với đặc điểm của quá trình cháy
trong động cơ phản lực nhất. Vì vậy phân đoạn kerosene và phân đoạn xăng
của họ dầu mỏ naphteno – parafin hoặc parafino- naphten là nguyên liệu tốt
nhất để sản xuất nhiên liệu cho động cơ phản lực nêu hàm lượng lưu huỳnh
hoạt động lớn, người ta phảI tiến hành làm sạch nhờ xử lý hydro.
Phân đoạn kerosene của dầu mỏ họ parafinic được sử dụng để sản xuất
dầu hoả dân dụng mà không đòi hỏi quá trình biến đổi thành phần bằng các
phương pháp hoá học phức tạp vì nó đapớ ứng được yêu cầu.
4.Phân đoạn diezen
Phân đoạn diezen là phân đoạn có nhiệt đọ sôI từ 240 - 360
0
C ding làm

0
C được làm nguyên liệu cho sản xuất dầu nhờn bôI
trơn.
5. Phân đoạn gudron
Là sản phẩm cặn của quá trình chưng cất được làm nguyên liệu cho
quá trình cốc hoá để sản xuất cốc hoặc để chế tạo bitum các loại khác nhau
hoặc để chế tạo thêm phần dầu nhờn nặng.
* Trong các phân đoạn trên thì phân đoạn xăng, kerosene, diezen là
những phân đoạn quan trọng, chúng được gọi là các sản phẩm trắng, vì
chúng chưa bị nhuốm màu,. Phân đoạn mazut, dầu nhờn, gudron người ta
gọi là sản phẩm đen.
Do vậy trong dầu mỏ loại nào có trữ lượng các sản phẩm trắng cao thì đó
là loại dầu rất tốt cho quá trình chế biến thu các sản phẩm về nhiên liệu.
Chính vì thế mà tiềm lượng sản phẩm trắng được xem là một trong những chỉ
tiêu đánh giá chất lượng của ầu thô.
III. xử lý dầu thô trước khi chưng cất
Dầu thô trước khi khai thác từ các mỏ dầu và chuyển vào các nhà máy
chế biến. Trước khi chế biến phải tiến hành làm ổn định dầu vì trong dầu còn
có các loại khí hoà tan nh khí đồng hành và các khí phi hydrucacbon. Khi dầu
phun ra khỏi các giếng khoan thì áp suất giảm, nhưng dù sao vẫn còn lại mọt
lượng nhất định lẫn vào trong dầu và phảI tách tiếp trước khi chế bíên, mục
đích là hạ thấp áp suất hơi khi chưng cất dầu thô và nhận thêm nguồn nguyên
liệu cho chế biến dầu. Vì trong các khí hydrocacbon nhẹ từ C
1
- C
4
là nguyên
liệu quý cho quá trình nhận olefin. Xử lý chế biến thực chất là chưng tách bớt
phần nhẹ những để tránh bay hơi cả phần xăng, tốt nhất là tiến hành chưng
cất ở áp suất cao khi đó chỉ có các cấu tử nhẹ hơn C

*Phương pháp lắng: Phương pháp này dùng khi dầu mới khai thác ở giếng
khoan lên,dầu và nước chưa bị khuấy trộn nhiều nên nhũ tương mới tạo Ýt
và nhũ tương chưa bền vững, nước ở dạng tự do còn tương đối lớn. Dầu mỏ
này người ta đem đi lắng, nhờ tỷ trọng nước lớn hơn dầu nước sẽ lắng sơ bộ
và tháo ra ngoài.
Tốc độ lắng của các hạt nước tính theo công thức Stockes nếu kính
thước hạt lớn hơn 0,5 àm .
V=
η
.18
)(
21
2
gddr −
(1)
Trong đó:
V: tóc độ lắng, cm/s
R: đường kính hạt
d
1
,d
2
: tỷ trọng nước và dầu tương ứng, g/cm
3
g: gia tốc trọng trường, cm/s
2
η: độ nhớt động học của hỗn hợp.
Từ công thức (1) ta thấy kích thước hạt của pha phân tán càng nhỏ và
tỷ trọng của nước và dầu khác nhau càng Ýt. Độ nhớt của môi trường càng
lớn thì sự phân lớp và lắng càng xảy ra chậm.

b phỏ v nhng nc vn dng l lng trong du m cha c lng
xung ỏy. Dựng phng phỏp ny l nh li dng tớnh cht thm t chn
lc ca cỏc cht lng khỏc nhau lờn cỏc cht lc khỏc. Phng phỏp lc t
hiu qu rt cao v ng thi cú th tỏch c nc ln mui.
b) Tỏch nh tng nc trong du bng phng phỏp hoỏ hc
Bn cht ca phng phỏp hoỏ hc l cho thờm mt hoỏ hc hot ng
b mt phỏ nh tng.
Khi cỏc iu kin thao tỏc nh nhit , ỏp sut c chn ch
thớch hp thỡ hiu qu ca phng phỏp cng rt cao nhng khú khn nht l
phI chn c cht b mt thớch hp khụng gõy hu qu khú khn cho ch
bin sau ny cng nh khụng phõn hu hay to mụI trng thit b.
c) Tỏch bng phng phỏp dựng in trng.
LC
Máy biến áp
Dầu đã tách muối nuớc
Nuớc sạnh
Dầu thô
Trao đổi nhiệt
Muối, nuớc
trộn
Hình 1*: Sơ đồ công nghệ khu muối nuớc bằng điện
LC
Phng phỏp ding in trng phỏ nh, tỏch mui khi du l mt
phng phỏp hin i cụng sut ln quy mụ cụng nghip v d tự ng hoỏ
nờn cỏc nh mỏy ch bin du ln u s dng phng phỏp ny.
Vỡ bn thõn cỏc tp cht ó l cỏc ht d nhim in tớch nu ta ding
lc in trng mnh s lm thay i in tớch, to iu kin cho cỏc hat
đông tô hay pứ triển làm cho kích thước lớn lên do vậy chúng dễ tách ra khỏi
dầu.
Sự tương tác giữa điện trường và các hạt làm cho các hạt tích điên lắng

chưng cát dầu thô để nhậ các phân đoạn: xăng (naphta nhẹ, naphta nặng) ,
phân đoạn kerosen, phân đoạn diezen và phần cặn còn lại sau khi chưng cất.
Nh vậy tuỳ thuộc vào thành phần dầu mỏ nguyên liệu và mục đích chế biến
mà người ta áp dụng một trong các loại hình công nghệ chưng cất (hình 1: a,
b, c, d)
- Cơ sở lý thuyết của quá trình chưng cất
Qúa trình chưng cất dầu thô là một quá trình phân đoạn. Quá trình
này được thực hiện băng các biện pháp khác nhau nhằm tách các phần dầu
theo nhiệt độ sôi của các cấu tử trong dầu mà không xảy ra sự phân huỷ. Hơi
nhẹ bay lên và ngưng tụ thành phần lỏng tuỳ theo biện pháp tiến hành chưng
cất mà người ta phân chia quá trình chưng cất thành chưng cất đơn giản,
chưng cất phức tạp, chưng nhờ cấu tử bay hơi hay chưng trong chân không.

class="bi x21 yf2 w6 he"
Chú thích:
1. Thiết bị trao đổi nhiệt; 2. Lò đốt; 3 Làm lạnh; 4. Tháp chưng cất; 5.
Tháp tái sinh hơi; 6. Bể chứa; 7. Tháp chưng cất chân không;
I. dầu thô; II. Xăng; III. Khí; IV. Xăng nặng; V. Hơi nước; VI. Kerosen; VII.
Gazoil nhẹ; VIII. Gazoil nặng; IX. Cặn AD; X ữ XV. Dầu nhờn ( Các loại
dầu nhờn).
1. Chưng đơn giản
Chưng đơn giả là quá trình chưng cất được tiến hành bằng cách bay
hơi dần dần, một lần hay nhiều lần, một hỗn hợp chất lỏng cần chưng được
mô tả trên hình 2 ( a, b, c).
a) Chưng cất bay hơi dần dần
Sơ đồ chưng cất bay hơI dần dần được trình bày trên hình 2a gồm:
thiết bị đốt nóng lên tục, một hỗn hợp chất lỏng trong bình chưng 1. Từ nhiệt
độ thấp tới nhiệt độ sôi cuối khi liên tục tách hơI sản phẩm và ngưng tụ hơI
bay lên trong thiết bị ngưng tụ 3 và thu được sản phẩm lỏng trong bể chứa 4.
Phương pháp này thường được áp dụng trong phòng thí nghiệm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status