văn bản nghị luận - Pdf 10

VĂN BẢN VÀ VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
1.1. Văn bản và văn bản văn học
1.1.1. Văn bản
Theo Từ điển Tiếng Việt, VB là bản viết hoặc in mang nội dung nhất định
thường để lưu lại (văn bản chữ Nôm, văn bản kí kết giữa hai nước ), là chuỗi kí
hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó làm thành
một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn.[10; 1360]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm VB được hiểu theo nghĩa rộng
" là bất cứ chuỗi kí hiệu nào có khả năng tiềm tàng có thể đọc ra nghĩa được, bất
kể là có do kí hiệu ngôn ngữ tạo thành hay không. Do đó, một nghi thức, một điệu
múa, một nét mặt, một bài thơ đều là VB”.
Khái niệm VB còn được hiểu theo nghĩa hẹp “VB là một chỉnh thể, một khối
thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả
(người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận). Nghĩa của VB được xác
định bởi quan hệ của nó với thực tại ngoài VB với các VB khác, với từng cá nhân,
với kí ức và các phẩm chất khác nữa của người phát và người nhận thông báo”.[5;
395].
Trên cơ sở các quan niệm trên, VB được hiểu là sản phẩm của hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó là tập hợp hệ thống các kí hiệu ngôn ngữ được tổ
chức theo hình thức chặt chẽ, hướng tới nội dung thông báo trọn vẹn, nhằm mục
đích nhất định trong giao tiếp. Căn cứ vào nội dung thông tin của VB, VB được
chia làm hai loại:
- VB thông thường (VB chức năng): Chứa đựng nội dung thông thường, khi
hiểu nghĩa của VB (nghĩa ngôn từ) thì hiểu được thông tin chứa đựng trong VB.
- VBVH (văn bản nghệ thuật): Chứa đựng nội dung thông tin thẩm mĩ.
1.1.2. Văn bản văn học
VBVH là một tổ chức nghệ thuật gồm từ, câu, nhóm, đoạn nhằm tạo thành
một thế giới nghệ thuật mang tính khái quát, nhằm phản ánh đời sống và biểu hiện
sự cảm thông trước đời sống của tác giả, nhằm thức tỉnh những thái độ, tình cảm
nhất định đối với thực tại đời sống thông qua việc xây dựng nhân vật, không gian,
thời gian, qua việc sắp xếp các chi tiết để tạo thành bức tranh đời sống sinh động

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả khẳng định: “TPVH là công
trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tạo, nhằm thể hiện
những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tình
cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại”.[5; 290]. Theo khái niệm này, các tác giả
đã đưa ra các đặc trưng của TPVH với chất liệu đặc thù là ngôn từ, phương thức
biểu hiện đời sống đặc thù là hình tượng nghệ thuật.
1.1.4.2. Phân biệt văn bản văn học và tác phẩm văn học
Nếu VBVH chỉ là hệ thống các kí hiệu ngôn ngữ cố định, những con chữ vô
hồn trên trang giấy thì TPVH là kết quả tiếp nhận của độc giả, và là cái vô hình tồn
tại trong thế giới tinh thần của người đọc. TPVH là phần tinh thần, cái không thể
nhìn thấy được bằng thị giác mà phải là sự tổng hợp của của mọi giác quan, có khi
lấy cả hồn mình ra để cảm nhận. VBVH chỉ trở thành TPVH khi có người đọc nó.
1.2. Văn bản nghị luận
1.2.1. Khái niệm
Văn nghị luận là thể văn ra đời từ rất lâu. Ở Trung Hoa, sự ra đời của văn
nghị luận được đánh dấu bởi những cuốn Kinh Thi, Luận ngữ Ở nước ta, văn
nghị luận đã xuất hiện trong dòng văn học dân gian dưới hình thức những câu tục
ngữ của nhân dân lao động.
Xoay quanh khái niệm VBNL tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau. Trong
cuốn Từ điển bách khoa của Mĩ, các tác giả đã khẳng định văn nghị luận thuộc
dạng thức văn không hư cấu (form of nonfiction). Điều này có nghĩa văn nghị luận
không dùng đến một hoạt động cơ bản của tư duy hình tượng - hư cấu mà văn nghị
luận dựa vào tư duy logic để trình bày tư tưởng, quan điểm nào đó của người viết.
Theo quan điểm này, văn nghị luận cũng là một TPVH nhưng không dùng đến hư
cấu.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả khẳng định văn chính luận là
một dạng của văn nghị luận: " viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh
vực đời sống khác nhau (chính trị, kinh tế, triết học, văn hoá ). Mục đích của văn
chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng,
một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích một tầng lớp, một giai

VD: "Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ từng tiếng một
vang lên để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây
ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt
trên nền trời Chiều, chiều rồi, một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái
kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào "
Trên đây là đoạn văn miêu tả được trích trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của
Thạch Lam. Trong đoạn văn này, tình cảm, thái độ, tư tưởng của tác giả không
được thể hiện trực tiếp mà được gửi gắm đằng sau bức tranh thiên nhiên buổi chiều
phố huyện.
Trong khi đó, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã giãi bày trực tiếp tâm
trạng của tác giả: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt,
nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức sao chưa được xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu
quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da
ngựa. Ta cũng cam lòng ". Người đọc dễ dàng cảm nhận được tình cảm yêu nước,
căm thù giặc sâu sắc của tác giả Trần Quốc Tuấn.
Với Đại cáo bình Ngô - áng thiên cổ hùng văn của dân tộc Việt Nam, quan
điểm nhân nghĩa cũng được Nguyễn Trãi thể hiện một cách trực tiếp:
" Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo "
" Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo "
Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, tác giả Hoài Thanh cũng trực tiếp thể hiện
quan điểm, nhận định riêng, độc đáo của mình về cái tôi của thời đại Thơ mới: "
Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong
phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn
thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy
Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như
Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân
Diệu ".
Có thể nói, người viết phát biểu một cách trực tiếp quan điểm, thái độ, tư

- Là lẽ phải và sự thật hiển nhiên mà
cả người viết và người đọc đều thừa
nhận.
- Là cái dùng để chứng minh, thuyết
phục.
- Bị chi phối, quy định bởi luận điểm.
Từ sự phân tích trên, cấp độ của một VBNL được mô hình hoá như sau:
Luận đề
Luận điểm
Luận cứ
Lí lẽ
Dẫn chứng
Tuy nhiên, không phải cứ VBNL nào có luận điểm cũng là VBNL hay mà
điều quan trọng quyết định một VBNL hay là các luận điểm phải độc đáo, mới mẻ,
sâu sắc. Nếu chỉ dừng lại ở những luận điểm cũ đã quen thuộc thì sẽ không tránh
khỏi sự nhàm chán, đơn điệu. Do vậy, yêu cầu đặt ra với các luận điểm trong
VBNL phải là các ý hay. Mà ý hay được hiểu trước hết là những ý đúng, ý sâu, rồi
tiếp đó phải là những ý mới, ý riêng, tập trung làm nổi bật luận đề. Đồng thời, nó
phải có cơ sở đạo lí và khoa học vững chắc, có sức thuyết phục với người đọc,
người nghe.
VD: Luận điểm mở rộng trong bài viết Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng
trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng: "Trên trời có những vì sao có
ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới
thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.”
Có thể nói, đây là một ý hay, độc đáo trong bài viết này.
VBNL còn có luận điểm chính và luận điểm phụ. Trong đó, luận điểm chính
thường được dùng làm kết luận của VB, là cái đích mà nghệ thuật lập luận dẫn dắt
người đọc đạt tới. Còn luận điểm phụ thường được dùng làm luận điểm xuất phát
hay luận điểm mở rộng trong quá trình lập luận.
Tóm lại: VBNL không thể không có luận điểm hay nói khác đi luận điểm là

khi người viết thường giả định là người đọc, người nghe không đồng tình với ý
kiến của mình để từ đó lập luận ngược lại. Người viết dùng tất cả lí lẽ và dẫn
chứng hòng đánh đổ luận lí của đối phương và buộc đối phương phải tâm phục,
khẩu phục. Yêu cầu này của lập luận làm tăng sức thuyết phục của VBNL.
VD: Trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, màu sắc đối thoại, tranh luận
thể hiện rất rõ: " Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không thể
đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh,
dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý ngàn vàng khôn chuộc và lại vợ con
bìu ríu, việc quân cơ trăm sự ích chi, tiền của tuy nhiều không mua được đầu giặc,
chó săn tuy khoẻ không đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho
giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ ta cùng
các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!". Trong đoạn văn này, Trần Quốc
Tuấn đang đối thoại, tranh luận với tướng sĩ nhằm mục đích bác bỏ thú vui vô bổ
của họ, kêu gọi họ tập trung vào rèn luyện võ thuật, mưu lược để đương đầu với kẻ
thù.
Thực tế viết văn có rất nhiều cách lập luận khác nhau. Tuy nhiên, một số
cách lập luận thường xuất hiện trong VBNL:
- Lập luận theo hướng tổng phân hợp
- Lập luận theo hướng diễn dịch: Luận điểm được đưa ra trước, các lí lẽ và
dẫn chứng được nêu ra sau.
- Lập luận theo hướng quy nạp: Là cách lập luận đi từ luận cứ đến luận
điểm, từ luận điểm mở rộng đến luận điểm chính.
- Lập luận so sánh: Là cách tổ chức lí lẽ, dẫn chứng theo phương thức đối
chiếu hai hay nhiều sự vật hoặc là các mặt trong cùng một sự vật để chỉ ra sự giống
và khác nhau. Từ đó, làm rõ đặc điểm một sự vật hoặc mỗi sự vật được đem ra so
sánh.
- Lập luận phân tích: Trên cơ sở nêu ra và phân tích, đánh giá các luận cứ,
người viết dẫn dắt người đọc đến luận điểm cần nhận thức.
- Ngoài ra, còn có các cách lập luận khác: nêu câu hỏi, lập luận móc xích,
lập luận tương đồng và lập luận tương phản

các cuộc khởi nghĩa của chúng ta trong bể máu"
"Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ"
c. Câu văn
Xuất phát từ hai đặc trưng trên của VBNL nên câu văn trong VBNL ít dùng
loại câu mô tả, trần thuật, kể lể sự việc như trong văn miêu tả, văn kể chuyện mà
chủ yếu là câu khẳng định hoặc phủ định với nội dung hầu hết là các phán đoán,
nhận xét, đánh giá sâu sắc, chắc chắn.
VD: Trong bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã viết:
"Nhưng ta trách gì Xuân Diệu, Xuân Diệu nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất
cho thời đại, chỉ nói cái khổ sở, thảm hại nhất của hết thảy chúng ta."
" Đó, tất cả bi kịch đương diễn ra ngấm ngầm dưới những phù hiệu dễ dãi
trong hồn người thanh niên."
Những câu văn đó là những lời phán đoán, nhận xét nhưng cũng rất độc đáo,
riêng biệt của Hoài Thanh về bi kịch của cái "tôi" trong thời đại Thơ mới.
Bên cạnh những câu văn chặt chẽ, mạch lạc như vậy thì trong VBNL còn sử
dụng những câu văn giàu hình ảnh, có sức mạnh lôi cuốn và nhiều khi có ngữ điệu
độc đáo.
VD: Những câu văn rất ấn tượng, lôi cuốn của Hoài Thanh trong Một thời
đại trong thi ca khi viết về các hướng mà Thơ mới khai thác, đào sâu vào cái tôi:
"Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng
đi sâu càng lạnh. Ta thoắt lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình
cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta say đắm
cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi
tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận".
Đặc điểm này của câu văn góp phần không nhỏ vào hiệu quả tạo nên tính
thuyết phục của những VBNL cũng như đem lại chất trữ tình cho những áng văn
nghị luận.
c. Giọng điệu
Giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng của VBNL bởi nó góp
phần tạo nên sức thuyết phục của VBNL. Hiệu quả thuyết phục của giọng điệu thể

văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng); Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng
(Nguyễn Đăng Mạnh)
Nghị luận về trào lưu văn học: Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)
Nghị luận về văn học nghệ thuật: Ý nghĩa văn chương (Hoài Thanh), Tiếng
nói của văn nghệ (Nguyễn Đình Thi), Mấy ý nghĩ về thơ (Nguyễn Đình Thi)
Chính sự phong phú về đề tài kéo theo sự đa dạng của các hình thức lập luận
như: giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp
VD: “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”, tác
giả Phạm Văn Đồng vận dụng nhiều phép lập luận như: phép lập luận so sánh,
phép lập luận tổng-phân-hợp, phép lập luận có tính chất đòn bẩy
b. Bố cục của văn bản nghị luận văn học hiện đại rất đa dạng nhưng thường
gồm có ba phần: mở bài-thân bài-kết bài
Bố cục của VBNLVHHĐ thường gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết bài.
Phần mở bài là đoạn văn ngắn trong đó toát lên vấn đề cần nghị luận (luận điểm
chính). Phần thân bài trình bày các nội dung nghị luận tức là phân tích bằng các
luận điểm, luận cứ cụ thể để làm rõ luận điểm chính của bài văn. Phần kết bài
thường liên hệ vấn đề nghị luận với đời sống nhận thức của người đọc.
VD: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
(Phạm Văn Đồng) rất tiêu biểu cho bố cục ba phần như trên.
c. Văn bản nghị luận văn học hiện đại sử dụng ngôn ngữ hàng ngày và mang
đậm dấu ấn chủ quan của người viết
- VBNLVHHĐ sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, cách hành văn gần gũi, đời
thường, dễ hiểu, không sử dụng nhiều điển tích, điển cố như trong VBNL trung
đại.
- VBNLVHHĐ in đậm dấu ấn chủ quan của người viết
VD: Cùng là nghị luận văn học, nhưng Hoài Thanh trong các bài viết của
mình thể hiện một phong cách viết phê bình tài hoa, hóm hỉnh lấy hồn ta để hiểu
hồn người với lời văn gợi cảm, gợi nghĩ qua các hình ảnh ẩn dụ. Còn Nguyễn Đình
Thi qua các bài viết của mình thì thể hiện một phong cách phê bình độc đáo, sắc
sảo với lời văn giàu tính phân tích, tổng hợp, so sánh

Nguyên Hồng (Nguyễn Đăng
Mạnh)
b. Nhận xét
Các VBNLVHHĐ trong chương trình SGK Ngữ văn THPT chiếm một số
lượng đáng kể và chủ yếu thuộc thể loại PBVH.
1.2.4.4. Phê bình văn học
a. Khái niệm
PBVH là một bộ phận của văn học, có chức năng thẩm bình, đánh giá, lí giải
các hiện tượng văn học như tác phẩm, tác giả, khuynh hướng, trào lưu văn học
b. Đặc điểm
- PBVH dựa trên cơ sở những cảm thụ tinh tế, phong phú trước những giá trị
văn chương, nhưng cái đích của PBVH là phải đưa ra được các nhận định đúng đắn
về các hiện tượng văn học.
- Trong diễn đạt, văn phê bình cũng thường kết hợp được cả hai yêu cầu vừa
chính xác, chặt chẽ vừa giàu cảm xúc, hình ảnh.
- PBVH có vai trò tích cực đối với đời sống văn học. Trên cơ sở những
khám phá và khẳng định những giá trị chân chính, phê phán những mặt yếu kém
trong văn học, PBVH bao giờ cũng góp phần bồi dưỡng và nâng cao trình độ thẩm
mĩ cho người đọc, góp phần tác động tích cực đến hoạt động của người sáng tác.
Chính vì vậy, người ta đã coi PBVH là bạn đồng hành của sáng tác.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status