SKKN văn bản nghị luận - Pdf 71

Đề tài: Giúp học sinh nhận biết, phân biệt các hình thức văn nghị luận.
A. Đặt vấn đề.
I. Lời nói đầu.
Tích hợp là quan điểm cơ bản của việc đổi mới nội dung chơng trình SGK và đổi
mới phơng pháp dạy học trong bộ môn Ngữ văn của nhiều năm nay. Trong chơng trình
SGK Ngữ văn THCS, các tác giả biên soạn đã thể hiện rất rõ quan điểm tích hợp này ở
mọi hình thức: tích hợp ngang giữa các phân môn, tích hợp dọc, tích hợp đồng tâm Sự
đổi mới này không chỉ giúp học sinh có đợc kiến thức tổng hợp mà còn có kỹ năng tốt hơn
trong quá trình học và làm văn.
Một trong những nhiệm vụ cơ bản của môn Ngữ văn ở trờng phổ thông nóichung và ở
trờng THCS nói chung là phải giúp học sinh hình thành bốn kỹ năng cơ bản là: Nghe, nói,
đọc, viết; trong đó kỹ năng viết có một vai trò vô cùng quan trọng. Nhiệm vụ hình thành
kỹ năng viết chính là ở phân môn Tập làm văn, chính vì vậy chỉ riêng ở phần tập làm văn
ở lớp 9, bên cạnh việc hớng dẫn các em viết những văn bản hành chính thông dụng nh:
Biên bản, Hợp đồng, Th (điện) chúc mừng và thăm hỏi, sẽ đi sâu hơn vào ba kiểu văn bản
Thuyết minh, Tự sự, Nghị luận, giúp các em biết sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và
yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh, yếu tố miêu tả và nghị luận, đối thoại, độc thoại
và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự, phép phân tích và tổng hợp trong văn bản nghị
luận. Về văn bản nghị luận, các em sẽ đợc tìm hiểu sâu hơn về hai hình thức thờng gặp
nhất là nghị luận xã hội, một hình thức trớc đây cha đợc chú ý đúng mức trong nhà trờng
và nghị luận văn học với hai dạng cụ thể là nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn
trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Nhng trong thực tế có thể khẳng định rằng
thể loại văn nghị luận là một thể loại văn khá khó đối với học sinh THCS. Qua quá trình
giảng dạy tôi nhận thấy rằng một bộ phận lớn học sinh cha thực sự có kỹ năng xác định
luận điểm, luận cứ; cha xác định và phân biệt đợc các yêu cầu khác nhau của các hình
thức văn nghị luận.
II.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
1.Thực trạng.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trờng THCS , tôi nhân thấy
khi giảng dạy phân môn Tập làm văn và cụ thể là kiểu bài văn nghị luận đang tồn tại
những vấn đề sau:

biện pháp nho nhỏ để nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và học các hình thức văn nghị
luận ở trờng THCS.

B.Giải quyết vấn đề
2
Đề tài: Giúp học sinh nhận biết, phân biệt các hình thức văn nghị luận.
I. Các giải pháp thực hiện.
1.Nghị luận là gì?
Nghị luận nghĩa bàn và nhận định, đánh giá về một tình hình, một vấn đề nào đó(Từ
điển Tiếng Việt).
2. Phân loại:
Có hai loại Nghị Luận:
+ Nghị luận chính tri, xã hội.
+ Nghị luận văn chơng.
Nghị luận về một sự việc hiện tợng trong đời sống xã hội là nghị luận chính trị, xã hội.
Ví dụ: Bàn luận về " Không có gì quý hơn độc lập tự do" là nghị luận chính trị. Nghị
luận về thói đố kị, lòng khoan dung, lòng nhân ái, tệ tham nhũng... là nghị luận xã hội.
Nghị luận tục ngữ là nghị luận xã hội, nh :"Uống nớc nhớ nguồn"; "Tốt danh hơn lành
áo", " Có công mài sắt có ngày nên kim", v.v..
3.Thế nào gọi là văn nghị luận?
Nghị luận là kiểu bài, là phơng pháp nghị luận sử dụng thao tác bàn bac, phân tích
giúp ngời đọc, ngời nghe hiểu đúng, hiểu sâu, hiểu rộng một vấn đề, chỉ rõ vấn đề ấy là
đúng hay là sai, tốt hay xấu, cũ hay mới...đồng thời giúp ngời nghe, ngời đọc có thái độ
đúng, hành động đúng đối với vấn đề đang nghị luận.
Chính vì vậy, một bài nghị luận phải đạt đợc ba mục tiêu cụ thể nh sau:
- Một là, Phân biệt rõ đúng, sai, tốt, xấu, cũ mới... của vấn đề.
- Hai là, mở rộng, khơi sâu tầm nhận thức, sự hiểu biết về vấn đề đó.
- Ba là, xác định rõ thái độ, tình cảm, hành động đúng đắn khi đối diện với vấn đề ấy.
4. Các thao tác nghị luận.
Một bài nghị luận phải nâng vấn đề có ý nghĩa khái quát, có giá trị lý luận và thực

vế, ta phải:
- Có lúc gộp bớc 2 và 3, kết hợp nghị luận trong từng vế.
- Có lúc phải gộp cả ba bớc trong từng vế cụ thể.
- Đọc các bài văn minh hoạ sẽ thấy rõ sự sáng tạo trong văn nghị luận phản ánh trí tuệ và
độ thông minh, nhạy cảm của ngời học sinh.
6.Dàn ý một bài văn nghị luận.
a,Mở bài:
Cần có hai nhân tố sau, gắn liền với nhau, hô ứng nhau: dẫn, nhập.
- Dẫn: là dẫn dắt hớng về luận đề. Cần đúng hớng cha vội nêu bật ý nghĩa của vấn đề. Có
nhiều cách dẫn dắt nh nêu xuất xứ của vấn đề, hoặc nêu hoàn cảnh( xã hội, lịch sử, nghệ
thuật, học thuật... ) của vấn đề xuất, hiện, nảy sinh. Cũng có thể nêu mục đích của vấn đề
phải nghị luận. Cũng có trờng hợp sử dụng cách so sánh, nghi vấn hoặc tơng phản, ...nói
chung là cần biến hoá linh hoạt.
- Nhập: là nhập đề. Dẫn với gắn liền với nhập nh hình với bóng. Nhập tức là nêu vấn đề
phải bình luận. Nếu danh ngôn, câu văn, câu thơ, ca dao, tục ngữ... đợc chỉ định trong đề
bài, thì ta phải giới thiệu trích dẫn và đặt trong dấu ngoặc kép.
- Mở bài bài văn nghị luận cần thể hiện một phong độ và s sâu sắc.
b,Thân bài: Có ba bớc sau.
- Bớc 1: Phải giải thích vấn đề. Giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, rút ra ý nghĩa của vấn
đề. Tục ngữ, ca dao thì phải giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng. Câu văn, câu danh ngôn, câu
thơ (Đặc biệt là thơ cổ)... thì ta phải giải thích từ khó, khái niệm, để từ đó tìm ra hàm
nghĩa, nội dung ý nghĩa. Không thể đơn giản bớc 1, nếu là nghị luận ca dao, tục ngữ, thơ
văn cổ.
- Bớc 2: là bình.
Nghĩa là phải khẳng định vấn đề đúng hay sai. Dùng lý lẽ để phân tích đúng sai của
vấn dề. Chỉ ra đợc nguyên nhân: Tai sao đúng? Vì sao sai? Đúng sai nh thế nào? Nếu
thiếu lý lẽ hoặc lý lẽ nông cạn, nếu thiếu kiến thức hoặc hiểu biết lờ mờ, thì làm sao mà
bình, mà khen mà chê đợc. Có lúc ngời viết phải sử dụng một vài dẫn chứng để minh hoạ
cho cái sai, cái đúng của vấn đề. Quan điểm, lập trờng nhận thức về t tởng, đạo đức, về
hoạ thuật của ngời nghị luận thể hiện rõ ở phần này. Cần một cách viết sắc và gọn, linh

- Học mà không hành thì cũng vô ích.
- Hành mà không học thì hành không trôi chảy.
c, Kết bài:
- Nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề đang nghị luận.
- Rút ra bài học (t tởng, tình cảm, nhận thức...) nêu phơng hớng hành động.
- Mở ra một vấn đề liên quan với vấn đề đang nghị luận ( vấn đề nghị luận đã khép lại,
một vấn đề mới lại đợc nêu ra, xuất phát từ vấn đề trớc- rất hay, rất khó).
II.Các biện pháp tổ chức thực hiện.
A. Các hình thức nghị luận.
1. Nghị luận xã hội.
1.1.Nghị luận về một sự việc, hiện tợng đời sống.
a, Nhận diện.
Nghị luận về vấn đề t tởng, đạo đức, lối sống là bài nghị luận xã hội, trong đó ngời viết
phải bàn luận, bình phẩm, khen, chê về các biểu hiện trong cộng đồng đã và đang diễn ra.
Ví dụ: Lòng hiếu thảo, tính khoe khoang, sự đua đòi, tinh thần tự học, đạo lý uống n-
ớc nhớ nguồn, hiện tợng vứt rác bừa bãi...
Trong đời sống xã hội thờng xảy ra vô vàn những sự việc, hiện tợng. Xét về tính chất, có
những sự việc, hiện tợng lớn nh chiến tranh, tình trạng tai nạn giao thông, tình trạng thiên
tai hoả hoạn, sự xuông cấp về đạo đức; nhng cũng có những sự việc, hiện tợng nhỏ, đơn
giản nh sự thất hứa, thói đua đòi, đi học muộn, tính hiếu thắng... Ngay trong từng sự việc,
hiện tợng cũng có nhiều tình huống, nhiều cách biểu hiện diễn biến khác nhau. Chẳng hạn
nh cùng là việc đi học, nhng có ngời đi học sớm, có ngời đi học muộn; có ngời đi học
chuyên cần, có ngời lại hay bỏ học... Hay cũng là sự việc giữ gìn vệ sinh công cộng nhng
ngời này thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm, ngời kia lại thờng xuyên vi phạm qui định
chung, lại có ngời cũng thực hiện nhng mang tính chất đối phó.
Đứng trớc những sự việc ấy, con ngời cần phải bày tỏ thái độ của mình: hoặc khen,
hoặc chê; hoặc đồng; hoặc phản đối; hoặc khâm phục tôn trọng, hoặc coi thờng chế giễu...
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status