giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn tại chi nhánh nh đt và pt thành phố hà nội - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Đối với bất kì một quốc gia nào, nhu cầu về vốn nói chung và vốn
trung, dài hạn nói riêng cho đầu tư phát triển kinh tế là rất cần thiết. Vì vậy
trong nền kinh tế tín dụng trung, dài hạn có vai trò đặc biệt quan trọng như:
đối với doanh nghiệp, tín dụng trung, dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn để cải
tiến công nghệ, kỹ thuật, mở rộng sản xuất - kinh doanh, trên giác độ toàn bộ
nền kinh tế tín dụng trung, dài hạn là công cụ thực hiện công nghiệp hoá -
hiện đại hoá thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Và trong hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thương mại (NHTM) thì hoạt động tín dụng nói chung hay
hoạt động tín dụng trung, dài hạn là một trong những hoạt động mang lại thu
nhập lớn cho ngân hàng. Tuy vậy, hoạt động tín dụng trung, dài hạn là một
hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, khi xảy ra rủi ro thì tổn thất là rất lớn (do các
khoản tín dụng trung, dài hạn thường có thời hạn dài, giá trị lớn), thực tế
trong những năm vừa qua đã có những vụ đổ bể tín dụng làm thất thoát hàng
nghìn tỷ đồng. Vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng đặc biệt là chất lượng tín
dụng trung, dài hạn trở thành mối quan tâm hàng đầu của các NHTM.
Do vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung,
dài hạn có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Qua thời gian đi thực
tập tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội, , nhận
thức tầm quan trọng của vấn đề này, tôi chọn đề tài:
“GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG,
DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI”.
2. Mục tiêu, phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng trung, dài hạn
của NHTM trong đó đi sâu vào cho vay trung, dài hạn của NHTM.
Qua phân tích thực trạng tín dụng trung, dài hạn tại Chi nhánh Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội tìm ra những tồn tại, những
nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung, dài hạn.Từ đó tìm ra
1

thế giới và tình hình kinh tế trong nước, hệ thống NHTM ngày càng chiếm vị
trí quan trọng và trở thành bộ phận không thể thiếu đối với nền kinh tế của bất
cứ một quốc gia nào.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách
hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Ngân hàng thương mại thường có các hoạt động cơ bản sau:
- Hoạt động huy động vốn:
Huy động vốn – là hoạt động quan trọng của các NHTM, trên cơ sở
nguồn vốn huy động được thì ngân hàng mới có kế hoạch triển khai tình hình
kinh doanh của mình, ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Vốn huy động của NHTM bao gồm nội tệ, ngoại tệ
được hình thành chủ yếu từ: nhận tiền gửi, huy động vốn thông qua phát hành
trái phiếu, kỳ phiếu, vay của NHNN, vay của các tổ chức tín dụng khác ở
trong và ngoài nước… Đồng thời, ngân hàng có thể tự lập nguồn vốn của
mình bằng cách phát hành cổ phiếu (đối với các ngân hàng cổ phần), lập các
quĩ từ lãi thu được.
3
Với số tiền có được từ huy động vốn, ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động
tín dụng (trong đó hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng cao) và đầu tư để đem lại
thu nhập cho ngân hàng.
- Hoạt động tín dụng và đầu tư
+ Hoạt động tín dụng (chủ yếu là hoạt động cho vay): là hoạt động chủ
yếu của các NHTM trong việc sử dụng vốn của ngân hàng để tiến hành cho
vay với các thành phần kinh tế với các thời hạn khác nhau nhằm các mục đích
khác nhau như: bổ sung vốn lưu động hoặc là để đáp ứng nhu cầu mua sắm
tài sản cố định… đáp ứng các nhu cầu của sản xuất kinh doanh hay chỉ là nhu
cầu tiêu dùng của cá nhân.
+ Hoạt động đầu tư: ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn của mình để thực

Như vậy, tín dụng là quan hệ vay mượn gồm cả đi vay và cho vay, tuy
nhiên khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (trung gian tài
chính khác) – tín dụng ngân hàng thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay.
Hoạt động tín dụng bao gồm cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu,
bảo lãnh và một số hoạt động khác. Việc mua trái phiếu của khách hàng cũng
là một hình thức tài trợ cho khách hàng, tuy vậy ở nội dung bài viết này tín
dụng chỉ bao gồm việc tài trợ trực tiếp, còn việc nắm giữ trái phiếu được xếp
vào đầu tư chứng khoán. Trong các hoạt động tín dụng của NHTM thì hoạt
động cho vay là hoạt động quan trọng nhất chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài
sản và đây cũng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM vì lẽ
đó nên nhiều khi nhắc đến tín dụng ngân hàng thì được hiểu là hoạt động cho
vay.
Quan hệ tín dụng ngân hàng có những đặc trưng sau:
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ giao dịch giữa một bên là ngân hàng
và một bên là các thành phần còn lại của nền kinh tế bao gồm: Nhà nước, tổ
chức kinh tế xã hội, cá nhân… Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao
gồm 2 hình thức cho vay (bằng tiền), cho thuê (máy móc, thiết bị, bất động
sản…).
- Quan hệ tín dụng xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người đi vay chỉ
được sử dụng trong một thời gian nhất định, sau khi hết hạn sử dụng người đi
5
vay phải hoàn trả cho người vay, do đó khi ngân hàng xem xét việc cho vay
thì yếu tố quan trọng nhất trong quản lý tín dụng đó là xem xét khả năng trả
nợ của khách hàng vay (dựa trên uy tín của khách hàng, tình hình tài chính
của người vay, dự án đầu tư có hiệu quả của khách hàng, tài sản đảm bảo…).
- Nguyên tắc trong quan hệ tín dụng là giá trị hoàn trả thông thường
phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, tức là người đi vay phải trả thêm một phần lãi
ngoài phần gốc có trách nhiệm hoàn trả. Phần lãi này được ngân hàng xác
định dựa trên lãi suất cho vay, thông thường ngân hàng phải xác định một
mức lãi suất danh nghĩa cao hơn tỉ lệ lạm phát để đảm bảo có được mức lãi

hàng khi khách hàng cầm thương phiếu chưa đến hạn (hay giấy nợ) đến ngân
hàng xin chiết khấu, khoản tiền ứng trước được xác định dựa trên giá trị của
thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng (có tính đến các yếu tố rủi
ro).
+ Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với sự cam kết
hoàn trả của khách hàng sau một thời gian xác định sẽ trả cả gốc và lãi. Cho
vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Cho vay thường được định
lượng theo 2 chỉ tiêu: doanh số cho vay trong kì (tổng số tiền ngân hàng đã
cho vay trong kì), dư nợ cuối kì (tổng số tiền còn cho vay tại thời điểm cuối
kì). Khi lập các báo cáo tài chính thời điểm, cho vay được ghi dưới hình thức
dư nợ.
+ Cho thuê: hoạt động của ngân hàng chủ yếu là cho khách hàng vay
bằng tiền để mua tài sản, tuy nhiên trong nhiều trường hợp khách hàng không
đủ điều kiện để vay (ví dụ như đối với các doanh nghiệp mới thành lập), theo
nhu cầu của khách hàng và trước yêu cầu mở rộng hoạt động tín dụng ngân
hàng sẽ đứng ra mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng rồi cho khách hàng
thuê lại. Tài sản cho thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng, do đó khi khách
hàng không trả được nợ (tiền thuê), ngân hàng có thể thu hồi để cho thuê lại
hoặc đem bán điều này cũng góp phần giảm bớt rủi ro cho ngân hàng.
+ Bảo lãnh: là hoạt động cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo
lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng
khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết. Bảo lãnh
7
thường có 3 bên: bên bảo lãnh (ngân hàng), bên được bảo lãnh (khách hàng
của ngân hàng), bên hưởng bảo lãnh (bên thứ ba).
- Phân loại theo mức độ tín nhiệm với khách hàng:
+ Cho vay không có bảo đảm: đây là hình thức cho vay tín chấp,
thường áp dụng với những khách hàng có uy tín, làm ăn hiệu quả, không xảy
ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của
người vay hay các khoản cho vay theo chỉ thị của Nhà nước không cần tài sản

kiến trúc.
+ Đối với Nhà nước: Nhà nước vay trung, dài hạn để đầu tư phát triển,
tăng trưởng kinh tế.
+ Đối với cá nhân: ngân hàng cho vay với người tiêu dùng nhằm thoả
mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, xe cộ…
Tín dụng trung, dài hạn có 3 đặc trưng chủ yếu sau:
Thứ nhất, giá trị của các khoản tín dụng trung, dài hạn thường là có giá
trị lớn. Nền kinh tế thế giới nói chung hay kinh tế mỗi nước đang nằm trong
xu thế phát triển. Các doanh nghiệp ở mỗi nước đều phải tích cực đổi mới
khoa học công nghệ để nâng cao năng suất lao động, đổi mới mẫu mã, nâng
cao chất lượng sản phẩm tạo nên vị thế cạnh tranh, nếu không đổi mới công
nghệ thì họ sẽ bị lạc hậu sản phẩm làm ra không bán được và từ đó đi đến chỗ
phá sản. Tuy vậy, để đổi mới công nghệ (đầu tư mua máy móc trang thiết bị)
là chuyện không đơn giản vì số vốn để đầu tư là rất lớn, lớn hơn rất nhiều so
với vốn tích luỹ của doanh nghiệp do đó doanh nghiệp sẽ tìm cách để huy
động vốn hay vay vốn. Doanh nghiệp có thể huy động vốn dưới hình thức
phát hành cổ phiếu và trái phiếu tuy nhiên để được phép huy động thì doanh
nghiệp phải hội đủ những điều kiện cho việc phát hành hoặc khi phát hành
nhưng lại không có đủ được số vốn cần thiết. Vì vậy, để có đủ lượng vốn lớn
để đầu tư các doanh nghiệp sẽ tìm đến NHTM để vay vốn trung, dài hạn và
ngân hàng sẽ cho vay dựa trên tình hình hoạt động của doanh nghiệp, bản
thân dự án có hiệu quả.
9
Thứ hai, tín dụng trung, dài hạn có thời gian dài, thời gian hoàn vốn
chậm: tín dụng trung, dài hạn thường được sử dụng để tài trợ cho các dự án
có thời gian dài: đầu tư vào các tài sản cố định, các tài sản này tham gia vào
nhiều chu kì sản xuất kinh doanh, hơn nữa việc thực hiện dự án thường phải
trải qua thời gian thi công, lắp đặt… chính vì vậy, các doanh nghiệp vay vốn
sẽ không có tiền trả nợ trong thời gian này (khi dự án chưa có thu nhập).
Nguồn trả nợ của tín dụng trung, dài hạn được lấy chủ yếu từ nguồn khấu hao

- Đối với khách hàng:
Đối tượng chính của tín dụng trung, dài hạn chủ yếu là các doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì đều cần có vốn để sản
xuất, và hiện nay thì các doanh nghiệp đều phải tự thân vận động để tìm vốn
ngay cả các doanh nghiệp Nhà nước cùng không thể trông chờ vào nguồn vốn
ngân sách như trước. Kênh tín dụng ngân hàng là một kênh cung cấp vốn
quan trọng đối với các doanh nghiệp bởi vì việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu
để huy động vốn cũng gặp phải rất nhiều khó khăn và thị trường chứng khoán
của nước ta hiện nay đang ở trong tình trạng sơ khai. Hình thức cấp tín dụng
của ngân hàng cũng là một hình thức cung cấp vốn có hiệu quả bởi vì việc
cho vay đối với các doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân
hàng vì vậy khi cho vay ngân hàng sẽ phải thẩm định khách hàng vay kĩ
lưỡng (năng lực tài chính, hiệu quả của dự án đầu tư, nguồn trả nợ…) vì khi
có rủi ro khách hàng không trả được nợ thì điều này sẽ gắn liền với tổn thất
của ngân hàng
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì quá trình sản
xuất kinh doanh liên tục, thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu
tư chiều sâu của các doanh nghiệp, góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Xét
nhu cầu về vốn thực tế cho thấy xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn luân chuyển
vốn và sự không ăn khớp về thời gian, giữa khối lượng mua và bán vật tư
hàng hoá phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh dẫn đến một số doanh nghiệp
thiếu hụt về vốn. Mặt khác theo qui luật chung việc tái sản xuất mở rộng, đầu
11
tư theo chiều sâu (bởi vì một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải
nắm bắt và tìm cách để nâng cao chất lượng sản phẩm mẫu mã để đáp ứng
nhu cầu của thị trường) là không ngừng nếu doanh nghiệp chỉ trông chờ vào
nguồn vốn tiết kiệm và tích luỹ để đầu tư thì không thực tế, khó có thể thực
hiện được.
Thêm vào đó, tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quyết định đến thời cơ
kinh doanh và chủ động trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ

đã thực sự là một cầu nối giữa những người có tiền muốn cho vay với những
người thiếu vốn cần vay để thoả mãn được nhu cầu sản xuất kinh doanh và
các chi tiêu. Chính nhờ quá trình này đã góp phần làm giảm gánh nặng cho
ngân sách, ngân sách Nhà nước không phải thực hiện việc bao cấp nhiều như
trước kia. Ngân sách chỉ được sử dụng vào việc đầu tư cơ sở hạ tầng (đường
xá, cầu cống, điện, nước…), đầu tư vào các công trình, hoạt động công ích
hoặc vào một số ngành kinh tế trọng yếu còn lại hầu hết các doanh nghiệp đều
phải tự thân vận động để tìm vốn, trong đó kênh tín dụng của ngân hàng là
một trong những quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp.
+ Đầu tư vào những ngành then chốt, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng sản xuất, tăng
năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Sự phát triển của các ngành kinh tế then chốt chính là yếu tố tạo sự
bình ổn, tự chủ về kinh tế của mỗi quốc gia và cũng là nền tảng vững chắc để
đẩy mạnh các ngành kinh tế mũi nhọn đạt được những ưu thế nhất định trên
thị trường thế giới, tạo thế liên hoàn thúc đẩy, hỗ trợ, lôi cuốn các ngành kinh
tế cùng nhau phát triển toàn diện. Theo chiến lược công nghiệp hoá là phải
tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế đồng thời gắn liền
chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lí, đổi mới công nghệ tạo nền tảng
cho sự tăng trưởng vững chắc và lâu dài. Thông qua hoạt động của mình ngân
hàng có thể cho vay ngành này và không cho vay ngành khác (hay một số
ngành then chốt mũi nhọn được ưu tiên vay vốn phát triển, với lãi suất ưu đãi)
13
điều này sẽ góp phần tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
+ Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu
Nhờ có nguồn vốn từ tín dụng trung, dài hạn các doanh nghiệp có thể
đầu tư máy móc qua việc nhập khẩu trang thiết bị từ nước ngoài - tận dụng
khoa học công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới để ứng dụng vào sản
xuất và từ đó sản xuất ra nhiều mặt hàng đẹp, tốt, giá rẻ để đáp ứng nhu cầu

chọn chỉ tiêu đánh giá thích hợp, ngân hàng đặc biệt quan tâm tới thời gian và
các nguồn dùng để trả nợ ngân hàng. Do vậy, ngân hàng luôn phân tích tài
chính người vay kết hợp với phân tích dự án. Một doanh nghiệp có tình hình
tài chính lành mạnh là cơ sở quan trọng để ngân hàng quyết định cho vay thực
hiện dự án. Các nguồn thu khác của người vay có thể sẽ trở thành nguồn trả
nợ cho ngân hàng bên cạnh nguồn thu của dự án.
- Cho vay hợp vốn:
Cho vay hợp vốn là việc cho vay thực hiện bởi từ hai tổ chức cho vay
trở lên để cho vay một dự án đầu tư với những điều kiện và điều khoản tương
đương: sử dụng hồ sơ chung và quản lí bởi đầu mối chung. Có 2 loại:
+ Hợp vốn trực tiếp: với loại nghiệp vụ này sẽ có một số hợp đồng cho
vay trong đó mỗi ngân hàng cho vay sẽ đồng ý cung cấp một khoản vay với
cùng các điều kiện và điều khoản như các ngân hàng cùng tham gia cho vay
khác. Mỗi hợp đồng cho vay sẽ độc lập với các hợp đồng cho vay khác.
+ Hợp vốn gián tiếp: với loại nghiệp vụ này sẽ có một ngân hàng đứng
đầu hoặc nhiều ngân hàng cùng đứng đầu các ngân hàng này sẽ đứng ra ký
hợp đồng cho vay tạm (như là một bảng ghi nhớ) đối với khách hàng vay tiềm
năng: các ngân hàng này sau đó sẽ tiếp xúc với các ngân hàng khác để mời họ
cùng tham gia góp vốn theo một tỉ lệ trong khoản vay hợp vốn.
Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp dựa án đầu tư
đòi hỏi một số vốn vay quá lớn và một ngân hàng không thể đáp ứng được (vì
15
giới hạn cho vay tối đa với một khách hàng là 15% vốn tự có) hay như một
dự án đầu tư mà ngân hàng thấy phức tạp, tiềm ẩn rủi ro cao và khi đó các
ngân hàng luôn muốn phối hợp thực hiện với nhau để san sẻ rủi ro.
- Cho thuê tài chính:
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là cho vay để khách
hàng mua tài sản. Tuy vậy trong nhiều trường hợp khách hàng không đủ hay
chưa đủ điều kiện để vay (như các doanh nghiệp nhỏ hay mới thành lập chưa
đủ uy tín tín dụng). Vì vậy, ngân hàng đã mua các tài sản theo yêu cầu của

Cho thuê tài chính có những ưu điểm:
+ Cho thuê tài chính giúp ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng của
mình, mở rộng khả năng kinh doanh, tăng thu nhập, tạo ra vị thế cạnh tranh
trên thị trường.
+ Cho thuê tài chính giúp cho các doanh nghiệp nhỏ hay mới thành lập
chưa đủ uy tín dụng thì vẫn có thể có tài sản theo ý muốn để sản xuất, và nó
cũng giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn của mình vẫn có tài
sản để sử dụng mà không cần bỏ vốn ra để mua tài sản, tránh ứ đọng vốn.
+ Việc giao dịch để cho thuê tài chính thì các thủ tục cũng đơn giản
hơn so với các hợp đồng tín dụng.
+ Việc cho thuê tài chính đảm bảo khoản vay được sử dụng đúng đối
tượng vì nó gắn với tài sản cụ thể (theo mục đích của bên đi thuê) và trong
trường hợp khách hàng thuê không trả được tiền thuê thì ngân hàng có thể thu
hồi tài sản điều này giảm bớt rủi ro cho ngân hàng vì không thu hồi được vốn.
- Cho vay tiêu dùng
Ngân hàng cho vay tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu của những người
tiêu dùng đối với các hàng hoá lâu bền như: nhà cửa, phương tiện vận chuyển,
và một số các hình thức khác như cho vay du lịch, du học…
Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng, các tổ chức
tín dụng khác, và việc nhiều doanh nghiệp đã phát hành trái phiếu, cổ phiếu để
17
huy động vốn chính vì vậy làm hoạt động cho vay của các ngân hàng đối với
các doanh nghiệp bị suy giảm chính vi vây các ngân hàng đã phải tính đến
phương án cho vay tiêu dùng. Và việc cho vay này cũng phù hợp với nhu cầu
của xã hội ngày một phát triển: đó là những người tiêu dùng có thu nhập đều
đặn để trả nợ ngân hàng. Một số tầng lớp người tiêu dùng có thu nhập khá cao
tương đối ổn định. Vay tiêu dùng giúp họ nâng cao mức sống tăng khả năng
được đào tạo… giúp họ tìm kiếm những công việc có mức thu nhập cao hơn
về sau.
Phương thức cho vay: ngân hàng có thể cho vay trực tiếp với người mua

xâm nhập thị trường Việt Nam. Như vậy, sức ép cạnh tranh đối với các ngân
hàng nội địa cũng tăng lên và các ngân hàng trong nước đương nhiên sẽ gặp
nhiều khó khăn và thách thức. Trước điều kiện đó để đứng vững tồn tại phát
triển trên thị trường đòi hỏi các NHTM phải không ngừng cải tiến và ngày
càng nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, và việc nâng cao chất lượng tín
dụng nói chung, tín dụng trung, dài hạn nói riêng cũng nằm trong guồng quay
đó.
Chất lượng của một khoản tín dụng ngân hàng có thể hiểu theo nghĩa
chung nhất là lợi ích kinh tế đem lại cho cả khách hàng, ngân hàng, và sự phát
triển của kinh tế - xã hội. Nghĩa là đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách
hàng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời đóng góp
vào sự tăng trưởng, phát triển chung của xã hội.
Như vậy, chất lượng tín dụng trung, dài hạn là việc đáp ứng được nhu
cầu vay vốn trung dài hạn của khách hàng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng, đồng thời phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.
Đối với khách hàng, chất lượng tín dụng trung, dài hạn thể hiện là
khoản tín dụng có phù hợp với nhu cầu của khách hàng hay không, xét trên
các mặt: qui mô, lãi suất, kỳ hạn, thủ tục vay, phương thức giải ngân, thu nợ…
Đối với ngân hàng, chất lượng tín dụng trung, dài hạn thể hiện là sự
phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thương
19
mại có hiệu quả hay không trên phương diện an toàn, sinh lợi của ngân hàng
do hoạt động tín dụng trung, dài hạn mang lại.
Đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội, chất lượng của hoạt động tín dụng
trung, dài hạn thể hiện là sự đóng góp vào sự phát triển chung của kinh tế xã
hội như: góp phần tích tụ tập trung vốn trong nền kinh tế, góp phần giải quyết
công ăn việc làm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh lưu thông hàng hóa, giảm
gánh nặng cho ngân sách…
Vì vậy, chúng ta cần căn cứ vào khái niệm chất lượng tín dụng để đánh
giá hoạt động tín dụng, nghĩa là cần đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài

khoản tín dụng đó là một khoản tín dụng có chất lượng cao.
b) Dưới giác độ ngân hàng
Khi đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng nói chung
hay hoạt động tín dụng trung, dài hạn nói riêng, ngân hàng sẽ đánh giá cả về
mặt định tính cũng như định lượng để xem hoạt động tín dụng đó có đem lại
hiệu quả hay không trên hai phương diện an toàn và sinh lợi.
* Đánh giá về mặt định tính:
- Trước hết phải xem xét hoạt động tín dụng đó có phù hợp với mục tiêu
chiến lược của Ngân hàng Nhà nước, của bản thân ngân hàng mình trong từng
giai đoạn, thì kì hay không. Nếu hoạt động tín dụng đó mà đi ngược lại với
mục tiêu trên thì chất lượng của khoản tín dụng đó sẽ không được đảm bảo.
- Các khoản tín dụng có phù hợp với luật pháp, chính sách của Nhà
nước, có đảm bảo tuân thủ theo đúng qui trình tín dụng hay không? Chính
điều này đảm bảo rằng việc cấp tín dụng không đi ngược lại với luật pháp, và
việc tuân thủ đúng qui trình tín dụng sẽ làm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng,
khả năng thu hồi nợ của ngân hàng được nâng cao. Khi đó, chất lượng tín
dụng sẽ tăng.
- Một yếu tố nữa thuộc nhóm yếu tố định tính là trong quá trình cấp tín
dụng sẽ góp phần hoàn thiện dự án, phương án đầu tư của khách hàng, đem lại
lợi ích cho cả hai bên. Như chúng ta đã biết khi một khách hàng (doanh
nghiệp) đến vay vốn thì họ sẽ phải trình bày phương án đầu tư, kế hoạch sản
xuất kinh doanh, dự án cho ngân hàng, sau đó ngân hàng sẽ tiến hành thẩm
21
định để xét duyệt cho vay vốn, trong quá trình đó nếu ngân hàng thấy có
những điểm trong dự án chưa được hợp lí thì ngân hàng có thể tư vấn cho
khách hàng điều chỉnh lại dự án cho hợp lí thay vì từ chối cấp tín dụng. Và khi
trong quá trình thi công dự án ngân hàng cùng với doanh nghiệp tháo gỡ
những vướng mắc phát sinh. Nếu làm tốt được điều này doanh nghiệp thực
hiện dự án có hiệu quả hơn và ngân hàng cũng tránh được rủi ro do khách
hàng không trả được nợ, chất lượng các khoản tín dụng dược nâng cao.

tổng dư nợ.
Dư nợ trung, dài hạn
Tỷ trọng dư nợ trung, dài hạn =
Tổng dư nợ tín dụng
Dư nợ trung dài hạn được đo bằng số tuyệt đối, nó phản ánh số tiền mà
ngân hàng hiện đang cho vay trung, dài hạn tại thời điểm tính là bao nhiêu. Tỷ
trọng dư nợ là số tương đối thể hiện số tiền mà ngân hàng đang cho vay trung,
dài hạn trong tổng số tiền mà ngân hàng cho vay tại thời điểm tính. Như ta đã
biết trên giác độ ngân hàng thì việc đánh giá chất lượng tín dụng trên 2
phương diện là an toàn, sinh lợi do vậy nếu xem xét nhóm chỉ tiêu này thì
chưa thể đánh giá được về chất lượng tín dụng trung, dài hạn mà cần phải kết
hợp với các chỉ tiêu khác.
- Chỉ tiêu đánh giá tốc độ chu chuyển vốn trung, dài hạn
Doanh số thu nợ trung dài hạn trong năm
Vòng quay của vốn trung, dài hạn
trong năm
=
Tổng dư nợ trung dài hạn bình quân năm
Doanh số thu nợ trung, dài hạn phản ánh lượng vốn trung, dài hạn mà
ngân hàng giải ngân đã được hoàn trả trong một kì. Thông thường khi vòng
quay vốn tăng lên tức là ngân hàng có nhiều vốn hơn từ thu nợ để tiếp tục đầu
tư, cho vay chứng tỏ ngân hàng đã cho vay vốn có hiệu quả.
- Chỉ tiêu về khả năng cấp tín dụng trung, dài hạn
Vốn huy động trung, dài hạn
23
Khả năng cấp tín dụng trung, dài hạn =
Dư nợ tín dụng trung, dài hạn
Chỉ tiêu này cho biết vốn huy động trung, dài hạn đáp ứng được bao
nhiêu % nhu cầu tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng. Nhìn chung chỉ tiêu
này càng gần 1 là tốt cho thấy việc ngân hàng sử dụng tốt nguồn vốn trung,

Thứ hai, do đảo nợ hoặc giãn nợ
Khi đến hạn người vay không trả được nợ, thì để che dấu khoản nợ quá
hạn thì khách hàng và nhân viên ngân hàng có thể thoả thuận để vay khoản
mới để trả nợ cũ (đảo nợ), hay có thể thực hiện giãn nợ. Những hành vi này
làm cho các chỉ tiêu trên không phản ánh đầy đủ chất lượng tín dụng.
Thứ ba, do chính sách cho vay
Ở các NHTM Nhà nước có rất nhiều khoản cho vay theo chỉ thị của
Chính phủ, việc xử lí các khoản nợ này rất phức tạp, nhiều ngân hàng đã đưa
các khoản nợ này ra khỏi chỉ tiêu nợ quá hạn và xếp vào nợ khoanh (nếu được
Chính phủ đồng ý), tuy vậy chúng thực sự đe doạ thu nhập của ngân hàng nếu
Chính phủ chưa tìm được nguồn để bù đắp.
Thứ tư, do sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro tín dụng
Theo điều 11 khoản 3 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì sau khi đã sử
dụng dự phòng để xử lí rủi ro tín dụng, tổ chức tín dụng phải chuyển các
khoản nợ đã được xử lí rủi ro tín dụng từ hạch toán nội bảng ra hạch toán
ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và có biện pháp thu hồi triệt để. Do vậy các
khoản nợ này không nằm trong chỉ tiêu nợ quá hạn.
- Chỉ tiêu nợ xấu, nợ xấu / tổng dư nợ (bao gồm nợ khoanh, loại trừ cho
vay uỷ thác). Và đối với hoạt động tín dụng trung, dài hạn: nợ xấu trung, dài
hạn / tổng dư nợ trung, dài hạn.
Trước hết ta phải hiểu thế nào là nợ xấu, theo quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5
qui định tại điều 6 hoặc điều 7 của cùng qui định này.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status