Phát triển làng nghề ở các tỉnh duyên hải Nam trung bộ - Thực trạng và giải pháp - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Khôi phục và phát triển các LN là nội dung quan trọng của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người nông
dân, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, đóng góp tích cực vào quá trình lành
mạnh hóa các quan hệ xã hội ở nông thôn, khơi dậy các nguồn lực để phát triển
kinh tế ở các địa phương cũng như trong phạm vi cả nước, đồng thời phát huy
bản sắc dân tộc.
Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, LN ở nước ta có lúc thịnh,
lúc suy, phát triển mạnh vào những năm 60 - 70 (thế kỷ XX) dưới các hình thức
hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, sau đó phát triển chậm lại vào thập kỷ 80. Đến
đầu những năm 90, nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,
sản phẩm LN phải cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm cùng loại được sản xuất
bằng công nghệ tiên tiến có chất lượng tốt hơn, đẹp hơn, giá cả thấp hơn; do thị
trường truyền thống về tiêu thụ sản phẩm LN không còn bởi sự sụp đổ của Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã làm cho sản xuất ở nhiều LN đình
đốn, thậm chí bị suy thoái, mai một dần.
Nhận thức rõ vai trò và thực trạng phát triển của LN, Hội nghị lần thứ 5,
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã xác định: “Phải có chính sách mở
rộng thị trường, khuyến khích khôi phục và phát triển các LN, nâng cao độ tinh
xảo, tính dân tộc độc đáo trong các chủng loại mặt hàng”
1
. Đến Đại hội VIII,
Đảng ta coi phát triển LN là một bộ phận không thể tách rời của kinh tế nông
thôn và là một trong những nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn. Đại hội IX, X của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan
trọng của LN và chỉ rõ: “Hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các
1
Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội, 1993, trang 17
1

công nghiệp chế biến, mây, tre, cói, xơ dừa làm nguyên liệu cho nghề đan lát, đất
làm đồ gốm, đá cho sản xuất vật liệu xây dựng… Đặc biệt, các tỉnh DHNTB có
2
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.172, 194.
2
tiềm năng lớn về phát triển du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch
sử, văn hóa nổi tiếng, đã và sẽ là điều kiện để gắn kết LN với các tour du lịch.
Đây là hình thức tổ chức có hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới hiện nay. Để
khai thác những lợi thế này, trong những năm gần đây, Đảng bộ và chính quyền
các tỉnh DHNTB đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm khôi phục, phát triển
các LN, nhờ đó, LN trong khu vực đã có bước phát triển nhất định. Theo số liệu
báo cáo của Sở Công nghiệp các tỉnh, tính tới năm 2007, Quảng Nam có 61 LN,
Bình Định 54 LN, Phú Yên 17 LN, Quảng Ngãi 11 LN và thành phố Đà Nẵng 7
LN. Sản xuất ở các LN đã thu hút được một lượng lớn lao động ở nông thôn, góp
phần chuyển dịch một bộ phận lao động thuần nông sang lao động công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp. Thu nhập của các hộ trong LN ngày càng ổn định và được
cải thiện. Thị trường tiêu thụ sản phẩm tuy chiếm 80-90% thị trường trong nước,
song nhiều LN đã xác lập được vị trí vững chắc trên thị trường. Nhiều cơ sở đã
biết áp dụng công nghệ thông tin để quảng bá sản phẩm, đưa kỹ thuật hiện đại phù
hợp với từng công đoạn sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng,
hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm. Do đó,
sản phẩm LN ngày càng đáp ứng tốt hơn với nhu cầu người tiêu dùng trong và
ngoài nước. Bên cạnh những ưu điểm, LN ở các tỉnh DHNTB cũng còn những tồn
tại, yếu kém:
- Số lượng các LN tăng chậm, một số tỉnh trong những năm gần đây
không hình thành được LN mới như: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quảng Nam. Nhiều
LN, ngành nghề truyền thống bị mai một và mất dần như: làng chiếu Cẩm Nê
(Đà Nẵng), trống Lâm Yên (Quảng Nam), tơ tằm Phú Phong, dệt thổ cẩm Hà Ri,
bánh tráng dừa Hoài Nhơn (Bình Định)…
- Các LN hiện có phần lớn là quy mô nhỏ, sản xuất phân tán. Tỉnh Quảng

động của các LN ở các tỉnh DHNTB, trên cơ sở đó, xác định phương hướng và
đề xuất giải pháp có cơ sở khoa học để phát triển mạnh, bền vững LN nhằm khai
thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của vùng là yêu cầu cấp thiết cần được nghiên
cứu, luận giải. Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi chọn vấn đề: “Phát triển làng
nghề ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ - Thực trạng và giải pháp” làm đề
tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2009.
4
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vấn đề phát triển LN đã được các nhà khoa học nghiên cứu trên nhiều
phương diện với phạm vi, mức độ khác nhau và đã tạo được những kết quả nhất
định, đáng chú ý là các công trình sau đây:
- Các công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống về cơ sở lý luận, thực
trạng và phương hướng, giải pháp phát triển LN, đặc biệt là LN truyền thống trên
địa bàn cả nước hoặc một vùng kinh tế nhất định, gồm có:
+ Phát triển LN truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, Tiến sĩ Mai Thế Hởn, giáo sư, tiến sĩ Hoàng Ngọc Hòa, phó giáo sư, tiến sĩ
Vũ Văn Phúc, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
+ LN thủ công truyền thống Việt Nam, Bùi Văn Vượng, Nhà xuất bản văn
hóa thông tin, Hà Nội, 2002.
+ Nghề cổ Việt Nam, Vũ Từ Trang, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà
Nội, năm 2002.
+ Khôi phục và phát triển LN nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng -
Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Hà, Hà Nội, 2002.
- Các công trình đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải
pháp để phát triển LN trên cả nước, một vùng, một địa phương gồm:
+ Bảo tồn và phát triển LN, Thực trạng và giải pháp - Liên Minh, Tạp chí
Xưa và Nay, số 293/2007.
+ Khôi phục và phát triển LN Việt Nam, Thái Quang, Tạp chí Con số và
Sự kiện, số 5/2207.
+ LN nước ta, những khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển,

Vượng, Hội thảo khoa học về môi trường thể chế cho các hoạt động dịch vụ và sản
xuất phi nông nghiệp ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, Hà Nội, tháng 3/1996.
+ Nhân lực LN: Băn khoăn trước thềm hội nhập, Đoàn Hòa, Tạp chí Tài
chính, số 3/2006.
+ Phát huy những lợi thế truyền thống trong xây dựng thương hiệu LN ở
đồng bằng sông Hồng, Vũ Trường Giang, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, số 15/2006.
+ Phát triển thương hiệu sản phẩm LN truyền thống Việt Nam hiện nay,
6
Nguyễn Vĩnh Thanh, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 4/2007.
+ Tình hình vốn của các cơ sở sản xuất ở các LN miền Đông Nam Bộ,
Nguyễn Đình Hòa, Tạp chí Thương mại, số 17/2007.
+ Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm LN, Hồ Thanh Thủy, Tạp chí
Tài chính, số 12/2005.
+ Một số giải pháp tài chính, tín dụng trong phát triển LN, Tôn Thất
Viên, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 8/2006.
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển LN ở một số nước trên thế giới và ở
một số địa phương trong nước có các công trình:
+ Tình hình phát triển LN ở một số nước châu Á và kinh nghiệm cần quan
tâm đối với Việt Nam, Mai Thế Hởn, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới,
tháng 6/1999.
+ Mô hình kinh tế - tổ chức sản xuất LN ở Hà Tây, Mai Thanh Cúc, Tạp
chí Kinh tế và Phát triển, số 1/2007.
+ Phú Túc - bài học về sự phát triển của một LN, Hoàng Mai, Tạp chí
Xưa và Nay, số 293.
+ Vai trò chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế khu chuyên
doanh gốm sứ Phong Khê (Trung Quốc) và Bát Tràng (Việt Nam), Hoàng Thế
Anh, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 6/2005.
Những công trình nêu trên, một số công trình nghiên cứu một cách tương
đối có hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận, thực trạng và phương hướng, giải

4.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa lý luận về LN, góp phần làm rõ khái niệm, vai trò, nhân tố
ảnh hưởng tới phát triển LN trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Phân tích tiềm năng phát triển LN ở các tỉnh DHNTB và những kết quả,
tồn tại, nguyên nhân trong quá trình phát triển LN trên địa bàn.
- Đề xuất một số phương hướng và các giải pháp chủ yếu để phát triển LN
ở các tỉnh DHNTB trong những năm tiếp theo.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm đổi mới của Đảng và các chính sách
của Nhà nước trong các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX và X.
8
- Thừa kế có chọn lọc các công trình có liên quan, các báo cáo đánh giá về
tình hình LN của các ngành, các địa phương ở các tỉnh DHNTB qua các năm.
- Sử dụng lý luận, phương pháp luận khoa học kinh tế Mác xít làm
phương pháp nghiên cứu cơ bản như điều tra, khảo sát, thống kê, phân tích, tổng
hợp,… để nghiên cứu và trình bày các nội dung đưa ra trong đề tài.
6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành
3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển LN.
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển LN ở các tỉnh DHNTB.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển LN ở
các tỉnh DHNTB
Sau đây là kết quả nghiên cứu của đề tài:
9
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÀNG NGHỀ
Một trong những nét đặc sắc của tổ chức kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt
Nam là hình thành các LN. LN ở nước ta được hình thành và phát triển lâu đời.

công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế - xã hội và văn hóa
4
.
Những quan niệm khác nhau về LN nêu trên tiếp cận chủ yếu theo hướng
LN truyền thống, liên quan đến sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Song, với cách
nhìn rộng hơn, xuất phát từ thực tế phát triển kinh tế ở nông thôn Việt Nam, nhất
là trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra một số vấn đề cần nghiên cứu để có quan
niệm về LN phù hợp.
Thứ nhất, bên cạnh LN sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống thì cũng
xuất hiện các LN sản xuất nông nghiệp mà sản phẩm của nó mang tính đặc thù,
tên tuổi của các LN này đã ghi vào lịch sử, như làng nuôi gà chọi ở Hải Dương,
LN nuôi trâu chọi ở Đồ Sơn (Hải Phòng), LN nuôi chim cảnh, cá cảnh ở ngoại
thành Hà Nội, LN trồng cây cảnh ở Nghi Tàm, Quảng Bá (Hà Nội), LN trồng hoa
Ngọc Hà (Hà Nội), LN rau Trà Quế (Quảng Nam), … Như vậy, quan niệm về LN
chỉ hiểu trong giới hạn sản xuất tiểu thủ công nghiệp là không đầy đủ.
Thứ hai, ngày nay, khu vực kinh tế thứ ba (thương mại, du lịch, dịch vụ,
…) đang ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế
giới nói chung, Việt Nam và các LN nói riêng. Do đó, các nghề buôn bán, dịch
vụ, du lịch ở nông thôn đã và đang chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của mỗi
làng. Vì thế, trong LN không chỉ có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, nông
nghiệp, mà còn có ngành thương mại, dịch vụ. Như vậy, trong LN sẽ có loại làng
một nghề và làng nhiều nghề, tùy theo số lượng ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ ưu thế trong làng.
Thứ ba, trong quá trình đô thị hóa, một số làng ven đô biến thành phố,
phường, nhưng nhiều nơi nghề thủ công truyền thống vẫn tồn tại và phát triển.
Vì vậy, LN không chỉ giới hạn sau lũy tre làng mà còn mở rộng ở thành phố, thị
xã, thị trấn…
Thứ tư, thực tế ở nước ta, có những địa phương mà tất cả các làng
trong xã hoặc nhiều xã trong huyện cùng sản xuất một chủng loại hàng hóa
truyền thống hoặc cùng kinh doanh liên quan đến một nghề nông nghiệp và

20%. Sau này, trong thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số
66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn quy định tỷ lệ số hộ trên địa
bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn tối thiểu 30% tổng số lao
động của toàn làng.
12
Đối với các tỉnh đồng bằng sông Hồng (Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, …) đưa ra
tiêu chí số hộ, số lao động làm nghề nông nghiệp ít nhất 50% so với tổng số hộ
và lao động trong làng. Giá trị sản xuất và thu nhập từ các ngành nghề phi nông
nghiệp đạt trên 50% so với giá trị sản xuất và thu nhập của toàn làng hàng năm.
Với các tỉnh DHNTB, mỗi tỉnh cũng có những tiêu chí cụ thể phù hợp với
đặc điểm của tỉnh.
Tỉnh Bình Định đưa ra tiêu chí: số hộ cùng ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp chiếm từ 20% trở lên hoặc số hộ lao động cùng ngành tiểu thủ công
nghiệp chiếm từ 30% trở lên so với số hộ và lao động trong làng.
Tỉnh Quảng Nam đưa ra tiêu chí: số hộ hoặc lao động làm nghề tiểu thủ
công nghiệp ở làng đạt 30% trở lên và giá trị sản xuất hoặc thu nhập từ sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở làng chiếm tỷ trọng trên 30% so với tổng số
toàn làng.
Tỉnh Quảng Ngãi đưa tiêu chí xét công nhận LN theo thông tư
66/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đã nêu ở trên).
Như vậy, việc xác định tiêu chí LN hiện nay ở nước ta nói chung và
DHNTB nói riêng chưa thống nhất. Trên cơ sở quy định của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn và căn cứ vào thực tế LN Việt Nam, có thể xác định một số
tiêu chí cơ bản như sau:
1. Số hộ, lao động tham gia hoạt động ngành nghề tối thiểu 30% tổng số
hộ và lao động toàn làng.
2. Giá trị sản xuất và thu nhập từ hoạt động ngành nghề nông thôn chiếm
tỷ lệ 30% trở lên so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng.
3. Tuân thủ sự quản lý của chính quyền địa phương, chính sách và pháp

- Có số hộ, số lao động làm nghề truyền thống chiếm tỷ lệ nhất định so
với số hộ và lao động toàn làng.
* Quan niệm về LN mới
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nói chung, việc giao lưu
kinh tế giữa các vùng, miền, quốc gia ngày càng mở rộng. Tình trạng sản xuất
khép kín trong từng làng, từng địa phương từng bước xóa bỏ. Vì vậy, một số
nghề truyền thống không còn giới hạn trong các làng đã từng gắn bó lâu đời mà
lan tỏa sang các làng khác, địa phương khác. Mặt khác, ở một số địa phương có
chủ trương phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển một bộ phận sản xuất nông
5
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tư 116/2006/TT-BNN, Hướng dẫn thực hiện một số nội
dung của nghị định 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn.
14
nghiệp sang ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp nên đã cử lao động đi học
nghề ở nơi khác về dạy lại cho người dân ở địa phương mình. Từ đó, tiếp tục
nhân, cấy nghề và dần hình thành LN mới. Vậy, LN mới có thể hiểu là những
làng có ngành nghề phát triển trong những năm gần đây, được hình thành chủ
yếu do sự lan tỏa từ LN truyền thống hoặc do sự du nhập trong quá trình hội
nhập giữa các vùng, các địa phương và giữa các nước. LN mới cũng phải đạt tiêu
chuẩn LN mà địa phương đã quy định.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của LN
LN Việt Nam có lịch sử lâu đời, phát triển đa dạng về quy mô, cơ cấu
ngành nghề. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, LN có lúc thịnh, lúc
suy. Tuy nhiên, đến nay, nó vẫn mang một số đặc điểm cơ bản.
Thứ nhất, LN hình thành ở nông thôn, có nhiều ngành nghề và gắn liền
với sản xuất nông nghiệp.
Các LN, trước hết là LN truyền thống, đều ra đời ở nông thôn và tách ra
từ LN nông nghiệp. Lúc đầu, người lao động ở nông thôn do nhu cầu việc làm và
thu nhập đã làm thêm nghề thủ công bên cạnh làm nông nghiệp với tư cách là
nghề phụ trong các gia đình để tận dụng thời gian nhàn rỗi trong năm và đáp ứng

chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Song, trên thực tế, chất lượng sản phẩm ở các LN nước ta chưa cao, một mặt do
trình độ văn hóa ở các vùng nông thôn còn thấp nên đổi mới công nghệ chậm, chủ
yếu dựa vào kinh nghiệm nên tiêu hao nguyên liệu, năng lượng và sức lao động trên
đơn vị sản phẩm lớn. Do đó, sản phẩm làm ra khó cạnh tranh. Mặt khác, do sản
phẩm LN tiêu thụ chủ yếu ở thị trường nông thôn, nơi thu nhập của dân cư thấp,
vấn đề quan trọng đối với họ là giá cả phù hợp với túi tiền, nên yêu cầu chất lượng
sản phẩm ở LN không cao. Điều đó đã thể hiện ở một số gia đình trong LN làm
hàng xô, hàng chợ để tiêu thụ trên thị trường.
Thứ ba, hình thức sản xuất kinh doanh của LN ngày càng đa dạng.
Ở giai đoạn mới hình thành, hình thức tổ chức sản xuất ở các LN chủ yếu
là hộ gia đình huyết thống gắn với các phường nghề như: phường gốm, phường
vải, phường mộc, phường đúc đồng. Trong thời kỳ bao cấp, các LN được tổ chức
thành “đội ngành nghề” của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp như: đội gốm, đội
mộc, đội nề, đội làm sơn mài,… Nơi đông thợ thủ công thì thành lập hợp tác xã
thủ công nghiệp.
Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là những năm gần đây, Đảng và Nhà
16
nước đã có sự quan tâm hơn đối với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
nông thôn nên hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ở các LN cũng có sự thay
đổi. Đồng thời với sự trở về của hình thức sản xuất hộ gia đình theo kiểu truyền
thống đã xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các
hình thức hợp tác và hợp tác xã kiểu mới… Trên cơ sở các hình thức tổ chức này
và được pháp luật thừa nhận nên sản xuất kinh doanh ở các LN ngày càng đa
dạng về quy mô, phong phú về chủng loại sản phẩm và hiện nay, sản phẩm của
các LN đã trở thành hàng hóa, được bán trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trong đó, đáng chú ý là hàng thủ công mỹ nghệ, hàng gốm sứ, hàng đồ gỗ cao
cấp, hàng kim khí, hàng dệt,…
Thứ tư, gắn với nguồn nguyên liệu tại chỗ và thị trường tiêu thụ trong
nước là chủ yếu.

dân tộc này được thể hiện ở các sản phẩm, công cụ lao động, kinh nghiệm sản xuất.
Mỗi sản phẩm của LN là một tác phẩm nghệ thuật, là những bảo vật vô giá như
trống đồng Ngọc Lũ; tượng Phật nghìn mắt, nghìn tay; tranh sơn mài, sơn lụa, trang
dân gian; gốm sứ mỹ nghệ,… Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được sản xuất ra bởi
những nghệ nhân khác nhau, những địa phương khác nhau nên có màu sắc riêng,
nét văn hóa đặc trưng riêng. Những nét riêng đó được trải nghiệm qua thời gian,
qua giao lưu, chọn lọc được khẳng định để tồn tại và phát triển, cùng với sự kế thừa,
bổ sung cho nhau, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ ngày càng hoàn thiện. Như vậy,
sản phẩm của LN không chỉ là những giá trị kinh tế, thực hiện mục tiêu sản xuất
hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mà còn mang biểu trưng của nền văn hóa dân
tộc, văn hóa cộng đồng làng xã Việt Nam.
1.2. VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.2. Vai trò của LN trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu của tất cả các nước đi
lên sản xuất lớn. Đối với nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu thì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Đặc biệt
coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển
toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến”
6
. Như vậy, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một bộ phận quan trọng hợp
6
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr.86
18
thành của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó xuất phát từ
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và nông nghiệp, nông
thôn nói riêng. Nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr.87
19
nước, trong khi đó khu vực đô thị (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh) lại chiếm tới
65% tổng GDP. Sự phát triển mạnh mẽ của LN đã tác động tích cực vào việc
thay đổi tập quán sản xuất lâu đời của người nông dân từ sản xuất nhỏ, phân tán,
độc canh, tư cấp, tự túc, sang sản xuất hàng hoá đa ngành, kết hợp sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Ở những địa phương có nhiều LN phát triển, tỷ trọng GDP và lao động
trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tăng lên nhanh chóng trong
tổng GDP và lao động ở nông thôn. Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp
ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập từ các hoạt động kinh tế của
nông dân.
Như vậy, sự phát triển của LN không những làm cho cơ cấu lao động
trong các làng xã biến đổi, mà cơ cấu lao động trong mỗi gia đình cũng biến đổi
sâu sắc. Ở mỗi gia đình của LN cũng có sự phân công lao động hợp lý hơn. Nó
tạo ra động lực và môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển,
thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
Phát triển LN là nhân tố quan trọng góp phần đẩy nhanh CNH nông thôn. Đồng
thời, phát triển LN còn tạo ra cơ cấu lao động mới ở nông thôn, chuyển một bộ
phận lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ lao động giản đơn sang lao
động có kỹ thuật, từ lao động năng suất thấp, thành lao động có năng suất cao.
Hai là, góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn.
Trong thời gian qua, LN Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể. Các LN
ở nông thôn đã sản xuất ra một khối lượng hàng hoá lớn, đáp ứng nhu cầu thị
trường trong nước và xuất khẩu. Hàng năm, giá trị sản lượng của LN trong cả
nước đạt khoảng trên 40.000 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
7-9%/năm trong gần chục năm qua.
Mỗi LN thường dao động từ 400-700 hộ sản xuất, mỗi hộ có từ 4-5 nhân
lực lao động. Các LN hiện nay góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương; giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động;

xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá. Đối với họ, ngành nghề đã trở thành
biểu tượng của sự thịnh vượng và phát triển trong tương lai.
Ở LN, số hộ đói hầu như không còn, số hộ nghèo có tỷ lệ không đáng kể,
số hộ giàu ngày càng tăng. Trên cơ sở tạo việc làm, tăng thu nhập, các LN được
coi là nhân tố quan trọng làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn dựa theo
21
hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người dân.
Nhờ có việc làm và tăng thu nhập, nên đời sống của người dân trong nhiều
LN được cải thiện rõ rệt so với các địa phương khác. Ở LN gốm sứ Bát Tràng (Hà
Nội), 100% số hộ có nhà mái bằng và cao tầng; 100% số hộ có xe máy và ô tô. Ở
những LN phát triển, các công trình kết cấu hạ tầng nông thôn như điện, đường,
trường, trạm được đầu tư khang trang, xây dựng kiên cố.
Với quá trình chuyển đổi này, nông thôn Việt Nam ngày càng xuất hiện
nhiều LN mới, nhiều nghề mới. Sự phát triển này đã góp phần đáng kể vào việc
nâng cao mức thu nhập và đời sống vật chất, làm cho bộ mặt nông thôn được
thay đổi. Từ đó, làm cho người dân nông thôn năng động hơn, tháo vát hơn trong
sản xuất kinh doanh, không cam chịu nghèo đói, mà vươn lên làm giàu chính
đáng ngay chính trên quê hương mình.
Bốn là, góp phần đa dạng hoá các sản phẩm, cung cấp ngày càng nhiều
hàng hoá cho tiêu dùng và cho xuất khẩu.
Việc đa dạng hoá sản phẩm ở các LN không chỉ đơn thuần nhằm tăng
thêm nguồn thu, mà còn đặt ra yêu cầu cho các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh
phải tính toán một cách khoa học để đạt hiệu quả kinh tế cao. Đa dạng hoá sản
phẩm, không có nghĩa là sản xuất dàn trải, lãng phí, manh mún và phân tán
nguồn tài nguyên, môi trường mà cần đặt nó trong mối quan hệ với không gian
địa lý kinh tế, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và phải bảo vệ được môi
trường sinh thái, từng bước xây dựng nông thôn Việt Nam phát triển bền vững,
văn minh, hiện đại.
Với nhiều ngành nghề đa dạng, phong phú, các LN đã làm ra nhiều mặt
hàng tiêu dùng như: cơ khí, điện - điện tử, giày dép, đồ dùng bằng nhựa, gỗ mây

Tràng, đúc đồng Đại Bái, khảm trai Chương Mỹ… Trên các sản phẩm này người
nghệ nhân thể hiện rất sinh động cảnh sinh hoạt, thiên nhiên, lễ hội, con người…
mang đậm tư tưởng, tình cảm và thẩm mỹ làng quê Việt Nam, dân tộc Việt Nam.
Đây là yếu tố đầu tiên được khách hàng nhìn nhận, đánh giá cao, sau đó mới là
yếu tố kỹ thuật.
Sáu là, phát triển LN góp phần hạn chế tình trạng di dân tự do
Trong nhiều năm nay, hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị, từ vùng
này sang vùng khác là một hiện tượng phổ biến ở nước ta. Do sức ép về việc làm
và thu nhập đã thúc đẩy người nông dân đi tìm việc làm ở thành phố, nơi thường
xuyên có nhu cầu lao động, đặc biệt là lao động giản đơn hoặc tìm đến vùng
khác, những nơi có khả năng cho thu nhập cao hơn. Đây là quá trình diễn ra tự
phát, được điều tiết bởi sự tác động của quy luật cung cầu lao động. Nó diễn ra
23
theo hướng di chuyển từ nơi lao động thừa và có thu nhập thấp tới nơi thiếu lao
động và thu nhập cao hơn. Việc di chuyển lao động một cách tự phát sẽ làm nảy
sinh những vấn đề xã hội, gây áp lực đối với các điều kiện và dịch vụ cơ sở hạ
tầng xã hội ở thành phố và là một khó khăn lớn trong vấn đề quản lý xã hội,
đồng thời làm ảnh hưởng tới kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phương
nơi có dân di cư tự do. Vì vậy, sự phát triển của các LN sẽ có vai trò tích cực
trong việc hạn chế di dân tự do. Thông qua sự phát triển này sẽ tạo thêm việc
làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người nông dân, đảm bảo cho
người dân thỏa mãn với cuộc sống của mình tại làng quê, có tâm lý gắn bó với
quê hương, làm giàu chính nơi đã từng sinh ra mình, nuôi mình khôn lớn và như
vậy chúng ta thực hiện được phương châm “ly nông bất ly hương” mà Đảng và
Nhà nước đã đề ra.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của LN ở nước ta
hiện nay
Qua nghiên cứu về đặc điểm, vai trò của LN cho thấy sự biến động LN ở
nước ta trong thời gian qua là do các nhân tố chủ yếu sau đây:
1.2.2.1. Thị trường và khả năng tiếp cận thông tin thị trường

có gần 90% LN gặp khó khăn về thông tin thị trường như thông tin về mẫu
mã, giá cả và chất lượng… cho hàng hoá của họ. Điều này không chỉ ảnh
hưởng đến tiêu thụ sản phẩm ở trong nước mà còn có tác động đến xuất khẩu
ra nước ngoài. Thiếu thông tin về thị trường, về bản sắc dân tộc và văn hoá
đặc trưng riêng của từng nước nhập khẩu, về thị hiếu của khách hàng…, do
đó, các LN khó chủ động trong sản xuất, họ sẽ phải phụ thuộc nhiều vào đơn
đặt hàng. Vì thế, khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của LN rất
hạn chế. Đặc biệt là 2 năm gần đây, do tác động của khủng hoảng tài chính
trên thế giới nên thị trường đang gặp rất nhiều khó khăn. LN La Phù (Hà Nội)
những năm hoàng kim có tới 1.800 hộ LN dệt len. Từ cuối năm 2007 thi nhau
bỏ nghề do sản xuất ra tiêu thụ không được, các đơn hàng xuất khẩu giảm, chỉ
còn bằng 30% so với trước đây. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn thống kê từ 38 tỉnh, thành cho thấy đã có 9 LN bị phá sản, 124 LN khác
đang sản xuất cầm chừng (chiếm khoảng 10% tổng số LN), 2.160 hộ sản xuất
kinh doanh đóng cửa; 468 doanh nghiệp LN hoạt động cầm chừng (chiếm
16% doanh nghiệp LN), mà nguyên nhân chủ yếu là khủng hoảng kinh tế thế
giới dẫn tới thị trường LN thu hẹp
8
.
1.2.2.2. Vốn và công nghệ sản xuất
8
Báo Nhân dân, Mở rộng thị trường mới cho LN, ngày 22/3/2009
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status