MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC BẢNG
MỤC LỤC ẢNH
MỤC LỤC BẢN ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu .
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP CƯ
1.1. Khái quát chung về nhập cư.
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Lực đẩy và lực hút trong quá trình quyết định di cư đến TP HCM
1.2. Những tác động của quá trình nhập cư
1.2.1. Tích cực
1.2.2. Những thách thức đối với sự phát triển bền vững.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬP CƯ VÀO TPHCM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY.
2.1. Tình hình nhập cư và biến động dân số trên địa bàn thành phố HCM.
2.2. Đặc điểm của dân nhập cư.
2.2.1. Nguồn gốc.
2.2.2. Giới tính và độ tuổi.
1
2.2.3. Trình độ.
2.2.3. Vấn đề việc làm .
CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI CỦA
SINGAPORE VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
nay” để tìm hiểu sâu và kỹ hơn hiện trạng nhập cư , những ảnh hưởng của nó đối với quá
trình phát triển kinh tế-xã hội ở thành phố này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Cùng chủ đề nghiên cứu di dân nói chung, di dân từ nông thôn vào đô thị, quá trình
đô thị hóa và giảm nghèo tại Tp. HCM nói riêng – đặc biệt là sau giai đoạn đổi mới
(1986), đã có nhiều bài viết, công trình, đề tài, dự án nghiên cứu liên quan được triển
khai, nhiều hội thảo trong nước và quốc tế được tổ chức. Trong phạm vi tìm kiếm, tập
hợp và tiếp cận các tài liệu của chúng tôi, cũng có nhiều tác giả đã quan tâm đến vấn đề di
dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn – thành thị:
Khi đề cập đến vấn đề“Đi làm ăn xa – phương thức tăng thu nhập gia đình”,
Nguyễn Thị Diễm và Nguyễn Thị Minh Châu đã tìm hiểu về tác động của di cư đến kinh
tế hộ gia đình theo hai hướng chính đó là: những đặc trưng chủ yếu của những người đi
làm ăn xa như: tuổi, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng gia đình… và mức
độ tác động đến kinh tế hộ gia đình từ việc đi làm ăn xa.
Một nghiên cứu gần đây của Lê Văn Thành “Dân nhập cư với vấn đề phát triển
kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh” . Tác giả khẳng định thực tế ở Tp. HCM có
3
hai thách thức nổi bật là quy mô dân số quá lớn, ngày càng tăng nhanh và dân nhập cư
tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây làm nảy sinh rất nhiều vấn đề đối với sự phát
triển của thành phố. Với một lượng dân nhập cư có trình độ thấp, nguy cơ thất nghiệp cao
cũng như dễ nảy sinh các tệ nạn cho thành phố ở hiện tại cũng như trong tương lai. Chính
vì thế mà Nhà nước cần có những bài toán quản lý phù hợp đối với dân nhập cư ở các đô
thị nói chung và Tp. HCM nói riêng.
Không thể bỏ qua một công trình nghiên cứu quan trọng có liên quan đến người
nhập cư của Phạm Quỳnh Hương “Người nhập cư đô thị và an sinh xã hội” . Di dân là
sinh kế của đa số người nhập cư nhưng bảo trợ xã hội lại chưa đến được với họ hoặc chưa
được tiếp cận một cách rõ ràng.
Những nghiên cứu nói trên cùng với các dữ liệu thứ cấp là cơ sở khoa học quan
trọng, hữu ích cho việc triển khai đề tài này. Tuy vậy, những nghiên cứu này hoặc là đề
cập đến những vấn đề di dân nói chung, hoặc là chỉ ra hiện tượng di dân tự do từ các vùng
trên các tạp chí, báo, internet và các tài liệu liên quan đến đề tài. Thu thập từ các báo cáo
tổng kết của quận, phường. Các thông tin này được phân tích và ứng dụng vào thực tiễn
của đề tài nghiên cứu.
5. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Kết quả từ nghiên cứu này chúng tôi hy vọng góp phần làm công
cụ tham khảo cho những đề tài nghiên cứu có liên quan về sau.
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, sẽ cung cấp một cách hệ
thống, toàn diện hơn về thực trạng cuộc sống của những người dân nhập cư nói
chung và người BHR nói riêng. Làm cơ sở cho các cơ quan quản lý có các chính
sách hỗ trợ đồng thời phát huy các yếu tố tích cực đối với người BHR trên địa bàn
thành phố.
5
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP CƯ
1.1. Khái quát chung về nhập cư.
1.1.1. Khái niệm.
Biến động dân số nói chung được chia thành hai bộ phận chủ yếu tương đối riêng
biệt: biến động tự nhiên và biến động cơ học. Biến động tự nhiên mô tả sự thay đổi dân số
gắn liền với sự ra đời, tồn tại và mất đi của con người theo thời gian. Quá trình này trong
dân số học chủ yếu thông qua các hiện tượng sinh và chết. Khác với biến động tự nhiên,
biến động cơ học biểu thị sự thay đổi dân số về mặt không gian, lãnh thổ. Trong cuộc
sống con người di dời bởi nhiều nguyên nhân, với nhiều mục đích khác nhau, với khoảng
cách xa gần khác nhau và vào những thời điểm khác nhau. Quá trình này chịu tác động
bởi nhiều những nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội do vậy nó mang bản chất kinh tế, chính
trị, xã hội sâu sắc. Đây chính là đặc điểm mấu chốt phân biệt hai bộ phận biến đông dân
số nêu trên.
Có rất nhiều định nghĩa về di dân, mỗi định nghĩa xuất phát từ những mục đích
nghiên cứu khác nhau, do đó rất khó tổng hợp thành một định nghĩa thống nhất bởi tính
phức tạp và đa dạng của hiện tượng. Tuy nhiên hiện nay người ta tạm thống nhất với nhau
định chỉ những người di cư ngắn hạn, như người lao động nông nghiệp theo thời vụ,
những người đi lại trong những thời gian ngắn để trồng trọt và thu hoạch sản phẩm nông
nghiệp.
Di cư lao động là sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong
phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc. Phần lớn các quốc gia đều quy
định vấn đề di cư lao động trong luật di cư. Ngoài ra, một số quốc gia còn đóng vai trò
tích cực trong việc điều tiết di cư lao động ra nước ngoài và tìm kiếm cơ hội việc làm cho
công dân họ ở nước ngoài.
1.1.2. Lực đẩy và lực hút trong quá trình quyết định di cư
8
Việc di cư ở các vùng nông thôn Việt Nam phần lớn được các thành viên lớn đã
trưởng thành trong gia đình cùng quyết định. Số liệu từ cuộc điều tra MIS cung cấp một
bức tranh tổng quát về những lý do chính giúp thúc đẩy các hộ gia đình gửi người lên
thành phố.
Như ta có thể thấy ở Hình 1, hơn một nửa số người di cư rời quê hương lên thành
phố do họ không hài lòng với công việc và mức thu nhập ở quê và hy vọng sẽ có nhiều cơ
hội việc làm tốt hơn ở thành phố. Cứ bốn người di cư thì có một người đi do gia đình
thiếu đất canh tác và/hoặc thiếu việc làm hay thất nghiệp lâu năm. Kết hợp các lý do này
lại thì ta có thể thấy nguyên nhân kinh tế giải thích cho 80% việc di cư, do đó cần được
xem xét như là động lực chính hay là mục đích chính của việc di cư.
Xếp thứ hai ngay sau là do kinh tế là giáo dục, với 13,3% tổng số người di cư ra
thành phố để học tập. Rõ ràng giáo dục không chỉ là một yếu tố của chọn lọc di cư như
đước nêu ở trên mà còn là nguyên nhân trực tiếp của di cư. Thực tế thì nhiều người di cư
sau khi học xong được quyết định ở lại để sống và làm việc ở thành phố chứ không trở lại
quê hương, khi khoảng cách về cơ hội và điều kiện sống giữa các khu vực thành thị và
nông thôn ngày càng gia tăng. Các lý do di cư khác chiếm tỷ lệ không đáng kể, bao gồm
các vấn đề gia đình (hôn nhân, đoàn tụ gia đình, sống với người thân) chiếm 3,5%. Một số
ít người (gần 3%) di cư do bị thu hút bởi lối sống đô thị.
9
Theo Tổng Cục Thống Kê, 2011
Thứ nhất, là việc gia tăng sức ép việc làm cho thành phố. Khi nhấp cư vào thành phố
ai cũng mong có một việc làm phù hợp với mức lương thoáng để ổn định cuộc sống
nhưng không phải dễ dàng gì để có được một công việc. Tình trạng thiếu việc làm, thất
nghiệp ở TP. HCM thực tế đã tồn tại nay bổ sung thêm tình trạng di dân ngoại thành vào
thành phố, điều này còn làm tình trạng này ngày càng gia tăng. Đồng thời, đây cũng là
nguyên nhận dẫn tới những mặt tiêu cực khác phát sinh, tạo ra gánh nặng về kinh tế và xã
hội cho thành phố.
Thứ hai, là tình trạng nhập cư ảnh hưởn ít nhiều đến tình trạng xã hội, an ninh trật tự
và mỹ quan đô thị. Việc di cư ngày càng tăng dẫn đến hhinfh thành các khu ổ chuột, các
khu nhà tạm bợ lụp xụp xung quanh khu vực đô thị; và các người lang thang không nhà
cửa; hình thành các tụ điểm chợ lao động gây mất trật tự và mỹ quan đô thị. Vì vậy, họ rất
dễ tham gia vào các tệ nạn xã hội gây khó khăn các nhà quan lý.
Thứ ba là, quá tải về sự dụng các công trình hạ tầng cơ sở: mặc dù thành phố đã
được Nhà nước đầu tư về cơ sở hạ tầng, về điều kiện làm việc nhà ở nhưng vẫn thiếu và
không đồng bộ. Việc di cư quá nhanh làm cho cơ sở hạ tầng ở thành phố không “theo”
kịp dẫn đến quá tải; tình tràn kẹt xe kéo dài ở thành phố là một vi dụ điển hình.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬP CƯ VÀO TPHCM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY.
2.1. Quy mô và cơ cấu dân nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh.
Dân số HCM ngày càng tăng, quy mô dân số lớn, nhất là dân nhập cư tạo sức ép không
nhỏ cho thành phố. Theo số liệu thống kê gần đây, tổng dân số của Tp. HCM tính đến
ngày 1/4/ 2009 là 7.123.340 người, tăng 2.086.185 người, tăng 41,4% so thời điểm này
năm 1999.Trong 10 năm, tốc độ tăng dân số bình quân của TP là 3,5%/năm.
11
Biểu đồ 4: Dân số Tp.HCM năm 1979- 2009
Mức tăng dân số TP trong thời kỳ 1999 - 2009 bằng 2 lần mức tăng dân số thời kỳ 1989 -
1999 và bằng 3,7 lần mức tăng dân số thời kỳ 1979 - 1989. Bình quân một năm TPHCM
tăng 208.000 người, gần bằng dân số của 1 quận trung bình tại TPHCM (bảng 1 )
Bảng 1: Tỷ lệ tăng dân số Tp.HCM qua các giai đoạn.
12
Hà
Giang
94 Hà
Nam
3479 Tây
Ninh
10600 Vĩnh
Phúc
3079
Cao
Bằng
156 Nam
Định
9566 Bình
Dương
7055 Bắc
Ninh
4353
Bắc
Cạn
211 Ninh
Bình
4005 Đồng
Nai
22383 Hải
Dương
3591
13
Tuyên
Quang
5695
Sơn La 360 Quảng
Trị
4328 Trà
Vinh
16830 Bình
Thuận
10679
Yên Bái 479 Thừa
Thiên
Huế
10558 Vĩnh
Long
16804 KonTum 1048
Hòa
Bình
777 Đà
Nẵng
4247 Đồng
Tháp
17524 Gia Lai 4302
Thái
Nguyên
1547 Quảng
Nam
11859 An
Giang
14938 Đắk Lắk 8875
Lạng
Sơn
đến từ khắp các tỉnh thành trong cả nước, trong đó nhiều nhất là các tỉnh từ Thừa Thiên
Huế - Bình Định và đặc biệt là các tỉnh khu vực phía Nam xung quanh thành phố chiếm
số lượng lớn như: Tiền Giang (28379 dân nhập cư), Bến Tre (25422 dân nhập cư)….
Theo số liệu thống kê năm 1998, số người không có hộ khẩu thường trú là 12,9 % trên
toàn địa bàn thành phố. Tỷ lệ này tăng dần theo thời gian, năm 2000 chiếm 15,2 %
(730.878 người). Kết quả cuộc điều tra dân số giữa kỳ năm 2004 (01/10/2004) ở TP.HCM
cho thấy, toàn thành phố có 1.844.548 người diện KT3 và KT42 đến từ các tỉnh, thành
phố trong cả nước chiếm 30,1% dân số toàn thành phố (6.117.251 người). Thực tế cuộc
điều tra chuyên biệt gần đây nhất về Nghèo đô thị cũng cho thấy tỷ lệ người nhập cư trên
20% (không tính một số đối tượng như sinh viên,…). Mặc dù có thể có những sai số nhất
định, thực tế cũng cho thấy rõ ràng trong 5 năm trở lại đây số người không có hộ khẩu
thường trú đã tăng đáng kể, ít nhất là từ 700.000 đến 1 triệu người.
Tỷ lệ tăng cơ học của TP.HCM cũng gia tăng rõ rệt, nếu thời kỳ 1979-1989 là 0,02%, thì
thời kỳ 1989-1999 là 0,84% và thời kỳ 1999-2004 là 2,33%. Sự gia tăng này đã kéo theo
sự gia tăng về tỷ lệ tăng chung của thành phố tương ứng với 3 thời kỳ trên là 1,63%,
2,36% và 3,6%. Điều đó càng làm cho vai trò tăng cơ học rõ nét hơn nếu gắn nó trong
tình hình tỷ lệ tăng tự nhiên của thành phố liên tục giảm tương ứng với 3 thời kỳ vừa nêu
là 1,61%, 1,52% và 1,27%. Hoặc nói cách khác, thời kỳ 1999-2004 có tốc độ tăng dân số
cao hơn hẳn tốc độ dân số của các thời kỳ trước và chủ yếu là do tăng cơ học nhanh vượt
bậc. Từ 2004-2009, tốc độ dân nhập cư không giảm dù có nhiều địa phương khác như
Bình Dương đón nhận khá nhiều dân nhập cư. Theo tính toán sơ bộ xu thế gia tăng của
dân nhập cư qua các thời kỳ như sau:
- Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1984-1989 là: 27.154 người. - Số người
15
nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1994-1999 là: 86.753 người
- Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1999-2004 là: 126.200 người
- Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 2009-2010 cũng xấp xỉ con số
này, không hề có suy giảm.
Biểu đồ 5:
Có thể nói chung lại là bình quân mỗi năm thành phố tăng thêm khoảng
sau:
Biểu đồ 2: Độ tuổi lao động nhập cư Tp.Hồ Chí Minh.
18
Nguồn: Tổng Cục thống kê Tp.HCM.
Lao động nhập cư tại TP.HCM chiếm số lượng lớn ở độ tuổi dưới 30, trên 30 tuổi thì số
lượng này giảm. Điều này có thể giải thích là công việc tại TP.HCM chuộng người lao
động trẻ, vì họ năng động, sáng tạo, không kén việc, cần cù, chịu khó và có năng lực lao
động.
Ngày nay, lao động trẻ nhập cư vào TP.HCM có xu hướng đi một mình, độ tuổi từ 15 –
39 chiếm khoảng 90%, còn những người ngoài 40 và nhỏ hơn 10 tuổi là rất ít, chủ yếu là
đi theo lao động chính (Lê Văn Thành, 2005).
Tỷ lệ nữ giới nhập cư cao cao hơn nam giới, đặc biệt là phụ nữ trẻ từ các tỉnh ĐBSCL, họ
thích hợp với công việc ở các xí nghiệp may mặc, giày da, chế biến thực phẩm, giúp việc
gia đình (Lê Xuân Bá và ctv, 2006).
2.2.3. Trình độ.
Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của lao động nhập cư vào TP.HCM có sự suy
giảm nhất định, trước đây người nhập cư vào TP.HCM được chọn lọc kỹ hơn về điều
động công tác, chuyển công tác để nhập hộ khẩu, ngày nay việc nhập cư thì tự do hơn,
số người nhiều hơn và ít được chọn lọc hơn (Lê Văn Thành, 2005).
Lao động nhập cư đến TP.HCM chủ yếu là lao động có trình độ trung học cơ sở, chiếm tỷ
lệ 56% (Lê Xuân Bá và ctv, 2006), tỷ lệ có trình độ chuyên môn chỉ chiếm hơn 20%, còn
lại là lao động chân tay (Hoài Nam và Phạm Trường, 2004).
Biểu đồ 3:
19
Lao động trong các khu công nghiệp chiếm 70% lao động nhập cư, lao động phổ thông
làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà máy xí nghiệp, lực lượng này đóng
vai trò rất quan trọng trong phát triển sản xuất ở hầu hết các khu vực này, họ rất tích cực,
năng động và linh hoạt trong công việc, có thể chấp nhận các công việc nặng nhọc, mức
lương thấp, thậm chí các công việc độc hại mà người dân TP.HCM không muốn làm (Lê
Văn Thành, 2005).
kinh doanh, các khu công nghiệp, khu chế xuất , góp một phần không nhỏ vào sự tăng
trưởng kinh tế thành phố
Bên cạnh đó, theo các nhà quản lý, có đến 50% người nhập cư chưa có việc làm, thu nhập
bấp bênh. Để kiếm sống, đội quân thất nghiệp này dễ tham gia vào các hoạt động tiêu cực
và là mầm mống phát sinh các loại tệ nạn xã hội. Qua điều tra của các cơ quan chức năng,
gái mại dâm đang hành nghề là người từ các tỉnh chiếm 54%. Trong các vụ phạm tội,
buôn bán, sử dụng ma túy, thì đối tượng liên quan là dân nhập cư chiếm tỷ lệ khá cao…
21
Ở các quận có đông dân nhập cư như Tân Bình, Bình Thạnh, Gò Vấp, Thủ Đức, việc
quản lý nhân hộ khẩu cũng như quản lý đô thị gặp rất nhiều trở ngại. Không chỉ tham gia
đội quân lấn chiếm lòng lề đường để buôn bán nhỏ, dân nhập cư còn xây dựng, lấn chiếm
nhà, đất trái phép khiến các cơ quan chức năng rất khó quản lý.
Tân Phú là một trong những quận có thuận lợi về vị trí địa lý, là vị trí đầu vào của nguồn
lao động nhập cư từ các tỉnh miền Tây, các quận huyện ngoại thành thành phố như Củ
Chi, Hóc Môn vào sinh sống, làm việc. Tốc độ tăng dân số cơ học tương đối cao, người
nhập cư chiếm tỷ lệ 35,61%. Lao động nhập cư đã bổ sung đáng kể vào sự thiếu hụt lao
động của quận mà lực lượng tại chỗ không đáp ứng được như ngành giày da, dệt, may
mặc, chế biến thực phẩm, xây dựng Ngành giày da, may mặc có kim ngạch xuất khẩu
cao, tỷ lệ lao động nhập cư chiếm trên 75% tổng số người làm việc trong lĩnh vực này.
Trong tổng số lao động được giải quyết việc làm của quận nhiều năm qua (bình quân
hàng năm là 8.000 người), lao động từ các tỉnh đến luôn chiếm tỷ lệ trên 45%. Một bộ
phận lao động nhập cư đã vươn lên trở thành những chủ doanh nghiệp, tạo ra nhiều việc
làm cho người lao động tạm trú khác.
Ngoài ra cũng dễ dàng nhìn thấy những gánh hàng rong xuất hiện tại TPHCM. Nhiều gia
đình đã dắt díu nhau tha hương lên thành phố chỉ mong có một cuộc sống tốt hơn. Các
khu nhà trọ bình dân ở các quận ngoại thành là chốn định cư lý tưởng mà họ có thể chọn.
Tân Phú và Thủ Đức là hai ví dụ điển hình. Tại một số tuyến đường, lòng đường được
trưng dụng làm nơi buôn bán, cơ man nào là xe đẩy với đủ loại thực phẩm. Họ là dân
nhập cư các nơi. Nơi nào buôn bán được, họ đẩy các xe đẩy đến, tạo thành một dãy dài.
Hễ có lực lượng kiểm tra thì tạm lắng, không có người lại tụ tập buôn bán. Lâu ngày nơi
có rất nhiều lợi thế về địa lý để phát triển kinh tế hướng ngoại. Việt Nam và Singapore
còn có lợi thế về nguồn nhân lực. Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công
rẻ thuộc hàng thấp nhất trên thế giới. Singapore thì có nguồn nhân lực có trình độ cao,
thích ứng nhanh với trình độ phát triển của khoa học công nghệ.
3.1.2. Những nét khác biệt cơ bản.
3.1.2.1. Thể chế chính trị xã hội
Khác với Singapore có 22 đảng phái chính trị khác nhau thì Việt Nam chỉ có một đảng
lãnh đạo duy nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam.
3.1.2.2. Quy mô thị trường và nguồn tài nguyên
Việt Nam là một thì trường rộng lớn với hơn 90 triệu dân có nhiều ưu thế về tài nguyên
thiên nhiên phong phú và đa dạng bậc nhất thế giới hơn hẳn Singapore. Việt Nam đi lên
từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất manh mún phân tán, sản phẩm xuất khẩu chủ
yếu là nông sản và nguyên liệu thô. Thu nhập bình quân đầu người thấp, cơ sở vật chất,
kỹ thuật, hạ tầng thấp kém. Công nghiệp chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, nông nghiệp chiếm ưu
thế nhưng lại hết sức lạc hậu. Trình độ sản xuất thấp kém, tụt hậu nhiều năm so với các
nước trong khu vực và trên thế giới
- Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á
và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế
biến, điện tử và lắp ráp máy móc tinh vi. Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn
bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân.
3.2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
NƯỚC NGOÀI CỦA SINGAPORE
24
3.2.1. Quá trình xây dựng và ban hành chính sách quản lý lao động nƣớc ngoài ở
Singapore.
Đặc điểm chính của chính sách lao động Singapore là hạn chế tuyển dụng lao động nước
ngoài có
chuyên môn thấp, trong khi tạo mọi điều kiện thuận lợi và ưu đãi nhằm thu hút lao động
có chuyên môn cao Singapore thi hành một chính sách quản lý lao động nước ngoài linh
hoạt, hiệu quả bằng việc quy định một hệ thống Giấy phép lao động phù hợp với từng đối