Đề tài: Giải pháp phát triển bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam - Pdf 10



Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2019 Giải pháp phát triển bảo hiểm tín
dụng xuất khẩu tại Việt Nam i

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007. Một trong những thuận lợi lớn nhất khi
Việt Nam tham gia vào tổ chức kinh tế lớn nhất toàn cầu là có cơ hội thúc đẩy nền
kinh tế phát triển dựa trên những thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như những tiến
bộ, cải tiến trong quá trình trao đổi mua bán quốc tế, từ đó sẽ hội nhập sâu rộng với
nền kinh tế toàn cầu đang trên đà phát triển. Điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối
với hoạt động xuất khẩu đầy tiềm năng phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, không
thể phủ nhận một thực tế rằng trong giai đoạn hiện nay, hoạt động xuất khẩu của

nhân sâu xa là do các chủ thể tham gia vào quá trình trao đổi mua bán quốc tế như
các doanh nghiệp xuất khẩu, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng xuất
khẩu và các cơ quan quản lý Nhà nước chưa có đủ thông tin cơ bản về cơ chế hoạt
động của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cũng như chưa nhận thức được các rủi ro hay
xuất hiện trong giao dịch quốc tế như khả năng tài chính của đối tác nhập khẩu, rủi
ro thanh toán, rủi ro tỷ giá…, từ đó dẫn đến việc chưa tự trang bị cho mình những
hiểu biết sâu rộng về các phòng ngừa rủi ro trong quá trình xuất khẩu hàng hoá và
dịch vụ ra thế giới vốn luôn được coi là những kiến thức rất cơ bản giúp việc ký kết
và thực hiện hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài diễn ra thuận lợi và suôn
sẻ. Điều này cũng có thể lý giải bởi những thông tin cung cấp và các tài liệu nghiên
cứu về loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trên thế giới còn rất hạn chế, chủ yếu
chỉ đưa ra những lý luận cơ bản, chứ chưa thực sự đi sâu phân tích mọi khía cạnh
của loại hình này.
Với mong muốn và hi vọng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ ngày càng trở
nên phổ biến, được sử dụng rộng rãi trên thị trường Việt Nam như một công cụ hỗ
trợ tín dụng xuất khẩu hết sức đắc lực, nhóm nghiên cứu với đề tài “Giải pháp phát
triển hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam” sẽ đưa ra cái nhìn
tổng quan về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trên mọi khía cạnh nhằm giúp người đọc
có cái nhìn rõ nét về loại hình bảo hiểm này với những vai trò quan trọng không chỉ
đối với hoạt động xuất khẩu mà còn đối với cả nền kinh tế quốc dân. Dựa trên
những lý luận cơ bản đó, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu những mô hình bảo hiểm tín
dụng xuất khẩu thành công trên thế giới. Điển hình là mô hình bảo hiểm tín dụng
xuất khẩu của Mỹ và Brazil, hai quốc gia được coi là có hoạt động bảo hiểm tín
dụng xuất khẩu được đánh giá là ưu việt và hiệu quả nhất trên thế giới. Từ việc so 1
/>1&c=cat22102007143106861
iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT
TẮT
Tên tiếng Anh
Tên tiếng Việt
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
L/C
Letter of Credit
Thư tín dụng
D/P
Documents Against Payment
Nhờ thu trả ngay (nhờ thu
theo hình thức thanh toán giao
chứng từ)
D/A
Documents Against Acceptance
Nhờ thu trả chậm (nhờ thu
theo hình thức chấp nhận
thanh toán giao chứng từ)
EC
European Commission
Uỷ ban châu Âu
EU
European Union
Liên minh châu Âu

NAC
National Advisory Council on
International Monetary and
Finance Policy
Hội đồng tư vấn quốc gia về
các chính sách tài chính và
tiền tệ quốc tế
ODA
Official Development Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
VDB
Vietnam Development Bank
Ngân hàng Phát triển Việt
Nam
OECD
Organization for Economic Co-
operation and Development
Tổ chức Hợp tác và phát triển
kinh tế
SCM
Agreement on Subsidies and
Countervailing Measures
Hiệp định về trợ cấp và các
biện pháp đối kháng

vi



vii

3.1.2. Hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Brazil từ năm 1962 đến
năm 1992 26
3.1.3. Mô hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu mới của Brazil (từ năm 1992
đến nay) 27
3.1.3.1 Sự ra đời của các tổ chức tham gia bảo lãnh 27
3.1.3.2. Sự ra đời của Hãng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Brazil (SBCE) 29
3.2. Kinh nghiệm của Mỹ 31
3.2.1. Khái quát chung 32
3.2.2. Vai trò của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ 32
3.2.3. Chương trình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 33
3.3. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 35
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TÍN DỤNG
XUẤT KHẨU TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 39
1. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua 39
1.1. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn từ quý I/2006 đến
quý I/2009 39
1.2. Một số hạn chế còn tồn tại 43
1.2.1. Về năng lực sản xuất hàng xuất khẩu 43
1.2.2. Về hoạt động xuất khẩu 44
1.3. Nguyên nhân của những hạn chế và kết luận 45
1.3.1. Nguyên nhân của những hạn chế 45
1.3.2. Kết luận 46
2. Thực trạng của hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 46
2.1. Môi trường pháp lý 46
2.1.1. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm
tín dụng xuất khẩu 46
2.1.1.1. Đối với hoạt động tín dụng xuất khẩu 46

2.2.1. Về hình thức tổ chức 68
2.2.2. Về cơ chế tài chính 69
2.2.3. Về sản phẩm cung cấp 70
2.2.4. Về cơ chế phí bảo hiểm 71
2.2.5. Về cơ chế bồi thường 72
3. Những giải pháp nhằm phát triển thị trƣờng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 73 ix

3.1. Giải pháp vĩ mô 73
3.2. Giải pháp vi mô 74
3.2.1. Giải pháp cho khách hàng sử dụng (các doanh nghiệp xuất khẩu) 74
3.2.2. Giải pháp cho các nhà cung cấp dịch vụ 75
4. Kiến nghị nhằm phát triển hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 76
4.1. Kiến nghị đối với Chính phủ 76
4.2. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước 76
4.3. Kiến nghị đối với các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
78
KẾT LUẬN 79
PHỤ LỤC a
Phụ lục số 1: Trích dẫn một số nguyên tắc bảo hiểm trong a
Đạo Luật Council Directive 98/29/EC a
Phụ lục số 2: Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng
Phát triển Việt Nam c
Phụ lục số 3: Trích dẫn một số điều trong Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày
20/12/2006 về tín dụng đầu tƣ và tín dụng xuất khẩu của Nhà nƣớc m
Phụ lục số 4: Trích dẫn một số điều trong Luật Kinh doanh Bảo hiểm số
24/2000/QH10 v

quốc gia trên phạm vi toàn thế giới ngày càng diễn ra với tốc độ chóng mặt. Nhiều
cơ hội giao dịch thương mại hấp dẫn được mở ra cho các cường quốc kinh tế lớn
cũng như các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa các quốc
gia tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế phải tự khẳng định vị thế của mình
trong cuộc cạnh tranh có tính quốc tế ngày càng diễn ra gay gắt với các công ty và
doanh nghiệp nước ngoài. Trong bối cảnh đó, nhu cầu mở rộng thị trường xuất khẩu
đối với các doanh nghiệp là tất yếu. Tuy nhiên, khi thị trường xuất khẩu của Việt
Nam mở rộng, trong quá trình cạnh tranh khốc liệt hơn với các doanh nghiệp nước
ngoài, việc các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam gặp phải nhiều rủi ro trong hoạt
động mua bán quốc tế là không thể tránh khỏi. Do vậy, việc tìm ra và áp dụng các
hình thức hỗ trợ xuất khẩu mới thông qua việc hạn chế các rủi ro xảy ra trong hoạt
động thương mại có tính toàn cầu như hiện nay tại Việt Nam là một yêu cầu hết sức
cần thiết. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chính là một trong những hình thức đó.
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đã xuất hiện trên thế giới từ khá sớm. Hiện nay,
hình thức này được rất nhiều nước ưa chuộng, đặc biệt là ở Châu Âu (thể hiện ở
80% hàng hóa xuất khẩu tham gia loại hình bảo hiểm này)
2
. Tuy nhiên, ở Việt Nam
đây vẫn còn là một hình thức bảo hiểm mới mẻ, chưa mấy phát triển. Việc thúc đẩy
hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh
nghiệp trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, phát triển mặt hàng và thị trường
xuất khẩu, yên tâm hơn khi thâm nhập các thị trường xuất khẩu nhiều rủi ro. Thị
trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Việt Nam hiện còn ở quy mô rất nhỏ và
hoạt động còn chưa đáng kể. Hiện nay, loại hình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu còn
chưa phát triển và mới chỉ ở dạng các sản phẩm bảo hiểm đơn giản. Số lượng doanh 2
/>1&c=cat22102007143106861


chế, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra cái nhìn tổng quát về loại hình bảo hiểm
tín dụng xuất khẩu, chứ chưa đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng cũng như 3

nghiên cứu các giải pháp nhằm phát triển lâu dài hoạt động này tại Việt Nam trong
tương lai.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiên với ba mục đích chính:
Thứ nhất, làm rõ các khái niệm về bảo hiểm, tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm tín
dụng xuất khẩu cũng như những đặc điểm cơ bản và vai trò của bảo hiểm tín dụng
xuất khẩu nhằm đưa lại cái nhìn tổng quan về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất
khẩu và kinh nghiệm của một số nước phát triển hoạt động này trên thế giới;
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng của hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời làm rõ những tồn tại và nguyên nhân
của những tồn tại trong việc áp dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam;
Cuối cùng, trên cơ sở các phân tích trên, sẽ đưa ra những dự báo, định hướng
phát triển cùng với giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của hình thức bảo hiểm tín
dụng xuất khẩu, vốn còn rất mới mẻ tại Việt Nam này trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở
Việt Nam, đặc biệt đi sâu phân tích kinh nghiệm của một số nước được coi là có
hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu phát triển mạnh trên thế giới, qua đó rút ra
những bài học cũng như ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế đến cách thức, quy mô của
hoạt động này trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
của các doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2005 trở lại

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
Chƣơng 2: Thực trạng về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp kiến nghị để phát triển và nâng cao hiệu
quả thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Việt Nam trong thời gian tới. 5

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TÍN
DỤNG XUẤT KHẨU

1. Tổng quan về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
1.1. Tổng quan về hoạt động tín dụng xuất khẩu
1.1.1. Khái niệm về tín dụng xuất khẩu
Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyển sử dụng vốn từ người cho vay sang
người đi vay trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định (được
gọi là lãi vay).
Dựa trên khái niệm tín dụng nêu trên, có nhiều cách thức để phân chia hoạt
động tín dụng thành các loại khác nhau như: tín dụng thương mại, tín dụng thuê
mua, tín dụng tiêu dùng…Tuy nhiên phạm vi đề tài chỉ đề cập đến tín dụng xuất
khẩu. “Tín dụng xuất khẩu” là khoản tín dụng dùng để hỗ trợ cho hoạt động xuất
khẩu, cụ thể là khoản tín dụng của người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu hoặc
khoản cho vay trung và dài hạn mà ngân hàng dùng để tài trợ cho các dự án và cung
cấp vốn cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa.
1.1.2. Phân loại tín dụng xuất khẩu
1.1.2.1. Căn cứ vào chủ thể cấp tín dụng
a. Nhà nước cấp tín dụng xuất khẩu

thanh toán số nợ đó bằng chuyển tiền, chuyển séc hoặc bằng kỳ phiếu trả tiền ngay
cho nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng.
c. Tín dụng do nhà xuất khẩu cấp
Lấy thời điểm chuyển giao hàng hoá làm mốc, tín dụng do nhà xuất khẩu cấp
hàm ý người bán (hay nhà xuất khẩu) giao hàng trước và thu tiền sau, hay nói cách
khác, người bán cung cấp cho người mua (hay nhà nhập khẩu) một khoản tín dụng
theo sự thoả thuận giữa hai bên. Ngoài ra, tín dụng do nhà xuất khẩu cấp có thể hiểu
là tín dụng dưới hình thức nhà xuất khẩu bán chịu, nhà nhập khẩu trả chậm với lãi
suất ưu đãi mà người xuất khẩu dành cho người nhập khẩu.
d. Tín dụng do nhà nhập khẩu cấp
Tín dụng do nhà nhập khẩu cấp được hiểu là nhà nhập khẩu phải trả cho nhà
xuất khẩu toàn bộ hoặc một phần tiền hàng trước khi nhà xuất khẩu chuyển giao
hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua hoặc trong khoảng thời gian từ khi
nhà xuất khẩu chấp nhận đơn hàng cho đến trước khi nhà xuất khẩu thực hiện đơn 7

hàng của nhà nhập khẩu. Việc ứng trước tiền phụ thuộc vào tầm quan trọng của
hàng hoá, thời hạn sản xuất của hàng hoá, mối quan hệ giữa các bên giao dịch và
tập quán trong ngành buôn bán có liên quan. Số tiền ứng trước chính là khoản tín
dụng mà nhà nhập khẩu cung cấp cho nhà xuất khẩu. Do được cấp tín dụng nên vị
thế tài chính của nhà xuất khẩu được củng cố, đồng thời nhà xuất khẩu chắc chắn
bán được hàng.
1.1.2.2. Căn cứ vào quy trình xuất khẩu
a. Tín dụng trước khi giao hàng (trước xuất khẩu)
Loại tín dụng ngân hàng này cần cho người xuất khẩu để đảm bảo các khoản
chi phí sau:
- Mua nguyên vật liệu;
- Sản xuất hàng xuất khẩu;

sự bảo lãnh đối với hầu hết các dịch vụ xuất khẩu một cách gián tiếp. Điều đó cũng
phụ thuộc vào khả năng và uy tín của người xuất khẩu.
1.1.2.3. Căn cứ vào sự đảm bảo
a. Tín dụng xuất khẩu có bảo đảm
Là hình thức cấp tín dụng nhằm phục vụ, liên quan đến hoạt động xuất khẩu
dựa trên cơ sở các đảm bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của
một bên thứ ba nào khác, có thể là ngân hàng hoặc Nhà nước. Nếu xảy ra rủi ro đối
với khoản tín dụng trên thì bên thứ ba sẽ phải chịu trách nhiệm.
Thông thường Nhà nước phát hành bảo lãnh dưới hai hình thức là bảo lãnh
trước ngân hàng cho nhà xuất khẩu và bảo lãnh trước khoản tín dụng mà nhà xuất
khẩu thực hiện cấp cho nhà nhập khẩu. Trong khi đó, các ngân hàng phát hành bảo
lãnh cho bên nhận bảo lãnh nhằm cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trong
trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của
mình khi đến hạn hoặc bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của
khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết.
b. Tín dụng xuất khẩu không có bảo đảm
Là hình thức cấp tín dụng có liên quan hoặc nhằm phục vụ hoạt động xuất
khẩu mà không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba và chỉ dựa
vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.

9

1.2. Tổng quan về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
ngày, dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng chúng ta vẫn có nguy cơ gặp
phải rủi ro bất ngờ xảy ra, ảnh hưởng đến tình hình tài chính cũng như ảnh hưởng

của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có cũng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân
tán hậu quả tài chính của những tổn thất, hoạt động bảo hiểm luôn gắn chặt, xoay
quanh việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm. Nguồn thu hình thành quỹ bảo
hiểm càng lớn khi số lượng người tham gia bảo hiểm càng đông. Số người tham gia
bảo hiểm lớn hơn rất nhiều so với số người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro.
Quỹ bảo hiểm trước hết và chủ yếu được sử dụng để bù đắp những tổn thất cho
người được bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro được bảo hiểm. Ngoài ra, quỹ bảo hiểm
còn được sử dụng để trang trải cho một số chi phí khác. Đối với người tham gia gặp
phải rủi ro thì phí bảo hiểm nhỏ hơn rất nhiều so với số tiền bồi thường.
Vai trò của bảo hiểm là hết sức to lớn đối với sự ổn định và phát triển của nền
kinh tế, xã hội. Bảo hiểm có nhiều lợi ích khác nhau, trong đó phải kể đến những
tác dụng quan trọng sau đây:
Ổn định kinh doanh và đời sống bằng cách hạn chế rủi ro và mức độ tổn
thất xảy ra: Bảo hiểm bồi thường những thiệt hại về tài chính do rủi ro bất ngờ gây
nên. Từ đó giúp mỗi cá nhân, mỗi tổ chức hay doanh nghiệp khôi phục lại điều kiện
kinh tế ban đầu, ổn định sản xuất kinh doanh và chính sự ổn định của mỗi cá nhân,
mỗi tổ chức sẽ tạo ra sự ổn định chung cho toàn xã hội. Đây có thể coi là vai trò
quan trọng nhất của bảo hiểm xét trên phạm vi vĩ mô của nền kinh tế. Các công ty
bảo hiểm sẵn sàng thanh toán các chi phí hợp lý đối với người thứ ba tham gia hạn
chế tổn thất, vì vậy sẽ khuyến khích mọi người tích cực tham gia cứu chữa, do đó sẽ
hạn chế được tổn thất có thể xảy ra.
Góp phần tăng tỷ lệ tiết kiệm trong xã hội và phát triển thị trường tài chính,
đặc biệt là thị trường chứng khoán: Đứng trên góc độ của toàn nền kinh tế quốc
dân, mỗi một cá nhân hay tổ chức khi tham gia bảo hiểm cũng có nghĩa đã thực hiện
tiết kiệm để tăng tích luỹ vốn đầu tư phát triển nền kinh tế. Với việc thu phí bảo
hiểm theo nguyên tắc ứng trước, các công ty bảo hiểm chiếm giữ một quỹ tiền tệ
tạm thời nhàn rỗi rất lớn của người tham gia bảo hiểm, thể hiện cam kết của họ đối
với người tham gia bảo hiểm này. Do vậy, các công ty bảo hiểm có thể sử dụng số
tiền nhàn rỗi này đầu tư sinh lời mua trái phiếu, cổ phiếu, gửi tại ngân hàng hoặc


người mua không thể thanh toán được khoản tín dụng (chiến tranh, khủng bố, đình
công…). 3
Frederic S. Mishkin, Columbia University: “The Economics of Money, Banking, and Financial Markets”,
Third Edition, Harper Collins Publishers, New York 1992. 12

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được khuyến khích sử dụng cho những hợp đồng
chấp nhận phương thức thanh toán ghi sổ hoặc trả chậm, và các hoạt động tài trợ
vốn lưu động xuất khẩu.
Phạm vi bảo hiểm của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu bao gồm các khiếu nại tổn
thất do không thanh toán những khoản phải thu, phát sinh từ hoạt động buôn bán
hoặc những khoản cho vay trung - dài hạn khi có các rủi ro chính trị hay kinh tế như
đã trình bày ở trên.
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được chia thành 2 loại:
 Ngắn hạn: có thời hạn 12 tháng, là loại bảo hiểm cam kết bù đắp một tỷ lệ
phần trăm nhất định giá trị hóa đơn khi xảy ra rủi ro kinh tế hoặc chính trị dẫn đến
việc người mua không trả được tiền. Phần trăm bù đắp rủi ro thường dao động từ
80-95% tùy theo từng đối tượng cung cấp bảo hiểm (các công ty bảo hiểm tư nhân
hoặc các ngân hàng xuất nhập khẩu của từng quốc gia).
 Trung – dài hạn: bù đắp một tỷ lệ phần trăm nhất định giá trị hợp đồng
ròng, thường đối với những hợp đồng máy móc hoặc vốn lớn có thời hạn trên 1 năm
đến 10 năm, tùy quy định của từng công ty cung cấp bảo hiểm.
Hình 1: Sơ đồ quy trình hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đơn giản
khẩu.
(4) Nhà xuất khẩu thoả thuận các điều kiện và cam kết với Ngân hàng cho vay.
(5) Thoả thuận cho vay giữa Ngân hàng cho vay và nhà nhập khẩu được ký
kết. Số tiền cho vay chính bằng giá trị lô hàng trong hợp đồng xuất nhập khẩu.
(6) Ngân hàng cho vay thanh toán cho nhà xuất khẩu giá trị lô hàng được mua
bán.
(7) Nhà nhập khẩu phải trả cho Ngân hàng cho vay số tiền đã vay (giá trị lô
hàng sau khi trừ đi số tiền đảm bảo ban đầu, nếu có) và tiền lãi.
Nhà nhập
khẩu
Khoản bảo đảm
(nếu có)

Ngân hàng cho
vay
Tổ chức tín dụng
xuất khẩu
(1) Hợp đồng xuất
nhập khẩu (2) Đảm bảo
thanh toán
(nếu ngân
hàng cho vay
yêu cầu)
(7) Lãi suất
(6) Thanh toán
lô hàng bằng số
tiền cho vay

hơn hoặc không thể thanh toán sau một thời gian đã được quy định trong bảo hiểm.
Khoảng thời gian này được tạm gọi là thời gian chờ. Thông thường thời gian chờ
kéo dài 6 tháng sau ngày hết hạn của hóa đơn.
Mặt khác, thông thường do tỷ lệ bảo hiểm thấp hơn 100% nên người mua bảo
hiểm vẫn phải chịu một phần rủi ro phát sinh, đôi khi yêu cầu bồi thường bị khước
từ khi không thích ứng được với những yêu cầu cụ thể trong quy định hợp đồng bảo
hiểm.
Ưu điểm của nguyên tắc này là giảm rủi ro khi người nhập khẩu không thanh
toán, đảm bảo sự chủ động và yên tâm của người xuất khẩu trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình đồng thời giúp tăng độ an toàn của phương thức thanh
toán ghi sổ/trả chậm trên thị trường toàn cầu.
Ngày hóa
đơn hết hạn
Ngày giao
hàng
Chính thức xác định
về khả năng không thể
thanh toán
Thời gian
chờ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status